TỔ QUỐC

29 August 2015

Chết không thương:Có về VN chớ dại mà ăn trái cây

Trái cây vốn là loại hoa quả ưa thích của nhiều người trên khắp thế giới vì những lợi ích sức khỏe mà nó mang lại. Tuy nhiên, trái cây ở VN đang bị tắm trong hóa chất độc hại với mục đích giữ cho chín lâu hoặc chín ép khiến sức khỏe của người tiêu dùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Có về VN, chớ dại mà ăn trái cây!



Câu chuyện những công nhân ở huyện Krông Pắk (Đắk Lắk) ngất xỉu vì ảnh hưởng trong quá trình nhúng sầu riêng vào hóa chất làm chín trái cây, một lần nữa làm hàng ngàn bạn đọc lo lắng, đặt câu hỏi về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ngày nay. Sau thịt lợn bị tiêm thuốc an thần, rau củ quá tàn dư hóa chất độc hại, sầu riêng bị nhúng hóa chất để làm chín sẽ là gì?
Thạc sĩ Bùi Thị Minh Thủy, giảng viên khoa công nghệ hóa học và thực phẩm Đại học Nguyễn Tất Thành, TP.HCM, cho biết bằng mắt thường rất khó phân biệt trái cây chín cây và trái cây chín bằng cách tiêm hóa chất. Tuy nhiên, dựa vào những kinh nghiệm có được, cô Minh Thủy cho biết có thể nhìn vào màu sắc và hình dáng của quả để phán đoán. “Ví dụ như chuối, chuối ủ thường có màu sắc rất đẹp, căng bóng, trong khi chuối chín tự nhiên thì màu hơi lem nhem, da không bóng. Sầu riêng hay mít thì nên chọn loại gai nở, mắt nở.
Mít chín tự nhiên sẽ có vị ngọt, mít chín bằng cách ngâm hóa chất thì không ngọt được như vậy. Sầu riêng cũng vậy, nếu chín bằng cách ngâm hay tiêm hóa chất để chín liền thì múi sầu riêng sẽ không mềm, ăn vào hơi sượng sượng”, cô Thủy chia sẻ.
Bên cạnh đó, nếu bơm liều lượng lớn vào trái cây thì ethephon có thể kết hợp với nitrate có sẵn trong trái cây và tạo ra ethylene glycol dinitrate. “Ngưỡng an toàn của ethylene glycol dinitrate thấp hơn của ethephon và có thể gây ra các triệu chứng về tim mạch như tim đập nhanh, loạn nhịp tim hoặc nhức đầu, chóng mặt và thậm chí là ảnh hưởng gan, mật”, bác sĩ Phương nói.

vlh@ sưu tầm
--

Người khác có thể tự hào và thấy vinh dự vì họ xuất thân từ một nước châu u hay châu Mỹ. Ở châu Á người ta cũng có thể vênh mặt vì mình là người Singapore. Còn tôi, tôi xấu hổ vì mang cái mác VIETNAMESE.


Ở cái đất nước thiên đường XHCN sắp vỡ nợ này, người ta nghĩ ra đủ thứ để thu tiền, mới nhất là Trung tâm bản quyền âm nhạc đang nghĩ tới việc thu phí tác quyền bài hát "Tiến quân ca" - Quốc ca của Việt Nam. Giờ hát quốc ca thể hiện tình yêu với đất nước cũng phải trả tiền. Quá đỗi khôi hài và đầy mỉa mai.

28 August 2015

CHỮ QUỐC NGỮ LÀ NIỀM HÃNH DIỆN CỦA NGƯỜI VIET NAM


Tôi là người ngoài Công giáo, nhưng rất tôn trọng các tín ngưỡng.
Những xung đột giữa cộng đồng Công giáo với nhà cầm quyền trong thời gian qua là điều không đáng có. Hơn thế, sau những xung đột đó, một số cán bộ có chức sắc đã có những đánh giá thiếu khách quan về vai trò của giáo dân với đất nước. Điều này không có ích cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Để tạo được sự đồng thuận, không có cách nào khác là phải có cái nhìn khách quan về vai trò của các tôn giáo. Xin được điểm qua một vài cống hiến của bà con giáo dân với sự nghiệp chấn hưng nước nhà mà tôi có dịp chứng kiến suy ngẫm.

1-  Chữ quốc ngữ và nền văn minh của nhân loại
image


CHỮ QUỐC NGỮ LÀ NIỀM HÃNH DIỆN CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO
Trước khi các nhà truyền giáo vào Việt Nam , hàng ngàn năm qua, người Việt vẫn dùng chữ Hán hoặc bằng chữ Nôm trong các giao dịch. Nhưng đa số người Việt Nam mù chữ và không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì hệ thống chữ viết này quá phức tạp.

Từ thế kỷ XVI, cùng với các phát kiến hàng hải, các nhà truyền giáo theo các tàu buôn đến Việt Nam , họ là người tiên phong trong việc dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Đầu năm 1625, Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam , đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi.
image
Trên cơ sở đó, Alexandre de Rhodes (1591- 1660) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cách diễn đạt này, để rồi năm 1651, lần đầu tiên ông cho xuất bản cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA tại Roma. Đây được coi là năm sinh chính thức của chữ Quốc Ngữ. Cuộc khai sinh diễn ra tại nhà in Vatican . Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận được chữ viết của mình. Như vậy, chữ quốc ngữ từ chỗ là công cụ truyền giáo trong các nhà thờ, đã từng bước trở thành ngôn ngữ cho toàn dân Việt Nam .

Ngày nay, không ai có phủ nhận sự thuận tiện và văn minh của chữ Quốc ngữ, chính nó đã góp phần lớn đưa đất nước VN hội nhập với thế giới dễ dàng, đơn giản hơn nhiều ngôn ngữ khác. Những ngôn ngữ chính dùng trên thế giới như Tiếng Anh, Tiếng Pháp… sẽ trở nên ít phức tạp hơn cho người học biết chữ quốc ngữ, so với người dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Nhưng nguồn gốc và công lao của người sinh ra ít được người ta nhắc đến, đó là sự thiếu công bằng.

image 
Cùng với sự xuất hiện chữ quốc ngữ, những nét văn minh phương Tây cũng dần dần được du nhập vào VN đi kèm với Công giáo. Những hủ tục mê tín, dị đoan như cúng tế, bói toán… khi có bệnh được thay vào đó là bệnh viện, nhà thương bố thí, trường học cho người nghèo… Trước đây, nơi nào có Nhà thờ, thì ở đó có thêm trường học, nhà thương cho những người không có khả năng chữa bệnh hoặc học hành.

Ngoài ra, nếp sống quan niệm về cuộc sống cũng dần dần được đưa vào một cách khoa học, thiết thực hơn bởi các sản phẩm văn minh phương Tây mà những người truyền giáo mang đến cho đất nước An Nam theo bước chân truyền đạo của họ.

Nền văn hóa làng xã, cục bộ địa phương “sau lũy tre làng” cũng dần dần được thay đổi với cách nhìn toàn diện và tổng thể hơn. Với người Công giáo, bất cứ chỗ nào có giáo dân cũng là anh em, với mọi người đều là con Thiên Chúa dù khác đạo. Điều này dễ chứng minh nếu nhìn thấy bà con công giáo khắp nơi đã đổ về Thái Hà, về Xã Đoài… khi có những biến cố mà về mặt xã hội thì không liên quan đến những người ở xa xôi.

image
Những hoạt động của các Dòng tu trong Công giáo như Dòng Chúa Cứu Thế với linh hướng phục vụ người nghèo, Dòng Phanxicô theo linh hướng “Sống với tinh thần nghèo khó”… đã có những tác dụng thiết thực xoa dịu nỗi đau của những người nghèo khổ trong xã hội. Nhìn những cộng đồng tu hành phục vụ tại các trung tâm điều dưỡng, điều trị cho bệnh nhân AIDS, phục vụ những người đang vướng vào tệ nạn xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côi… đã thể hiện rõ điều này và được xã hội công nhận.
2-  Duy trì nền kinh tế nhiều thành phần

image
Thời bao cấp, do quan niệm thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế chỉ có hai thành phần chính là Kinh tế tập thể và Kinh tế quốc doanh. Mọi thành phần khác đều không được khuyến khích và chính thức thừa nhận.

Ruộng đất, các tư liệu sản xuất quan trọng khác và cả các loại hình dịch vụ đều phải tập trung vào hợp tác xã. Nhưng phong trào Hợp tác hóa nông nghiệp đã dần dần thể hiện rõ những bất cập của nó và sớm chết yểu bởi nó đi ngược với quy luật kinh tế và cách nghĩ truyền thống của nông dân Việt Nam .  Chính vì thế có thể nói đó là một mô hình công xã ảo tưởng, nó đã tiêu diệt nền kinh tế nông nghiệp VN từ chỗ thừa gạo xuất khẩu đến một giai đoạn từ Trung ương đến địa phương, từ quan chức đến mỗi người dân đều chỉ lo… cái đói.

image
Giám mục Đinh Đức Trụ
Tuy nhiên, nhiều nơi, đặc biệt là các vùng Công giáo vẫn có những gia đình, thậm chí là có những cơ sở không gia nhập Hợp tác xã nông nghiệp dù bị nhiều áp lực xã hội. Chẳng hạn theo tôi được biết, ở Thái Bình, Giám mục Đinh Đức Trụ là người đã công khai khuyến khích giáo dân không nên vào Hợp tác xã vì nó chỉ là ảo tưởng. Vì vậy bà con giáo dân vẫn kiên trì mô hình kinh tế hộ, và sau này vào thời kỳ đổi mới, đường lối đó được thực tế chứng minh là đúng đắn. Cả đất nước sau mấy chục năm Hợp tác hóa đã chấp nhận trở lại kinh tế cá thể.

Những hộ kinh tế cá thể không tham gia Hợp tác xã nông nghiệp, tự họ có thể nuôi sống mình mà không cần trợ giúp của nhà nước. Hơn thế, họ còn có nông sản dư thừa cung cấp cho thị trường đã là minh chứng sống cho việc khẳng định đường lối Hợp tác xã nông nghiệp là sai lầm. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách mạnh dạn khẳng định chủ trương chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
image
Thời kinh tế tập trung, mọi thứ hàng hóa đều do nhà nước quản lý và đều chịu sự phân phối từ trung ương xuống địa phương. Trong khi nhu cầu là sự đa dạng mà nhà nước thì không thể quán xuyến hết nên trong một thời gian thực thi chính sách này, nền kinh tế dần dần đi vào ngõ cụt, đời sống đói kém, hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng. Thế nên dân gian mới có câu: “Cái cứt gì cũng phân mà phân thì… như cứt”.

Khi sự đói kém bao phủ toàn xã hội thì ở những làng công giáo, đời sống đỡ tệ hơn nhiều. Làng Vĩnh Hòa thuộc xã Hợp Thành, quê tôi là một làng như vậy. Vào thời điểm đó, trong cộng đồng bà con công giáo, nền kinh tế gia đình vẫn âm thầm phát triển, đặc biệt là các nghề truyền thống. Do bị phân biệt đối xử nên cộng đồng bà con công giáo vẫn ngầm “móc ngoặc” nhau sản xuất hàng hóa và tiêu thụ trong cộng đồng rồi tuồn ra bên ngoài. Sau này tìm hiểu được biết thêm, không chỉ ở làng Vĩnh Hòa quê tôi mà cả các khu vực khác đông đồng bào Công giáo như Phát Diệm, Bùi chu… các ngành nghề phụ vẫn âm ỉ hoạt động và cung ứng hàng hóa cho xã hội.
image
Nhờ sự linh hoạt đó, nên khu vực kinh tế tư nhân mà nhà cầm quyền quyết tâm tiêu diệt đã không chết. Đặc biệt là trong cộng đồng Công giáo. Để rồi, khi dỡ bỏ chính sách cấm đoán đó, thành phần kinh tế này được dịp trỗi dậy, làm sinh động của nền kinh tế.

Hiện tượng này vẫn được đảng ta gọi là: “Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo”
3-  Tiên phong hội nhập

So với các tôn giáo khác, Công giáo là cộng đồng dân cư đa sắc tộc, đa quốc nhất. Trải dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam , hơn 175 nước và vùng lãnh thổ có bà con Công giáo sinh sống, nhưng tập trung một tỷ lệ lớn nhất ở các nước phương Tây. Chính vì sợi dây liên lạc này, nên ngay cả khi cấm đoán đang ở vào thời điểm cao trào thì cộng đồng Công giáo vẫn duy trì liên lạc với các tín hữu của mình ở ngoài biên giới quốc gia.

http://baomai.blogspot.com/
Những công trình Công giáo nguy nga, rộng lớn dành cho việc thờ tự đã là một nét văn hóa không thể tách rời từ lâu của nền văn hóa Việt Nam . Việc xây dựng các công trình đó đã đem đến cho Việt Nam những quan niệm ban đầu về một lĩnh vực mới về kiến trúc và xây dựng hiện đại… thoát ra khỏi những quan niệm xây dựng tranh tre lá nứa hoặc vôi cát từ lâu đã in sâu đậm trong quan niệm người Việt.

Cùng với đó, những nhà truyền giáo ngoại quốc vào Việt Nam khiến nhu cầu học tập ngôn ngữ nước ngoài cũng đã dần dần xuất hiện và cổ vũ cho sự tìm hiểu thể giới bên ngoài bắt đầu từ những cá nhân trong chính Công giáo như Nguyễn Trường Tộ…

image

Nguyễn Trường Tộ – một người Công giáo hết lòng vì đất nước – sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu
Việc sinh hoạt cộng đồng đã từng bước thay đổi cách sinh hoạt truyền thống của người Việt. Cùng kiến trúc là âm nhạc, hội họa là những môn nghệ thuật mới tạo ra sự khác biệt trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt xưa. Thông qua những sinh hoạt như vậy, người Việt Nam vượt qua được chính những định kiến, những tư tưởng cục bộ địa phương… đó được coi là những mầm mống đầu tiên cho sự hội nhập của đất nước sau này.

image
Cũng cần nói thêm, cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam năm 1954 hầu hết là bà con Công giáo. Sau năm 75, là cuộc di tản vĩ đại sang các nước không cộng sản, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là bà con Công giáo. Một tỷ lệ lớn người Việt ở Mỹ là bà con Công giáo. Họ là người có điều kiện tiếp cận với thể chế văn minh, dân chủ phát triển ở trình độ cao.

Khi nhà nước Việt Nam mở cửa, họ là những người đầu tiên về nước hoặc là gửi ngoại tệ về giúp thân nhân ở trong nước. Cùng với đó là hàng hóa, dịch vụ... Điều này giúp cho Việt Nam giảm căng thẳng về sự khan hiếm kéo dài trong những năm bao cấp. Hơn thế là cách thức tổ chức làm ăn, cách thức tổ chức đời sống và ý thức chấp hành pháp luật của một xã hội pháp quyền.


image
Có thể nói, cộng đồng công giáo là những người tiên phong hội nhập.

Trên đây là những cảm nhận được của riêng tôi, có thể các bạn có những phát hiện khác, xin mời có ý
kiến tham gia!  


Phan Thế Hải

27 August 2015

CÔNG CHA NGHĨA MẸ ƠN THẦY


Ngày xưa, khi đi học, từ bậc Tiểu học cho tới Trung Học Đệ Nhất Cấp, chúng ta có một môn học gọi là “Công Dân Giáo Dục”, dạy về cách làm người.
Khởi đầu, chúng ta học:
Công Cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra,
Một lòng thờ Mẹ kính Cha,
Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con. ”
Có nghĩa là, công lao của cha mẹ từ lúc sinh ra người con, tới lúc dạy dỗ tạo dựng cho người con trở nên người hữu dụng với xã hội rất là cao quý, cao như ngọn núi Thái Sơn (nằm ở tỉnh Sơn Đông, bên Tàu, cao 1545m), nhiều như là nước ở trong nguồn chảy ra (không bao giờ dứt). Mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái luôn luôn được giữ ở vị thế tốt đẹp nhất: Cha mẹ nuôi dạy con, con cái vâng lời và thờ cúng cha mẹ.
Sau đó, chúng ta học câu văn:
“Con không Cha như nhà không nóc,
Con không mẹ liếm lá đầu đường. ”
Nghĩa là, nếu không có cha dạy dỗ, vỗ về, che chở, người con sẽ bị bơ vơ lạc lõng như là cái nhà mà không có nóc. Nếu không có mẹ cực khổ cưu mang nuôi nấng ẵm bồng, người con sẽ bị đói khổ, chỉ còn cách ra ngoài đường nhặt lá cây mà liếm những hạt sương rơi còn đọng trên đó.
 
Vào thời điểm trước năm 1975, khi nước Việt Nam của chúng ta còn đang bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm, đa số những người cha phải tòng quân bảo vệ tổ quốc, người mẹ ở hậu phương phải tảo tần buôn bán thêm để phụ vào tiền lương lính eo hẹp của người cha, nên cha mẹ ít khi có dịp ngồi lại với nhau mà bàn cãi về việc học hành của con cái. Hơn nữa, những đứa con trong thời chinh chiến, một số phải phụ với mẹ trong việc buôn bán, số còn lại thì phải cố mà tự học nên thân. Do đó, vấn đề học hành của con cái không được đặt ra nhiều cho lắm.
Kể từ khi chúng ta sinh sống ở ngoại quốc, đa số những bậc cha mẹ phải làm việc cực nhọc với những công việc dùng sức lực và chân tay, nhưng không ai nề hà gì cả. Vì tất cả chúng ta đều nghĩ rằng, mình ráng làm việc để có tiền nuôi cho con được ăn học đầy đủ, có một nghề khá giả, làm rạng danh cho gia đình nói riêng và cộng đồng tỵ nạn nói chung, nói rõ ràng ra là để cho chúng nó khỏi bị cực nhọc như mình.
 
Một số những bậc cha mẹ đãước mong, con cái mình sẽ trở thành, nếu không phải là Bác sĩ, Kỹ sư...thì cũng phải là Luật sư, Nha sĩ, Kế toán...
Đường đời thay đổi, không ai biết được tương lai ngày sau,
Đôi khi, vì những thay đổi trong cuộc sống, mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái đã bị thay đổi.
Đôi khi, vì những ước mơ của cha mẹ trở thành quá khó khăn với con cái, đưa đến những xung khắc, đem lại những kết quả tang thương.
 
Những va chạm giữa cha mẹ và con cái xảy ra nhiều nhất là do những vấn đề như sau:
·         Việc học hành của con cái,
·         Dựng vợ gả chồng cho con,
·         Vấn đề tài chánh của cha mẹ và con cái.
 
Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu từng vấn đề đó.
 
VIỆC HỌC HÀNH CỦA CON CÁI
 
Cha mẹ, ngoài nhiệm vụ nuôi dạy con cái, còn cho con cái những lời khuyên hữu ích khi chọn nghành học và khi con cái trưởng thành, bước chân ra đời.
Cha mẹ, vì kinh nghiệm trong cuộc sống, sẽ biết nghề nào hữu dụng cho xã hội, nghề nào hợp với tính nết và năng khiếu của người con, sẽ cho con cái những lời khuyên thật hữu ích, để người con căn cứ vào đó mà chọn nghành học thích đáng.
Người con, có thể cho rằng, cha mẹ mặc dù có kinh nghiệm trong cuộc sống, nhưng những kinh nghiệm đó chỉ là cái nhìn từ một góc độ nào đó trong phạm vi hiểu biết của họ mà thôi, trong khi xã hội đã thay đổi nhanh hơn, khác hơn, vì những tiến bộ của kỹ thuật, khoa học...nên đã không đi theo lời khuyên của cha mẹ, mà tự chọn lựa nghành học theo ý của mình, theo lời khuyên của thầy cô hoặc của bạn bè.
Từ đó, xung khắc đã xảy ra. Chúng ta hãy theo dõi hai bi kịch vừa mới xảy ra trong Cộng Đồng Người Việt:
 
NGUYỄN LÂM SƠN VÀ MẸ (NGUYỄN THU NƯƠNG) – SANTA ANNA US:
Sơn bị buộc tội bóp cổ mẹ mình đến chết. Lý do: Bị mẹ bắt học Y Khoa.
Sơn, 31 tuổi, vốn là đứa con ngoan, biết vâng lời, ít khi rời xa mẹ. Bà Nguyễn Thu Nương là bậc cha mẹ luôn tận tụy nuôi con, ước mơ được thấy đứa con đầu lòng của mình lớn lên trở thành một bác sĩ.
Gia đình của Nguyễn vượt biên và được định cư tại Mỹ từ năm 1983, ngụ ở San Diego. Lúc đó, Sơn được 5 tuổi và Hải, em trai, hai tuổi. Mẹ của Sơn là bà Nguyễn Thu Nương, Dược sĩ, và cha là Nguyễn Thịnh, chuyên viên về nghành Điện.
Năm 2000, cha mẹ Sơn ly dị, dọn ra ở riêng, Hải theo cha, còn Sơn theo sống với mẹ.

Bà Nương muốn ít nhất bà phải có một người con làm bác sĩ. Hải không thể thực hiện được như ý của mẹ, vì anh không muốn làm bác sĩ hay dược sĩ, nên đã chọn môn Tâm Lý Học và đã có bằng Cao Học Về Tâm Lý. Sơn học ngành sinh vật ở trường University of California, Irvine. Sau đó, anh theo học hai năm ở trường Dược tại Massachusetts, rồi chuyển sang học Y khoa tại Ross University, ở Caribbean. Bà Nương hy vọng Sơn sẽ là bác sĩ, nên bà đã dọn sang sống chung với con ở Dominican để được gần bên Sơn. Anh mượn nợ để đi học và bà cũng giúp đỡ anh thêm về mặt tài chính. Ban đầu, Sơn học Dược, nhưng sau đó, bỏ qua học Y.
Vào năm 2008, Sơn rời trường Y và cùng mẹ dọn về Garden Grove. Tại đây, Sơn muốn tiếp tục học Dược, vì anh chỉ còn một năm nữa là xong, trong khi học Y, anh phải còn lâu lắm mới tốt nghiệp, nhưng bà Nương không đồng ý. Trong lời khai khi được thẩm vấn, Sơn cho biết: “Theo văn hóa nước tôi, cha mẹ nào cũng kỳ vọng con cái làm theo lời họ. Nếu con cái tuân theo lời thì mang lại vinh dự cho gia đình; ngược lại, chỉ làm mất mặt và coi như đồ bỏ. ”
 
“Vào buổi chiều ngày 21 tháng 12 năm 2008, khi tôi đang ngồi viết email thì mẹ tới nói chuyện với tôi, bà hỏi tôi có còn tiếp tục theo đuổi ngành Y nữa chăng?
Tôi trả lời là muốn trở lại trường Dược vì chỉ còn một năm nữa là hoàn tất. Mẹ tôi không bằng lòng, nói rằng tôi phải trở thành bác sĩ, để bà hãnh diện với bạn bè.
Tôi đã trả lời mẹ:
“Sao mẹ không để cho con đi theo hướng con thích? Cái gì quan trọng với mẹ hơn, bạn bè của mẹ hay hạnh phúc của con mình?’”

 

Thế là hai mẹ con lớn tiếng cãi nhau. Sơn khai với cảnh sát là anh đã mất bình tĩnh, đãđặt hai tay lên cổ mẹ mà bóp mạnh, một lúc sau anh buông tay ra, thấy mẹ ho khan mấy tiếng rồi gục xuống, anh sợ quá, bỏ chạy ra khỏi phòng vào trong xe đóng cửa lại vả ở đó suốt đêm. Sáng hôm sau khi trở vào thì mẹ anh đã chết. Anh gọi cảnh sát và bị bắt.
Luật sư Rob Harley nhận biện hộ cho Sơn, cho rằng đây chỉ là trường hợp Ngộ Sát, xảy ra trong cơn nóng giận.
Phó Biện Lý Cameron Talley lại cho rằng Sơn sẽ bị buộc tội sát nhân (Deputy District Attorney Cameron Talley believes Son should be convicted of murder.)

Trong lời khai thứ năm, bác sĩ pháp y Anthony Juguilon làm chứng rằng bà Nương chết vì bị một cơn đau tim, nguyên nhân là do bị bóp cổ.
 
Bồi Thẩm Đoàn, sau hai ngày luận tội, đã đưa ra phán quyết là Sơn đã phạm tội ngộ sát (A jury in March convicted him of the lesser charge of voluntary manslaughter.)
Trong phiên xử ngày 04/06/2010, Chánh ánJohn D. Conley của Orange County Superior Court Judge đã kết án Nguyễn Lâm Sơn 6 năm tù vì tội ngộ sát mẹ.
(Trích từ The Orange County Register).
Vụ án của Sơn đã kết thúc. Nhưng với chúng ta, chúng ta nghĩ sao?
Bà Nương, với tư cách là mẹ, có quyền được hãnh diện vì con, và điều hãnh diện của bà là muốn có con là bác sĩ.
Sơn, với địa vị người con, cũng muốn chiều lòng mẹ, nhưng trên thực tế, anh chỉ muốn học Dược thôi, vì ngành này thích hợp với anh, và chỉ còn một năm nữa là ra trường, có thể đi làm nuôi mẹ già, lúc đó đã 71 tuổi rồi. Anh cũng đã trình bày với mẹ, nếu anh quay trở lại học Y, anh sẽ phải mất ít nhất là sáu năm nữa, thời gian này quá dài với anh, đó là chưa kể anh có thể bị rớt một hai năm.
 
Bà Nương và anh Sơn đều có lý do biện minh cho ý muốn của mình.
Nếu bà Nương bớt giận một chút, để hiểu cho người con là nó đi làm là để xây dựng tương lai cho nó, chứ không phải để cho bà đem cái học của con cái ra đi khoe và hãnh diện với bạn bè. Nếu muốn hãnh diện, sự thành công của người con trong việc làm của nó mới là điều đáng hãnh diện.
 
Nếu Sơn bớt nóng giận đi một chút, anh có thể bỏ ra ngoài xe ngồi để lấy lại bình tĩnh rồi hãy vào thuyết phục mẹ. Nếu còn quá giận, anh có thể la hét, đập phá đồ đạc trong nhà cho hả giận, thay vì lại để tay lên cổ của mẹ mình mà bóp.
Tuy nhiên, khi chuyện đã xảy ra rồi, khi thấy mẹ mình vì bị mình xiết cổ mà bị nghẹt thở, Sơn đáng lý phải gọi điện thoại cho xe cấp cứu tới lo phục hồi sức khỏe của bà, thì anh lại đang tâm bỏ ra xe ngồi suốt đêm, mặc cho mẹ già chết vì nghẹt thở.
NẾU...VÀ NẾU...
 
JENNIFER PAN VÀ CHA (HUEI HANN PAN) MẸ (BÍCH HÀ PAN) CANADA.
Jennifer Pan, cô con gái bị buộc tội thuê người giết chết cha mẹ mình.
Lý do: Bị Cha mẹ bắt học Dược.
 
Vụ án này xảy ra từ năm 2008, nhưng chỉ được mọi người biết đến rõ ràng khi được phóng viên Karen Ko, cũng là bạn học thời Trung học của Jennifer, viết bài đăng lên báo Toronto Life, vào tháng 7 vừa qua.
Karen Ko cho biết, những năm đầu của chương trình Trung học, Jennifer là học sinh xuất sắc nhưng từ năm lớp 8, cô bắt đầu xao nhãng học hành, liên tục đạt điểm thấp.
 
 
 
 
Không muốn bố mẹ biết kết quả học tập sa sút, Jennifer tìm cách làm giả bảng điểm gửi về bố mẹ. Đến khi học xong lới 12, cô không được cấp bằng tốt nghiệp vì còn bị rớt một môn học, phải thi lại, cô lại làm giả bằng tốt nghiệp và giả luôn thơ mời học phân khoa Dược của Đại học Ryersonở Toronto. Do có kết quả tốt trong việc học hành, cha mẹ cô mua tặng cho cô nhiều vật dụng, gồm điện thoại di động, máy tính điện tử... Mỗi ngày, cô vẫn chào cha mẹ đi đến trường, nhưng thật sự là chỉ vào thư viện ghi chép những gì có thể ghi vào những cuốn sách học để cho cha mẹ thấy là cô đang học ở Đại học, sau đó, cô đến nhà của bạn trai là Daniel Wong ở đó tới chiều mới về. Cuối cùng, sau bốn năm “học hành” mà thực sự là không học gì cả, cô đã làm giả giấy báo tốt nghiệp của trường đại học. Đi xa hơn nữa, Jen nói với bố mẹ rằng cô sẽ làm tình nguyện ở khoa xét nghiệm máu, Bệnh viện SickKids. Công việc này khiến cô phải trực đêm vào các ngày thứ Sáu và cuối tuần, nên cô phải ngủ ở chỗ bạn nhiều hơn.
 
Ông bà Hann rất hãnh diện về cô con gái, tuy nhiên, ông bà hơi ngạc nhiên là Jen không hề có đồng phục và thẻ nhân viên của Bệnh viện SickKids. Đến một ngày, ông Huei đề nghị lái xe đưa Jan đi làm, khi cô xuống xe, bà Bích Hà lén đi theo để xem con gái làm ở phòng nào trong bệnh viện. Biết mình bị mẹ theo dõi, Jen trốn vào khu chờ đợi của bệnh viện, chờ ở đó cho đến khi bố mẹ rời khỏi bệnh viện, cô mới gọi điện thoại báo là tối nay phải làm việc trễ, nên sẽ ngủ qua đêm tại nhà một người bạn ở gần đó. Sáng hôm sau, bà Bích Hà thử gọi điện thoại cho người bạn gái của Jen, hỏi xem đêm qua cô có ngủ ở đó hay không? Người bạn trả lời là “Không”.
Khi Jen về nhà, ông bà Pan đã chận Jen lại, nói rõ cho cô biết là cô không có ngủ tại nhà của cô bạn gái đêm qua, và cô cũng không hề làm ở bệnh viện SickKids.
Tới lúc đó, Jen mới thừa nhận là mình không hề làm tình nguyện ở đây và cũng chưa từng học ngành Dược của Đại Học Toronto, mà cô tới ở chung với Daniel.
Khi biết rõ sự thật về cô con gái cưng, ông bà Pan buồn quá, nhưng không biết làm sao. Cuối cùng, họ chỉ hạn chế việc sử dụng điện thoại, internet và máy điện toán của Jen, rồi yêu cầu Jen ghi danh học lại môn học đã bị rớt để làm lại từ đầu.
 
Tức giận khi bị cha mẹ cấm đoán và ép học Trung học trở lại, Jen đã âm thầm lập mưu với bạn trai, nhờ anh ta tìm sát thủ để giết cha mẹ, hy vọng sẽ lãnh được tiền bồi thường nhân mạng của cha mẹ, mà sau khi chia đôi với anh trai, cô vẫn còn được hưởng US $500. 000
Daniel giới thiệu Jen với một trong các sát thủ là Lenford Crawford. Tên này chấp nhận sẽ hành động với giá 10. 000 USD.
Ngày 8-11-2010, Jennifer nhắn tin cho các hung thủ chỉ cách để họ vào nhà. Chúng làm bộ trói tay Jen vào cầu thang rồi đưa ông bà Pan xuống hầm nhà, bắn mỗi người nhiều phát đạn cho đến khi chúng tưởng ông bà đã chết, mới bỏ đi. Sau khi các hung thủ bỏ đi, Jen ở trên nhà làm bộ tự cởi trói, lấy điện thoại gọi cấp cứu, cô không ngờ rằng ông rút điện thoại gọi 911. Cô không thể ngờ là ông Huei đã may mắn vẫn còn sống sót, đã âm thầm lên lầu, và nhìn thấy được tất cả hành tung của cô.

Ông Huei Hann Pan (trái) và bà Bích Hà Pan, cha mẹ của Jennifer - Ảnh: Daily Mail
 
Sau 3 ngày hôn mê, ông Hann tỉnh lại và kể lại cho Cảnh sát nghe những điều tai nghe mắt thấy của Jen. Cuối cùng, Jen đã nhận tội chính là người thuê hung thủ sát hại cha mẹ.
Jennifer bị bắt cùng với bạn trai cũ Daniel và 3 nghi phạm liên quan là Mylvaganam, Carty và Crawford. Sau đó, tất cả bị kết ánsát nhân.
Tháng 12, Jennifer bị kết án tù chung thân và không có cơ hội được ân xá. Cô chỉ đủ điều kiện xinân xá khi 49 tuổi.
Daniel, Crawford và Mylvaganam cũng bị kết án tù chung thân, tuy nhiên phiên tòa xét xử tên Carty bị hoãn cho tới đầu năm 2016.
 
Từ trái sang: David Mylvaganam, Eric Carty, Daniel Wong, Jennifer Pan và Lenford Crawford (không có trong ảnh) mang tội danh giết người cấp độ 1
 
Khi bị thẩm vấn, Jennifer đã khai rằng vì bị cha mẹ bắt học Dược, nghành học quá khó đối với cô, lại hạn chế tự do của cô, không cho cô gặp bạn trai, vì thế, cô mới phải giết cha mẹ để khỏi bị áp lực.
Trên thực tế, trong suốt thời gian học hành của Jen, ông bà Pan không hề cấm đoán cô bất cứ điều gì, cũng không hề bắt ép cô phải học nghành Dược. Họ chỉ bắt cô vào khuôn khổ khi đã biết cô đã lừa gạt họ trong suốt thời gian gần 10 năm trời, bắt cô đi học trung học trở lại để bắt đầu cuộc sống mới.
Nếu bạn ở vị trí của ông bà Pan, bạn sẽ đối phó với cô con gái như thế nào?
Và nếu bạn là cô Jennifer, bạn có nói dối cha mẹ suốt gần 10 năm trời để cuối cùng, ra tay giết cha mẹ hay không?
NẾU...NẾU...VÀ NẾU...
Mọi chuyện sẽ lại tốt đẹp như trong ca dao:
“CÔNG CHA NGHĨA MẸ ƠN THẦY.”

Tiếp theo kỳ tới.
NGUYỄN KHẮP NƠI

26 August 2015

Mê Tín Dị Đoan và Tín Ngưỡng


Bùa Nazar được dùng phổ biến ở các vung Trung Đông với niềm tin rằng nó có thể đẩy lùi  những đôi mắt hiểm độc từ sự ghen tị và tham lam. Ảnh: Live ScienceBùa Nazar được dùng phổ biến ở các vung Trung Đông với niềm tin rằng nó có thể đẩy lùi “ những đôi mắt hiểm độc” từ sự ghen tị và tham lam.
Đại Ý:
– Mê tín dị đoan là những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức – nhất là khi những niềm tin hay ý niệm nầy không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ.
– Nếu so sánh về nguồn gốc và bản chất thì sẽ thấy mê tín dị đoan và tín ngưỡng khác nhau rất ít.
– Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép mầu”. Nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”.
Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của họ. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ.
Nói về “mê tín dị đoan” là người ta nghĩ ngay đến thầy pháp, đồng cốt, bùa ngãi, bói toán, xin xâm, xủ quẻ, coi tướng số, cúng sao, đốt giấy tiền vàng bạc, v.v. và v.v.
Định nghĩa
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “mê tín dị đoan”. Chỉ cần google “mê tín dị đoan” hay “superstition” là sẽ thấy hàng trăm cách nhìn về mê tín dị đoan. Phần đông các cách nhìn nầy đều có những điểm tương tự với nhau nhất là khi diễn giải chữ “mê tín dị đoan” theo nghĩa từng từ đơn của nó: từ Hán âm Việt “mê” có nghĩa là “thiếu sáng suốt” hay “lầm lẫn”; từ “tín” có nghĩa là “tin” hay “không ngờ vực”.
Theo Wikipedia thì “mê tín dị đoan là những niềm tin hay ý niệm phát xuất từ lòng dễ tin không dựa trên lý lẽ hay kiến thức – nhất là khi những niềm tin hay ý niệm nầy không cần có bằng chứng vững vàng và đầy đủ”.
Collins Discovery Encyclopedia, 1st edition HarperCollins Publishers 2005 đi vào chi tiết kỹ càng hơn và định nghĩa mê tín dị đoan là:
1. “Những niềm tin vô căn cứ dựa trên sự thiếu hiểu biết hay sự sợ hãi và tiêu biểu như sự sùng bái cực đoan các điềm gỡ, bùa phép, v.v.”
2. “Những ý niệm, hành động hay nghi lễ phát xuất từ các niềm tin kể trên”.
3. “Bất cứ những niềm tin vô căn cứ nào, nhất là niềm tin về vấn đề huyền bí”.
Theo một định nghĩa khác, mà tôi thường dùng, thì “mê tín dị đoan là niềm tin cho rằng một hiện tượng xảy ra vì là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệ nguyên nhân hậu quả gì giữa những hiện tượng nầy”.
Nguồn gốc và bản chất
Mê tín dị đoan sinh ra và tích lũy lại từ sự thiếu hiểu biết của con người trong những niên đại mà khoa học chưa được lập thành hay phát triển.
Bản năng tự nhiên, và nhu cầu sinh tồn, của con người thúc đẩy họ phải tìm ra những giải thích “thỏa đáng” cho chính họ về những hiện tượng xảy ra chung quanh. Tại sao khi thì săn bắt được nhiều thú rừng, khi thì không? Tại sao năm nay cây trái mùa màng lại thấp kém hơn những năm trước? Tại sao nếu sáng nào bà X vào mua hàng đầu tiên ở cửa tiệm của mình rồi thì suốt ngày đó sẽ buôn bán ế ẩm? Tại sao cái computer trong văn phòng của mình lại hay bị hư khi mình mặc áo màu đen đi làm?
Sự sợ hãi về các hiện tượng thiên nhiên và “siêu nhiên” vẫn còn tác động mãnh liệt trong tiềm thức con người ngày nay không khác gì trong ông cha họ lúc còn ăn lông ở lỗ. Những người có nghề nghiệp càng nguy hiểm, càng bấp bênh, càng tùy thuộc vào thiên nhiên thì thường càng có nhiều thủ tục mê tín gắn liền vào cách thức, lề lối sinh sống hàng ngày của họ.
Khi một đứa trẻ mới sinh ra, trong người của nó không có sẵn một chút mê tín dị đoan nào cả. Nhưng khi lớn lên, đứa trẻ dần dần học được những hành động, những phản ứng, những cách suy nghĩ nầy qua gia đình và xã hội chung quanh. Đại đa số những tập tục mê tín trong gia đình của cha mẹ sẽ được truyền qua gia đình của con cái trong tương lai, cộng thêm (hay trừ bớt) một số những mê tín khác mà những đứa con nầy thu lượm từ bạn bè, thân quyến chung quanh.
Phân loại và thí dụ
Nói chung các mê tín dị đoan có thể được chia ra làm bốn dạng sau đây.
Dạng thứ nhất là những nghi thức, cử chỉ xuất phát từ truyền thống hay thói quen. Thí dụ như đi xin xâm, hái lộc trong ngày Tết, bói bài, xem chỉ tay, xem tướng, tử vi, cúng sao giải hạn, đốt giấy tiền vàng bạc trong tang lễ, nấu cơm canh mời ông bà tổ tiên về dùng, v.v. Tất cả những điều nầy đều được truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác, cha mẹ dạy con cháu làm theo, người nầy bắt chước người khác và được thực hành một cách máy móc không có sự suy nghĩ chính đáng. Đa số những mê tín dị đoan dưới dạng nầy thường được ẩn núp sau danh nghĩa “phong tục cổ truyền” hay ngay cả “tín ngưỡng dân gian”.
Dạng thứ hai là những điều tốt lành cũng như những điều kiêng cử. Nhiều người tin rằng nếu họ làm (hay không làm) những điều nầy thì sẽ có ảnh hưởng đến sự thành công (hay thất bại) của những chuyện khác (mặc dù những chuyện nầy không hề có một liên quan gì đến những đìều trên cả). Thí dụ như nếu cử hành cưới hỏi, khai trương tiệm quán, xuất hành đi xa, v.v. trong những ngày “xấu” (mùng năm hay mười bốn hay hăm ba âm lịch) thì cuộc hôn nhân sẽ lận đận, tiệm quán sẽ ế ẩm, cuộc du hành sẽ gặp trắc trở, v.v. Trái lại nếu lựa ngày “hạp” và giờ “tốt” (như “giờ hoàng đạo”) thì vợ chồng sẽ hạnh phúc, làm ăn phát đạt, chuyến đi sẽ an toàn dễ dàng, v.v. Những thí dụ tương tự khác như cất nhà phải theo đúng phép phong thủy, lựa người “mở hàng” buổi sáng, vợ chồng cần phải “hạp” tuổi, không được mở dù trong nhà, v.v.
Dạng thứ ba là những điềm tiên báo: điềm gở cũng như điềm tốt. Thí dụ nhiều người tin rằng có chim cú đến nhà là điềm sắp có người chết, gương vỡ sẽ xui xẻo 7 năm, mắt trái giựt là sắp có chuyện đáng lo, gặp mèo đen đi ngang trước mặt sẽ gặp tai nạn, nằm mộng thấy quan tài là sắp có tiền, chó lạ đến nhà là điều thành lợi trong khi mèo đến nhà là điềm thua mất (“mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang”), v.v.
Và dạng thứ tư là sự tôn thờ sùng bái những cá thể siêu hình vì họ tin rằng những cá thể nầy có thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe hay diễn tiến sự việc hay kết quả thành bại trong đời sống họ hoặc có thể cứu vớt họ vào một thế giới trường cửu nào đó sau khi chết. Thí dụ như thần cây đa, ma xó, ông Địa, Thần Tài, v.v.
Vài thí dụ khác:
Nhiều chủ tiệm, chủ cửa hàng rất tin vào việc "đốt phong long": họ tin rằng nếu đốt giấy tiền vàng bạc (có khi với nhang đèn hay có khi chỉ cần đốt vài mảnh giấy trơn) trước cửa hàng khi buôn bán ế ẩm thì sẽ xua đuổi được sự xui xẻo và khách hàng sẽ đến.
zpfile000
Nhiều vận động viên tin rằng nếu họ mặc một quần áo nào đó trong người hay làm một cử chỉ gì đó trước khi hay trong khi tranh giải hay tham dự cuộc đua thì họ sẽ được may mắn và chiến thắng (Ngôi sao bóng rỗ lừng danh Michael Jordan luôn luôn mặc một chiếc quần lót cũ mà anh đã từng mặc từ khi chơi cho đội banh trường của anh ở North Carolina bên trong đồng phục chính thức để được may mắn; tay quần vợt quốc tế Bjorn Borg không bao giờ cạo râu nếu anh đang trên đà thắng trận trong các cuộc tranh giải). Thí dụ nầy cũng tương tự cho vô số những người lính trong thời kỳ chiến tranh: hiện tượng phổ thông nhất là việc họ đeo đủ loại bùa để hy vọng súng đạn không phạm vào người họ.
Vài tính chất chung
Hầu hết các mê tín dị đoan đều mang một số tính chất chung.
1/ Đặc điểm chung và nổi bật nhất của các loại "mê tín dị đoan" là người ta thường làm (hoặc tránh làm) một hành động gì đó để mong muốn cho một sự việc gì khác xảy ra (hoặc không xảy ra) trong khi thật sự thì hành động đi trước không tạo thành hay gây ra sự việc theo sau.
2/ Mê tín dị đoan được truyền bá sâu rộng trong mọi tầng lớp, mọi chủng tộc, mọi thời điểm trong lịch sử con người.
Không có dân tộc nào, không có xã hội nào không chịu ảnh hưởng bởi mê tín dị đoan. Một số xác suất thống kê cho rằng không dưới khoảng 2/3 dân số của hầu hết bất cứ quốc gia nào trên thế giới từ Đông sang Tây nhìn nhận rằng họ ít nhiều tin và thực hành một số điều được định nghĩa là mê tín dị đoan.
Tôi cho rằng số người thật sự tin và thực hành những điều mê tín dị đoan lớn hơn 2/3 rất nhiều. Phần lớn những người không nhìn nhận họ mê tín dị đoan vì họ cảm thấy ngượng ngùng khi làm việc nầy. Họ ngượng ngùng vì ngay chính họ cũng nhận thấy rằng những điều họ làm là vô cớ, vô lý và không dựa vào một cơ sở lý luận hay nguyên cớ chính đáng nào cả.
Nhiều người khác không nhìn nhận họ mê tín dị đoan vì một số những gì họ tin và làm đã trở thành một phần quá quen thuộc trong cuộc sống của họ nên họ không thể nào còn có thể phân biệt và nhận thức chúng là mê tín dị đoan nữa.
Tôi tin rằng không ai hoàn toàn không mê tín dị đoan cả. Nhất là khi dựa vào định nghĩa trên: "mê tín dị đoan là niềm tin cho rằng một hiện tượng xảy ra vì là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệ nguyên nhân hậu quả gì giữa những hiện tượng nầy".
3/ Nhiều tập tục mê tín dị đoan bắt nguồn từ các lý do cần thiết thực dụng nhưng dần dần đều biến dạng và mất hết ý nghĩa lẫn mục đích ban đầu.
Thí dụ như nhiều người miền nam Việt Nam cho rằng nếu bị cây "đòn vông" của bất cứ nhà hàng xóm nào xỉa vào nhà họ thì trong gia đình sẽ bị nhiều điều xui xẻo (loại nhà Việt Nam cổ truyền phổ thông thường có một gian hai mái và cây "đòn vông" là cây đà ngang nằm ở trên đỉnh cao nhất của nóc nhà và theo chiều dài căn nhà).
Người ta không hiểu rằng trong các thành thị hay làng xóm thời xưa một trong những cách để giúp cho đường xá nhà cửa được ngay hàng thẳng lối thì nhà cầm quyền ra lệnh khi cất nhà phải cất thế nào mà cây đòn vông không được xỉa vào các nhà lân cận. Nếu thực hiện điều nầy thì tất cả căn nhà lân cận đều nằm tương đối song song với nhau và như vậy xóm làng phố xá sẽ trật tự ngăn nắp và dễ dàng có chỗ giao thông đi lại. Nếu ai cất nhà mà đòn vông không song song với hàng xóm thì sẽ bị láng giềng làng xã phiền hà cho rằng làm như vậy không tốt. Sự kiện nầy được truyền miệng từ người nầy sang người khác, từ địa phương nầy sang địa phương khác, từ thế hệ nầy sang thế hệ khác.
Quan niệm đòn vông xỉa vào nhà từ chỗ "không tốt" vì mất trật tự dần dần trở thành "không tốt" cho công việc buôn bán làm ăn và sức khỏe của gia đình. Ngày nay không còn mấy người nhớ và biết cái tục lệ nầy đã phát xuất từ đâu.
Thí dụ như theo phép phong thủy thì nếu một căn nhà mà cửa trước ăn thông suốt một đường với cửa sau thì “tiền bạc làm ăn được trong gia đình sẽ trôi tuột đi mất cả”. Người ta không thấy rằng các lý do thật sự để tránh lối kiến trúc nầy rất thực tế. Đó là vì nó không an toàn dễ bị kẻ trộm cắp nhòm ngó, là vì gió lạnh dễ thông luồn vào nhà gây ra bệnh hoạn do đó hao tốn tài của, v.v. Tuy vậy, cái quan niệm “cất nhà với cửa trước ăn thông suốt thẳng đường với cửa sau là không tốt" trên dần dần mang thêm những ý nghĩa huyền bí liên quan đến tình trạng tài chính và sức khỏe của gia đình.
4/ Mê tín dị đoan nầy có khuynh hướng sinh sản ra mê tín dị đoan khác.
Thí dụ như từ quan niệm "đòn vông" kể trên, dần dần các thầy địa lý, thầy tướng, thầy bùa lại bày vẻ thêm là nếu bị cây đòn vông của hàng xóm "chiếu" vào nhà thì cần phải "thỉnh" (có nghĩa lả "mua") một tấm kính mang hình bát quái đồ treo trước cửa để "phản chiếu" những chuyện rủi ro ra khỏi nhà! Từ đó sinh ra sự tin tưởng rằng mỗi nhà cần phải có một tấm kính treo trước cửa để tránh chuyện xui xẻo bất kể là nhà có bị đòn vông của hàng xóm xỉa vào hay không.
5/ Khi nói về “mê tín dị đoan” là nhiều người nghĩ rằng “những người mê tín mới làm những chuyện vớ vẩn kể trên chớ tôi thì không bao giờ…”
Voltaire cho rằng một người mê tín cũng như một kẻ nô lệ bị trói buộc bởi những nỗi lo sợ vô cớ do chính mình áp đặt lên cho mình. Theo ông thì trên thế giới có hai nhóm người rõ rệt: một nhóm không mê tín, một nhóm mê tín; và ai cũng nghĩ là mình thuộc về nhóm thứ nhất.
Tùy một người là ai mà họ thấy cái gì là mê tín, cái gì là không.
Một người Pháp chẳng hạn, khi đi qua nước Ý sẽ thấy hầu như mọi thứ chung quanh ông ta đều có dính dáng đến mê tín dị đoan. Như đã thấy ở trên, khi một người Á Đông đọc về những mê tín của Tây Phương chẳng hạn, họ sẽ cười mà cho rằng những dân tộc nầy quả thật là chậm tiến và mê muội. Ngược lại một người Tây Phương cũng có các phản ứng tương tự khi đọc về tín ngưỡng Đông Phương.
6/ Nhiều hiện tượng, nhiều sự kiện trong đời sống hàng ngày thường được người ta dựa trên mê tín dị đoan mà diễn giải khác nhau (có khi hoàn toàn trái ngược hẳn nhau) tùy vào văn hóa, phong tục địa phương.
Theo tập tục Việt Nam thì chim cú mang đến điềm gỡ lớn (gia đình sắp có người chết) trong khi theo người Tây Phương thì con cú mèo biểu tượng cho sự thông thái minh mẫn (vì đôi mắt to lớn kèm với nhãn lực siêu việt có thể nhìn thấy mọi sự việc).
Ảnh hưởng
Vài ảnh hưởng của mê tín dị đoan lên đời sống hàng ngày là:
– Mê tín dị đoan có thể đem đến hy vọng và hỗ trợ tinh thần trong hoàn cảnh khó khăn, bấp bênh.
– Mê tín dị đoan thường tạo ra những sự sợ hãi, lo lắng không cần thiết.
– Mê tín dị đoan có thể làm cho công việc bị đình trệ hay hủy bỏ vô ích.
– Người mê tín dễ bị lạm dụng để làm tiền hay kềm chế, điều khiển.
– Những điều tai hại từ mê tín dị đoan của một người thường làm ảnh hưởng đến những người khác chung quanh họ.
Lý do mà mê tín dị đoan thịnh hành và trường tồn
Đó là vì người ta tin rằng những niềm tin nầy đem lại kết quả họ mong muốn.
Họ cho rằng nhờ tác động A của họ mà sự kiện B xảy ra (bất kể là tác động A và sự kiện B có một liên quan hệ quả gì trên bất cứ phương diện gì hay không).
Thật ra chỉ cần dựa trên nguyên tắc xác suất thống kê cơ bản thì ai cũng có thể thấy rằng trung bình số lần họ đạt được kết quả mong muốn sẽ là 50%. Có nghĩa là bất kể tác động A có xảy ra hay không thì số lần sự kiện B xảy ra thông thường cũng vẫn sẽ ngang ngữa với số lần sự kiện B không xảy ra. Tuy nhiên, bản năng tâm lý tự nhiên của con người làm cho họ chỉ nhớ đến những lần họ thành công, còn số lần còn lại khi thất bại thì họ có khuynh hướng hoặc không kể đến, hoặc tự đỗ thừa cho rằng vì các lý do khác nào đó mà họ không thành công, hoặc chỉ giản dị quên mất chúng đi trong tương lai.
Sẽ có những lần sau khi người chủ tiệm đốt phong long mà vẫn số khách hàng đến cửa hàng vẫn không nhiều hơn. Nhưng cũng có những lần sau khi đốt phong long thì có đông khách hàng hơn (vì lý do gì khác không biết). Người chủ tiệm sẽ có huynh hướng nhớ đến những lần có khách đông nầy và cho rằng việc đốt phong long có hiệu nghiệm trong khi họ sẵn sàng quên mất hay không kể đến những lần không có được thêm khách gì cả.
Dựa trên những lần mà một người cho rằng niềm tin của họ “hiệu nghiệm”, trong tương lai họ lại càng có khuynh hướng tin tưởng thêm nữa. Họ cho rằng ngay cả nếu niềm tin gì đó của họ dù chỉ có hiệu nghiệm một vài lần mà thôi thì cũng vẫn đáng để tiếp tục làm nữa.
Nhiều người tuy không tin tưởng hoàn toàn vào một số điều nằm trong phạm trù “huyền bí” hay “khó giải thích” nhưng họ vẫn thực hành những điều nầy để cho “chắc ăn”. Nếu làm một động tác gì đó tuy không chắc sẽ mang đến kết quả mong muốn nhưng nhiều người cũng vẫn sẽ làm phòng hờ vì họ e ngại “nếu lỡ nó có hiệu nghiệm thật sự lần nầy thì sao!?” Khi vào khách sạn nếu có dịp lựa chọn giữa hai căn phòng y hệt nhau về mọi mặt chỉ trừ việc một trong hai phòng mang số 13 thì đa số sẽ tránh không chọn căn phòng mang số 13.
zpfile002
Mê tín trở thành những thói quen phiền toái, tốn kém. Tuy vậy đây là những thiệt thòi người ta sẵn sàng đánh đổi để cho họ cảm thấy an tâm và “an toàn” hơn. Người ta tin tưởng một cách nghiêm cẩn và chăm chỉ về những hiện tượng huyền bí “nho nhỏ” nầy, tuy rằng không ai thật sự hiểu rõ nguồn gốc hay cách vận hành của chúng ra sao.

Mê tín dị đoan khác tín ngưỡng thế nào?
zpfile002Nếu so sánh về nguồn gốc và bản chất thì sẽ thấy mê tín dị đoan và tín ngưỡng khác nhau rất ít.
Một số mê tín dị đoan ngày nay rất có thể là dấu tích của những tín ngưỡng tôn giáo trong thời xa xưa.
Thí dụ như nhiều người tin rằng Thứ Sáu mười ba là một ngày rất xui xẻo. Một trong những cách giải thích là theo Kinh Thánh, ngày thứ Sáu là ngày Eva dụ Adam phạm tội, cũng như là ngày trận Hồng Thủy bắt đầu, cũng như là ngày Jê-Su bị đóng đinh; kết hợp với việc trong buổi ăn cuối cùng của Giê-Su có 12 người tham dự, với người thứ 13 là Ju-da, kẻ đã phản bội Giê-Su.
Một thí dụ khác là người Tây Phương ngày nay vẫn thường buột miệng nói “Xin Chúa ban ơn!” (“bless you!”) sau khi thấy một người nhảy mũi. Vào thế kỷ thứ 6, người ta tin rằng khi nhảy mũi thì cánh cửa thông thương giữa linh hồn trong người với thế giới bên ngoài tạm thời mở ra và do đó dễ bị ma quỷ nhập vào ám hại. Về sau, khi có bệnh dịch lan tràn, nhiều người bị nhảy mũi dữ dội khi bị nhiễm bệnh, Đức Giáo Hoàng đương thời ra lệnh phải xin Chúa độ ơn khi thấy một người vừa nhảy mũi (vì với trình độ y khoa sơ đẳng của thời ấy, rất nhiều người sẽ chết khi bị nhiễm dịch).
Theo tôi, nếu nhìn về một phương diện khác thì mê tín dị đoan và tôn giáo đều được bắt đầu từ một nguồn gốc chung. Cả hai đều có những đặc điểm rất tương đồng với nhau như sau:
– Cả hai đều được thành hình từ nhu cầu cần thiết để cố gắng giải thích về những hiện tượng khó hiểu chung quanh con người.
– Cả hai đều gán ghép những liên hệ nguyên nhân hậu quả vào một số hiện tượng mà không hề chứng minh rõ ràng được về những mối liên hệ nầy.
– Cả hai đều dựa lên một nền tảng chung để truyền bá và vận hành, đó là sự sợ hãi.
– Cả hai đều chỉ có giá trị giới hạn trong một tập thể, một địa phương nào đó. Bên ngoài biên giới của những tập thể hay địa phương nầy, cả hai đều có thể bị coi là vô căn cứ, chậm tiến hay thậm chí mê muội, mù quáng.
Một nhận xét khá lý thú là ngay chính tôn giáo cũng nhìn nhận sự hiện hữu của mê tín dị đoan, và phần lớn công khai bài bác những tập tục “mê muội, mù quáng” nầy. Có điều là chữ “mê tín” trong tôn giáo thường được dùng đồng nghĩa với “những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của các tôn giáo khác”.
clip_image002
Nếu một hiện tượng không giải thích được xảy ra trong một tôn giáo, người theo tôn giáo ấy cho đó là một “phép mầu”. Nếu một hiện tượng giống như vậy xảy ra trong tôn giáo khác, theo họ đó là “điều huyễn hoặc”.
Mỗi tôn giáo đều tự cho rằng tôn giáo mình không mê tín vì họ có “bằng chứng” để hỗ trợ cho những lễ nghi, giáo điều, tín ngưỡng, v.v. của họ. Và “bằng chứng” duy nhất và tối quan trọng nhất là “đức tin” của họ. Như đã nói ở trên, với ý niệm “đức tin” thì tín đồ không cần phải giải thích được bằng kiến thức khoa học hiện thời về bất cứ điều gì dù là huyễn hoặc và phản khoa học hay phản thực tế bao nhiêu.
Phương cách nầy rất tiện lợi và hữu dụng, nhưng lại có một khuyết điểm rất lớn. Đó là hầu như mỗi tôn giáo đều có một đức tin khác nhau, và nhiều khi hoàn toàn đối nghịch nhau. Tín đồ Thiên Chúa Giáo nhìn người Ấn độ thờ "Linga" (hoặc Lingam) tức là Dương vật là biểu tượng của thần Shiva, thì cho đó là mê tín. Và người Ấn độ xem người Công Giáo rước bánh thánh chỉ là một mẫu bánh mì chay mà gọi là ăn chính thịt Chúa họ thì cũng cho rằng đó là một hành vi mê tín.
Ngay cả những nhóm phái trong cùng một tôn giáo cũng bất đồng ý kiến với nhau về mê tín dị đoan. Điều nầy gây ra sự chia rẽ trong hàng ngũ của nhiều tôn giáo.
Trong Thiên Chúa Giáo, ngay những nhóm người cùng coi mình là con chiên của Giê-Su cũng luôn có những quan điểm khác nhau khi nói về mê tín. Voltaire viết "mê tín dị đoan phát sinh từ tục lệ trong nhân gian hoặc những đạo đa thần, nhập vào Do Thái giáo rồi lan truyền sang toàn thể Thiên Chúa Giáo ngay từ thời buổi ban đầu. Tòa Thánh luôn luôn chê trách pháp thuật, nhưng lúc nào cũng tin vào phép mầu. Tất cả những linh mục trong Tòa Thánh, không ngoại trừ bất cứ ai, đều tin vào huyền lực của phép mầu".
Voltaire cũng nhận xét thêm rằng ở thời ông ấy thì "Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Canterbury cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của địa hạt Paris là mê tín, nhóm Tin Lành cho rằng Ngài Tổng Giám Mục của Canterbury là mê tín trong khi chính họ cũng bị những người Quakers cho là mê tín. Trong khi đó, nhóm Quakers lại bị coi là những người mê tín dị đoan nhất bởi mọi nhóm khác trong Thiên Chúa Giáo".
Tình trạng đó cũng vẫn không khác gì mấy ngày nay. Đạo Tin Lành vẫn cho rằng những thánh vật, sự hiện thân của Đức Mẹ Đồng Trinh, sự cầu nguyện cho người chết, nước thánh, v.v. cũng như hầu hết những nghi lễ của Công Giáo đều là mê tín dị đoan. Đối với họ, mê tín là lấy những việc không cần thiết mà thực hành như những việc tối cần thiết.
clip_image004
Ngay trong Công Giáo cũng có những nhóm đã gạt bỏ bớt đi nhiều hình thức rườm rà mà nhiều người Công Giáo khác cho là thiêng liêng và cần thiết. Tuy vậy, nhóm nầy thường không công khai đả kích những người vẫn đeo giữ những thủ tục cổ hủ, vì theo họ thì những lễ nghi nầy "cũng không có gì nguy hại hay tội lỗi cả".
Trong cái gọi là Phật Giáo ngày nay, tôi có một danh sách dài bất tận về những thủ tục, nghi lễ nằm đúng hoàn toàn trong cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên. Tôi sẽ trình bày chi tiết về vấn đề nầy ở một bài tiểu luận khác.
Tôi tin rằng nhận xét trên cũng có thể áp dụng cho tất cả các tôn giáo Đông Phương khác từ Ấn Độ Giáo, Hồi Giáo cũng như những tôn giáo nhỏ như Cao Đài, Hòa Hảo, v.v. Những tôn giáo nầy (trừ Hồi Giáo) thường không kình chống lẫn nhau công khai và có khi đầy tính cách bạo động như trong trường hợp của Thiên Chúa Giáo. Tuy vậy trong nhóm tôn giáo Đông Phương, các nghi lễ, phương cách tụng niệm, hình tượng của một tôn giáo cũng vẫn thường bị xem là mê tín dị đoan bởi người trong những tôn giáo khác.
Có người cho rằng nhóm phái nào có ít nghi lễ nhất thì có lẽ là ít mê tín nhất. Nhưng theo tôi thì nói như vậy đâu có khác mấy với nói rằng "con mèo nào có đuôi càng ngắn thì càng có ít tính chất ‘mèo’ hơn".
Khi phân tích những thí dụ ở trên, chúng ta thấy rõ ràng là trong tôn giáo, người ta làm (hoặc tránh làm) những hành động gì đó chỉ vì để được tưởng thưởng (hoặc không bị trừng phạt) bởi một đấng Tối Cao. Trong khi đó, người ta thật sự không có cách nào biết rõ về sự hiện hữu của nhân vật Tối Cao nầy, chớ đừng nói gì đến có thể giải nghĩa thích đáng được về sự liên hệ giữa những hành động và sự thưởng phạt nầy. Yếu tố nầy chúng ta đã thấy nằm trong trường hợp của mê tín dị đoan.
Khi áp dụng cái định nghĩa của mê tín dị đoan ở trên vào những tính chất đặc thù của tôn giáo và từ những nhận xét trên, nhiều người không khỏi đi đến kết luận rằng tôn giáo chỉ là những tập hợp của một số mê tín đã được hệ thống hóa lại với nhau.
Nói chung, tôn giáo thường là các tổ chức có chính sách truyền bá với kế hoạch và quy củ chặt chẽ trong khi mê tín dị đoan thường chỉ là những “kiến thức” truyền miệng trong dân gian. Yếu tố khác biệt nầy làm cho nhiều người trong chúng ta không thấy được là cả hai đều liên quan rất mật thiết với nhau từ nguồn gốc cho đến cách vận hành.
Tôn giáo thay đổi với thời gian. Những thay đổi trong tôn giáo thường cần thiết để đáp ứng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, với nhu cầu đời sống của xã hội, và có khi với áp lực chính trị bên trong cũng như bên ngoài tổ chức tôn giáo. Nhờ có luật lệ, quy củ rõ rệt, những thay đổi trong tôn giáo thường xảy ra tương đối nhanh chóng.
Thí dụ như sau nhiều thế kỷ truyền dạy theo lời Kinh Thánh rằng địa cầu là trung tâm của vũ trụ, khi phải đối diện với bằng chứng khoa học không thể chối cải được, giữa năm đầu thập niên 1960 đến năm 1979 Tòa Thánh đã phát hành những văn bản mang hàm ý ân xá Galileo. Đến tháng 10 năm 1992 thì Đức Giáo Hoàng John Paul 2 chính thức xin lỗi về vụ Galileo cũng như công nhận quả địa cầu không phải là trung tâm của vũ trụ như lời Thánh Kinh dạy mà chỉ là một hành tinh trong Thái Dương hệ.
Thí dụ như hôn nhân đã từng được coi là một giao kèo bất di bất dịch giữa hai người trước mặt Thiên Chúa; sự ly thân của hai vợ chồng, bất cứ vì lý do gì, là một tội nghiêm trọng không thể tha thứ được. Ngày nay, với lề lối sinh sống và quan niệm tình cảm hiện đại của đa số tín đồ, Tòa Thánh cũng đã phải sửa đổi cái nhìn về vấn đề nầy; nhờ vậy mà ly dị không còn là một tội lỗi đáng bị trừng phạt bởi Thiên Chúa nữa. Một thí dụ gần đây nhất, đầu tháng Mười 2014, Tòa Thánh Vatican sau 2 tuần hội thảo đã phát hành một công văn tuyên bố rằng mối quan hệ giữa những người đàn ông đồng tính luyến ái có các “phẩm chất và giá trị tương tác lẫn nhau” và bày tỏ thái độ chấp nhận sự việc nầy (tuy nhiên vấn đề hôn nhân đồng tính vẫn chưa được đề cập đến); đây là một sự thay đổi giáo điều lớn lao sau 2000 năm cực lực nghiêm cấm và trừng phạt.
Mê tín dị đoan, trên mặt khác, thường ít thay đổi; hoặc nếu có thì cũng chỉ với một tốc độ rất chậm.
Như đã nói, mê tín dị đoan thường chỉ được thực hành ở lãnh vực cá nhân hơn là ở môi trường đoàn thể, công khai, với văn bản, luật lệ hẳn hoi như trong trường hợp tôn giáo. Người ta thường dễ dàng chấp nhận hơn nếu một mê tín không chạy theo kịp kiến thức khoa học kỹ thuật hay quan niệm xã hội. Vì không có tổ chức, cơ cấu, ban điều hành, v.v. như tôn giáo, mê tín dị đoan thường không cần lo lắng đến việc có thể bị chỉ trích công khai bởi báo chí, dư luận, nhà cầm quyền, v.v. Vì không có những áp lực chính trị nầy, mê tín dị đoan tương đối được “bỏ lơ” để tồn tại không thay đổi mấy từ thế kỷ nầy qua thế kỷ nọ.
Mê tín dị đoan có thể gây ra phiền phức, tốn kém cho cá nhân và xã hội. Những phiền phức, tốn kém nầy thường tương đối nhỏ hẹp và giới hạn. Tuy nhiên, vì tôn giáo thường có tổ chức công khai, cơ cấu chặt chẽ, hàng ngũ rõ rệt, tài chính dồi dào, uy quyền to lớn nên ảnh hưởng của tôn giáo có thể nghiêm trọng và sâu rộng rất nhiều cho cá nhân và xã hội.
Có người nói rằng “tôn giáo vô hại cho đến khi có kẻ trở thành mù quáng vì nó”. Rất ít trường hợp một cá nhân hay đoàn thể tàn sát một cá nhân hay đoàn thể khác vì họ bất đồng ý với nhau về ý nghĩa của một điều mê tín gì đó. Tuy nhiên, lịch sử đã có biết bao nhiêu trang đẫm máu chỉ vì những bất đồng ý kiến về cách giảng giải khác nhau về vài chi tiết trong kinh sách tôn giáo.
Nói chung, tùy một người tin vào những gì mà một hành động, một hiện tượng đối với người đó có thể là mê tín dị đoan hay là tín ngưỡng chính đáng. Trình độ giáo dục, bằng cấp văn hóa, kiến thức kỹ thuật không chắc có thể đem đến khả năng chống cự lại ảnh hưởng của mê tín dị đoan. Chúng ta đã từng thấy bác sĩ, kỹ sư, bác học, triết gia, v.v. cũng vui vẻ tuân theo các điều mê tín không khác gì những người buôn bán, chạy xe ôm hay ăn xin ngoài đầu chợ. Viên chức cao cấp trong tổ chức chính trị hay lãnh tụ quốc gia cũng không miễn nhiễm trong vấn đề nầy. Cứ nhìn vào Việt Nam thì sẽ thấy một thí dụ điển hình. Tất cả đều ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp công khai thi hành những thủ tục “cần thiết” của mê tín dị đoan hàng ngày mà không hề thắc mắc. 

Nguyễn Nhân Trí   

Mối Hận Nghìn Trùng!


Hai vợ chồng được cứu thoát sau khi bị hải tặc tấn công

Long vừa uống ly café, vừa nghiền ngẫm tờ quảng cáo đồ điện tử Fry’s electronics của tờ Sacramento Bee, Long định chiều nầy sẽ đến Fry’s mua thêm một vài món để tu bổ thêm cho chiếc Computer đang nhức đầu sổ mũi và chạy như rùa bò của chàng !

Buổi sáng, phải đi làm sớm, Long thường dến tiệm ăn gần khu vực chàng ở, giờ đó khách còn thưa, chỉ những người lao động như chàng mới đi ăn sớm như vậy. Long lơ đãng nhìn ra cửa kính, tay thọc vào túi quần tìm khâu chìa khoá. Chợt tim Long như thót lại, mắt tròn xoe nhìn một người to lớn đang mở cửa bước vào. Linh tính như cho chàng biết, người góp phần gây ra tấm thảm kịch ngày xưa, đang xuất hiện trước mặt chàng !

Liếc nhìn người lạ da ngăm đen, đang kiếm chỗ ngồi trong một góc kín đáo; chàng gọi người hầu bàn, kêu thêm ly café nữa, Long quơ lấy tờ Sacramento bee, chăm chú như đang đọc, nhưng ánh mắt sắc bén của Long nhìn qua kẻ báo, không bỏ qua một cứ chỉ nào của người mới đến đang ngồi xây lưng về phía chàng.

Long nhìn chiếc cổ to lớn có xâm đầu hai con rắn hổ mang quấn lấy nhau cùng bò hướng lên phía chân tóc. Chiếc lưng to lớn như tấm phản gỗ chắc nịch, ẩn chứa một sức mạnh tiềm tàng và một nội lực vô cùng thâm hậu. Long vào phòng toilet, kín đáo nhìn ngang người khách lạ, tim chàng như thót lại khi nhìn thấy một vết thẹo to lớn như một vết chém ngang gò má trái lan xuống tận xương hàm...

Long uất hận nhớ tới chuyến vượt biên gần 30 năm về trước…


Sau khi CS Bắc Việt phản bội hiệp định Genève, xua quân tiến chiếm hoàn toàn miền Nam VN - 1975, đặt ách thống trị độc tài, sắt máu lên toàn miền, khoảng một triệu người Việt đã trốn chạy chế độ CS bằng mọi phương tiện, phần nhiều là vượt thoát trên những chiếc thuyền gỗ mong manh, có gần nửa triệu người đã bỏ mình trên biển cả mênh mông vì phong ba bão táp, vì đói khát bệnh tật, hoặc bị hải tặc cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp... sự thống khổ không thể nào lường, để trả giá cho việc đi tìm Tự do !

Thời gian 1978 - 1980, toàn dân miền Nam VN hầu như lên cơn sốt, trong nhà ngoài ngõ, đâu đâu cũng bàn chuyện vượt biên tìm tự do. Chế độ CS - Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc - mới được dân miền Nam thưởng thức một vài năm mà mọi người, ai cũng khiếp vía, ớn tận cổ qua hai cuộc đổi tiền ăn cướp xương máu của nhân dân, sáng mở mắt ra đã trở thành trắng tay! Qua những cuộc đánh tư sản mại bản, ếm quân đóng chốt ngay trong nhà, đục tường, khoét vách tìm của quí, qua những trận đánh công thương nghiệp, bắt bớ cho đi học tập, bắt đi kinh tế mới.

Miền Nam bắt đầu hưởng chế độ Hộ Khẩu - một cái khóa rất khoa học móc ngay yết hầu của người dân để kiểm soát hệ tư tưởng, một cái khóa ưu việt mà mọi người dân khốn nạn bắt buộc phải tuân thủ không vùng vẫy được ! Mọi người bị cung cấp một số lượng gạo không đủ ăn, thêm vào một số bo bo với khoai sắn mốc meo để khỏi chết đói... Mọi quyền tự do bị tước đoạt, công an khu vực rình rập khắp nơi, thậm chí khi người dân nghe Radio những đài ngoại quốc khi chiều đến cũng bị mời đi làm việc. Những buổi học tập tổ dân phố, xoi móc lẫn nhau, kiểm thảo nhau, phê bình và tự phê bình dưới sự kiểm soát cú vọ của tên Công an khu vực và tổ trưởng dân phố!..

Dân chúng sống như ngồi trên đống lửa, cảm thấy cuộc đời sao mà như con cá nằm trong rọ, mất hết tự do căn bản của con người, chế độ CS thật đáng nguyền rủa; phải tìm đủ mọi cách để trốn thoát gông cùm CS, dù phải trả giá bằng cả mạng sống của chính mình - cột đèn mà biết đi thì cũng dông luôn !

Long cùng các bạn cũng mang tâm trạng đó, vào khoảng năm 1980, chàng và các bạn đứng ra tổ chức vượt biển. Long quyết định chọn Rạch Giá làm nơi xuất phát vì có người quen ở đó nắm vững địa hình. Long giao thiệp với chủ tàu, chuyến đi khoảng hơn 40 người, gồm cả đàn ong, đàn bà và trẻ con.

Long vừa ở trại tù CS ra được 2 năm, là Huấn luyện viên Việt Võ Đạo, Thiếu úy tác chiến, còn độc thân, 25 tuổi. Chàng rủ anh bạn láng giềng là Danh 22 tuổi, và cô em gái của Danh, tên Lan chừng 20 tuổi, cùng đi. Lan có sạp bán thuốc tây ở chợ trời Hàm Nghi. Lan, trước là sinh viên Luật, đẹp quyến rũ với thân hình cân đối và đôi mắt đa tình, Long hay trêu nàng là có đôi mắt biết cười lại thêm tiếng nói trong sáng, như reo vui mỗi khi nói chuyện cùng ai. Vì vậy, Lan giao thiệp rộng, thân hữu với mọi người, hay nói hay cười với tất cả, nên có nhiều người say mê, theo đuổi…

Long quen Danh, hay qua chơi nhà nàng và cũng để ý đến Lan như mọi người, không tránh được hấp lực của người con gái đó và lạ một đều là tất cả các chàng trai, ai cũng có cảm tưởng là mình là người duy nhất được Lan để mắt tới!

Danh phục vụ ở ngành Cảnh sát, cũng ở tù cùng chỗ với Long nên hai người rất thân và hiểu nhau về tư tưởng chính trị. Thời gian đó, dân vượt biên, mỗi lần sắp đi, đều ra chợ trời mua thuốc chống say sóng - Nautamine và những Xi rô ho có chứa Phenergan hoặc có chất chống dị ứng, gây buồn ngủ ! Vit C ngậm để chống khát cũng được dân vượt biên chú ý... Lan bán thuốc rất mát tay, người mua chỉ cần khai ra những triệu chứng thông thường là nàng có thể vừa định bệnh vừa ra thuốc luôn; phần đông khách chỉ uống một vài ngày là khỏi !... Miệng nàng lại tươi như hoa, ngọt như đường, khéo tán ra tán vào, nên các anh chàng không có bệnh cũng rán yêu cầu người đẹp Bác sĩ bán cho một vài viên thuốc cảm, lấy lòng !

Bán thuốc vượt biên suốt ngày ở chợ trời, lại nghe bàn ra tán vào những chuyện đời sống tự do, sung túc của những người vượt thoát được và nhất là muốn trốn khỏi sư để ý, xin tiền, kìm kẹp, theo dõi hằng ngày của những tên Công an khu vực, thuế vụ... Cuối cùng Lan móc nối được với một chủ tàu tận Rạch Giá; nàng kể cho Danh và Long nghe. Danh và Long móc nối với những gia đình tin tưởng được, mọi người mừng rỡ, sau nhiều lần bàn bạc họp hành, định ngày giờ mua bãi, thuê xế nhỏ, mua được một xế lớn Yanma 4 log đầu bạc, trữ dầu, lương thực và nước uống đầy đủ... Sau khi cùng nhau nạp tiền, mỗi người 5 cây vàng, Long và Danh hẹn người chủ tàu vào một tiệm ăn nhỏ ở đường Hàm Nghi nhậu một bữa và trao gần trăm cây vàng đựng trong một bao cát nhỏ cho người chủ tàu và con trai của ông ta.

Đến ngày ra quân, Long và các bạn về Rạch Giá, tổ chức thành từng toán nhỏ, ếm quân vào các nhà quen rải rác quanh bãi đáp, vào khoảng 9 giờ tối, các toán nhỏ lần lượt ra 2 ghe nhỏ (Taxi), di chuyển bí mật ra xe tải (tàu lớn), đậu cách xa ở cửa sông đổ ra biển. Tất cả hành khách đều được phủ lên người tấm lưới đánh cá, con nít đều cho uống thuốc ho có chứa Phenergan, ngủ say như chết. Hai chiếc ghe nhỏ đi qua trạm gác công an biên phòng mà không xảy ra rắc rối nào ! Khoảng 12 giờ đêm, việc lên tàu lớn hoàn tất, sau khi kiểm điểm quân số đầy đủ, Long nói với tài công sắp đặt chỗ ngồi và ra lệnh xuất phát. Tiếng nỗ dòn của con tàu làm mọi người reo lên phấn khởi, Long phải nói lớn :

- Quí vị đừng vui mừng vội mà Công an phát hiện, hãy chờ ra gần hải phận Quốc tế rồi hãy la cho đã…

Mọi người vội nín bặt, nhưng trong nét mặt còn đầy vẻ phấn chấn, vui mừng.

Long và Danh chia phiên nhau trực với chủ tàu và tài công, cứ nhắm hướng Tây bắc trực chỉ. Khi ra đến hải phận Quốc tế, chàng báo cho mọi người biết, mọi người reo hò mừng rỡ, hy vọng chuyến hải hành sẽ trôi chảy, vài ngày nữa sẽ được quốc gia thứ ba tiếp đón và một thời gian sau sẽ được đi Mỹ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại v.v...

Long đổi phiên cho Danh, chàng đi vội lại chỗ Lan và những người thân đang nằm ngồi nghỉ mệt, trong số đó có hai cô gái nhỏ 12 và 14 tuổi con bà chị chàng gởi theo chàng.

- Lan và các cháu có mệt lắm không ? Long dịu dàng hỏi.

- Hơi chóng mặt thôi, nhưng em thấy thích lắm, bầu trời tuy đầy mây, tuy nhiên trăng vẫn đẹp, sợ gì anh; tàu mình đi gần được 24 giờ rồi phải không ?

- Đúng rồi, hy vọng chúng ta sẽ an toàn đến nơi.

Nhìn đồng hồ dạ quang, Long thấy đã hơn 10 giờ tối, ngồi tán gẫu một chốc với Lan, bổng nhiên trăng khuất dần vào một đám mây đen, dày đặc ánh chớp, không khí dường như có hơi nước…

Chợt một làn gió thổi mạnh cùng mưa rơi ào ạt và mây đen vần vũ kéo tới, gió hất tung những tấm bạc che mưa nắng của đám người. Chủ tàu la lớn :

- Mọi người bình tĩnh, mau xuống hầm tàu tránh mưa, đừng xô đẩy nhau, mọi người đều có chỗ.

- Sao thời tiết biến chuyển nhanh thế, trời đang trong sáng mà ! đúng là xui tận mạng, Danh lẩm bẩm.

Sau một vài giờ bị nhồi bởi những cơn sóng to, gió lớn; một số người ói tới mật xanh mật vàng. Con thuyền mong manh đi giữa lòng đại dương tối như mực, quay như chong chóng, không biết đâu là bến bờ!

Khoảng trưa hôm sau, con tàu bị tắt máy, mặc cho dòng nước cuốn trôi, không định được hướng, đàn ông vừa lo tát nước, vừa lo sửa lại máy.

Chợt người tài công, nét mặt hớn hở chỉ tay về hướng Tây bắc; Long và Danh thấy xa xa một chấm nhỏ màu đỏ da cam đang xuất hiện và dần dần lộ ra là một con tàu nhỏ đang hướng mũi phóng nhanh về phía hông trái con tàu mình. Danh nhì kỹ, la lớn :

- Không phải tàu cứu đâu, coi chừng, bọn hải tặc đó!

Mọi người xanh mặt, ép chặt vào nhau.

Con tàu màu cam đỏ hiện nguyên hình với đám hải tặc độ 10 tên mặt mày hung dữ, ở trần trùng trục, có tên xâm mình kỳ dị, có tên ăn mặc rằn ri; chúng võ trang bằng dao, búa, rìu, chỉ có hai tên có súng dài... Chúng nó lên một lượt, đồng thời cho mũi tàu đâm ngang hông tàu vượt biên làm thân tàu móp vào, mọi người la hét, té dồn cục ! Bọn hải tặc đồng loạt nhảy qua phá máy tàu, chọc thủng hông cho nước tràn vào, bắt tất cả đàn ông trai tráng dồn vào một phía trói lại từng người; đàn bà, con gái và trẻ em chúng lùa về một phía. Chúng bắt đầu lục soát, lấy tiền, thu đồng hồ, nhẫn vàng v.v... Khi lục soát đàn bà con gái, chúng cười đùa hô hố và sờ soạn ngang nhiên... có lẽ bị kích thích trong khi sờ mó, chúng chia nhau hiếp dâm đàn bà tại chỗ. Trực, tên người đàn ông có vợ đang bị hải tặc làm nhục, la to lên một tiếng và cố vùng đứt sợi dây trói, bị một tên hải tặc đứng gần đó, đánh mạnh một búa vào đầu, quằn quại chết tại chỗ ! Bọn chúng bị tức giận theo phản ứng dây chuyền, dùng búa và dao múa loạn xạ, muốn giết những đàn ông còn lại, tiếng la hét, rên khóc nỗi khắp nơi…

Long và Danh ra dấu cho nhau nhận định, nếu để chúng bắt trói thì chúng cũng cắt cổ như gà mà thôi, vì vậy hai người đứng nép sau đống giây thừng to lớn, sẵn sàng chiến đấu.

Long nắm chặt cán dao găm, mắt như toé lửa nhìn chiếc gáy một tên hải tặc to lớn đang tiến lại dần về phía Lan. Mắt chàng như bị thôi miên, nhìn hình xâm hai con mãng xà vương, bò từ chiếc lưng như tấm phản lên chiếc cần cổ to như cổ con bò mộng, quyện lấy nhau và cùng bò ra phía cằm... Hắn đi lại phía Lan, nhìn hau háu vào ngực nàng, nhanh nhẹn vồ lấy, vật nàng xuống đất và cúi xuống... Lan hét lên một tiếng thất thanh cùng lúc với tiếng thét của Long, chàng phóng người như chiếc lò xo bật, từ chỗ nấp ra, hoa dao đâm mạnh vào lưng trái của tên cướp; tên nầy bỏ vội Lan ra, xoay người lại, hụp người né lưỡi dao, đồng thời chân phải quyết ra một cước nhanh như gió. Long bung người lên tránh cú đá quét, đồng thời quay người như con vụ từ trên không, chuyển dao từ tay phải sang tay trái trong bài Nhiếp Hồn Đao lợi hại và đắc ý nhất do vị sư phụ người Nùng truyền dạy; đường dao nhanh như chớp quét ngang yết hầu tên hải tặc. Tên nầy vội ngữa mặt ra sau tránh, nhưng cũng bị lãnh một nhát từ gò má cho đến cằm, máu tuông xối xả, ngã rầm xuống như trái mít rụng. Bọn hải tặc như ngớ ra trước phản ứng ghê gớm của Long, chúng la to một tiếng và vội vàng đến vực tên chỉ huy dậy đồng thời vung búa loạn xạ. Long để ý thấy chúng không kịp bắn viên nào vì súng dài khó xoay xở, chàng phóng con dao vào một tên cầm súng đang loay hoay cách chàng 2 thước, mũi dao cắm vào sườn trái của nó, nó thả vội súng, hai tay ôm lấy vết thương. Cạnh đó, Danh đang dùng một thanh gỗ dài, cạnh vuông bằng gỗ trắc dồn tên hải tặc vào một góc gần đó, đồng thời đá khẩu súng đến cho Long. Long chộp lấy, lên đạn và bắn chết một tên đang hoa búa giết người, đồng thời bắn một tràn ngang về phía chúng. Bọn hải tặc lo sợ cuống cuồng, vội ôm viên chỉ huy về lại tàu. Long nhắm tên cầm súng dài còn lại, bắn một phát vào tay nó, bay luôn cây súng xuống bể ! Chàng lại bắn vào buồng lái và nhắm hông tàu hải tặc bắn thêm một tràn ở phần chìm dưới mặt nước làm thủng nhiều lỗ và con tàu khựng lại...

Danh, Long, chủ tàu và tài công vừa sửa máy tàu, vừa cấp cứu những người bị thương. May mắn thay, con tàu nổ máy lại được. Long nói với tài công cho con tàu chạy hết tốc lực, dời xa chỗ cũ, vì chàng biết nếu bọn hải tặc quay lại với súng ống đầy đủ thì tất cả phải đành bỏ mạng sa trường !…

Mưa bão lại ầm ầm như trút nước, trời đất như tối sầm lại, cũng nhờ vậy, sau một lúc thì không thấy tăm dạng con tàu hải tặc đâu nữa. Danh và Long cùng chủ tàu lo việc cầu siêu và thủy táng cho những người bị sát hại, tiếng thi hài quăng xuống bể cùng tiếng khóc nức nở của thân nhân làm mọi người xót xa ruột gan.

Con tàu trôi lênh đênh vào vùng bờ biển Malaysia, khoảng ba bốn ngày sau, mọi người đều hầu như kiệt sức, say sóng, nôn mửa khắp nơi, thức ăn cạn kiệt, nước uống khan hiếm, có nhiều người bắt đầu khuyên nhau để dành nước tiểu của mình để uống sau nầy... Tất cả dường như tuyệt vọng, có một vài con tàu ngoại quốc đi ngang qua, nhưng không một chiếc nào ngưng lại cứu giúp ! Chiều ngày hôm đó, may mắn thay, một con tàu của ngư phủ Malaysia trên đường quay về bờ, đi ngang thấy con tàu bị nạn, cặp vào giúp đỡ, sau đó con tàu được kéo vào đảo Pulau Bidong. Sau khi cấp cứu, làm thủ tục, tất cả mọi người đều được cho định cư ở đảo, và sau một thời gian dài, mọi người được thanh lọc và dần dần cho định cư ở nước thứ ba…

Cảm ân cứu mạng của Long, và thật ra Lan cũng để ý chàng từ lâu, hai người thành hôn sau khi đến Mỹ. Tuy nhiên ấn tượng kinh hoàng do bọn hải tặc gây ra và cảnh bị tên hải tặc to lớn chộp lấy và sắp làm nhục mình, đã làm Lan hốt hoảng, thỉnh thoảng la hét lúc về đêm…

Đang miên man suy nghĩ, nhìn sang bên cạnh, thấy người khách la to lớn tiến đến quầy để trả tiền, Long ý tứ, nhẹ nhàng đứng lên cũng đến quầy, đứng ngay sau lưng người đó, cố giữ một khoảng cách hợp lý tối thiểu và cố ý nương nhẹ hơi thở. Người lạ hình như không để ý gì đến chung quanh, tuy nhiên, với dáng người to lớn và con mắt đỏ ngầu hung ác, khi y quét nhìn ai, cũng làm cho người ta khiếp sợ. Từ phía sau lưng, gần trong gang tấc, Long dữ dội nhìn kỹ hình hai con rắn giao nhau trên cần cổ kẻ thù, tuy nhiên, chàng cố gắng kìm hơi thở đang trở nên dồn dập; vận công nén xuống đan điền và làm cho tia nhìn dịu đi; tránh nhân điện của mình làm nhột gáy đối thủ - một tay giang hồ lão luyện !

Tên kia sau khi trả tiền, xoay mình tiến ra phía cửa đi về phía Parking lot, di động thân hình nhẹ như cơn gió thoảng. Long vội trả tiền, thấy nó đã lái xe đi, chàng nổ máy chiếc xe cũ kỷ rượt theo.

Nhìn thấy bóng dáng chiếc Mustang thể thao màu đỏ chạy nhanh như sao xẹt vừa vượt qua đèn vàng trước mặt, Long rú hết ga chiếc Truck già nua, quyết rượt theo... một tiếng rầm khốc liệt vang lên, chàng vừa vượt đèn đỏ và bị một chiếc xe Van chạy ngang đụng một cái như trời giáng vào sườn xe. Trong cơn hoảng hốt, bị văng vào thành xe đau điếng, chàng lại thấy chiếc Mustang kia quay lại và tên hải tặc nhảy ra cửa xe, chạy nhanh đến Long, tung người lên, nhắm người Long đá một cái như trời giáng; giật mình, Long đưa tay gạt mạnh một cái…

… Tiếng rơi của ly Café xuống mặt bàn đánh xoảng một tiếng lớn làm Long giật mình, chàng mơ màng, trống ngực đánh thình thịch, mồ hôi toát ra như tắm... Nhìn kỹ những mảnh thuỷ tinh long lanh sáng của ly Café đã vỡ tan, Long chợt tỉnh hẳn, à thì ra đây chỉ là một cơn ác mộng - Chàng chợt mỉm cười, không phải là giấc mộng công danh phù vân trong 30 năm của đời người :

…Vừa tỉnh giấc nồi kê chưa chín…
(Giấc mộng kê vàng)

…Nhưng đây chỉ là những phản xạ từ vô thức, những u uất bộc phát từ những ấn tượng kinh hoàng đã trải qua của những người dân không thể sống dưới một chế độ độc tài đảng trị, phải đành bỏ nước ra đi, lênh đênh trên biển cả, rừng sâu, để đem thân làm mồi cho cá mập, hổ dữ và cho những đoàn hải tặc Thái Lan man rợ chém giết, hiếp dâm…

Long càng tức giận vì nhà nước ta chẳng những không có một ý kiến gì về những vi phạm nghiêm trọng đối với sinh mạng, của cải của người dân mà hình như còn cổ võ, xúi dục những hành động man rợ đó của ngoại bang, mong mượn tay của chúng giết cho hết đi những tên phản quốc, bỏ nước ra đi; những tên phản quốc đó, sau nầy, chúng trơ trẽn gọi lại là những Khúc Ruột Ngàn Dặm. Khúc ruột đó đã vô hình chung cứu chúng khỏi bankruptcy trong thập niên 90, khi họ gởi tiền về giúp thân nhân đang bị chúng bóc lột.

Nhờ khúc ruột ngàn dặm đó mà sau nầy cứ hằng năm, những khúc ruột lại đi tham quan, du hí trong nước, đem hàng tỷ bạc nuôi sống chúng, nuôi tập đoàn lãnh đạo cũng cố quyền lực để tiếp tục sống bóc lột trên đầu trên cổ đám dân đen ! Những khúc ruột ngàn dặm đó đã quên đi những tháng năm sống trong những trại tù lao động khổ sai làm thân nô lệ, đã quên đi những tự do nhân bản bị cướp đoạt và đã quên đi ngay cả danh từ phản quốc mà chúng đã ép buộc, móc ngay trên cần cổ bản thân mình và người thân !

Long thở dài, nghĩ đến Lan, nghĩ đến giây phút kinh hoàng suýt bị tên hải tặc to lớn vùi dập, nghĩ đến Trực, người đàn ông phản kháng khi vợ bị làm nhục, bị bọn hải tặc dùng búa sát hại, nhiều và nhiều nữa những nạn nhân giẫy chết trên biển cả ! Long tiếc cho vương quốc Việt Nam hùng mạnh dưới triều vua Minh Mạng, lúc đó Thái Lan (Xiêm La), chỉ là một nước yếu, hằng năm phải triều cống nước ta.

Ngay trước năm 1975, Thái Lan cũng chỉ là một lân bang hiền hòa, sống với nhau cũng có thể nói là rất bình yên; thế nhưng khi bọn CS tiến chiếm toàn cõi miền Nam, mọi sự đảo lộn... tự do mất hết... vật đổi, sao dời !!!

BS. Tôn Thất Sang
(Viết theo lời kể)
Cựu Tù nhân Chính Trị Quảng Nam - Đà Nẵng

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |