Talking



LIVE Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ









Nghe Trực Tiếp Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ








Xin nhấn vào đây để nghe


Talking



LIVE Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ









Nghe Trực Tiếp Diễn Đàn Chính Trị Tranh Luận Dân Chủ








Xin nhấn vào đây để nghe


Bài Mới

Ly Hương Đấu Tranh Tiếng Nói Người Việt Tỵ Nạn Không Chấp Nhận CSVN .


Friday

QUYÊN DI: TRÍ THỨC THÂN CỘNG ?




VC pha hoai bau cu Trong những ngày vừa qua, một nhân vật bình thường bỗng dưng trở nên nổi tiếng trên các diễn đàn internets, cả về xấu lẫn tốt. Đó là ông Quyên Di, một nhân vật mà chúng ta thường thấy trên vô tuyến truyền hình (TV) qua mục: “…” Nhiều người thắc mắc:

1/ Ông Quyên Di là ai ?

2/ Ông Quyên Di đã làm gì ?

3/ Taị sao ông Quyên Di bị nhiều người chống đối, mạ lỵ ?

I/ Ông Quyên Di là ai ?

Ông Quyên Di là người Công Giáo, họ Bùi, tên Chúc, bút hiệu là Quyên Di. Trước năm 1975, ông là giáo sư trường Nguyễn Bá Tòng Saigon, nhưng không biết ông có tốt nghiệp trường đại học nào không. Tiểu sử của ông do chính ông viết như sau:

Nhà văn của tuổi thơ. Sinh năm 1947 tại Bạch Mai Hà Nội. Nguyên quán Ngọc Lũ, Bình Lục, Hà Nam, di cư năm 1954 vượt biển tháng 12 năm 1977, hiện định cư tại Hoa Kỳ từ tháng 4-1978 đã: dạy học, thư ký nguyệt san Tuổi Hoa Sàigòn, chủ biên nguyệt san Ngàn Thông, tạp chí Phương Ðông (cùng Ðông Duy) hiện chủ nhiệm: Nguyệt san Tuổi Hoa, nguyện san thần học-tu đức Thời Ðiểm Công Giáo. Tác phẩm: Tuổi Trăng Tròn 1 và 2 - Vết Chân Chim - Tuổi Ướm Mơ - Cánh Phưọng Rơi - Thu - Chuông Ðêm - Thoáng Mây Bay - Hành Trang Lên Ðường -Tương Lai Giới Trẻ - Việt Nam Hải Ngoại - Hoa Hồng Nhà Kín - Nhìn Xuống Cuộc Ðời.

Sang Mỹ, theo như ông cho biết thì ông cũng rất may mắn vì được trở về nghề cũ. Ông không những lại được dậy học mà còn được dậy tại trường đại học chứ không phải là trường trung học như ngày ông còn ở Việt Nam. Cũng theo ông, ông hiện là giáo sư (professor substitute) dậy về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam của trường Đại Học UCLA (University of California, Los Angeles) và CSULB (California State University Long Beach). Với chức vụ là giáo sư đại học, ông đã làm nhiều người thắc mắc: Không biết ông Quyên Di đã tốt nghiệp bắng cấp gì mà dám nhận là giáo sư đại học (professor), một tước vị (title) mà chỉ những người có cấp bằng tiến sĩ (Ph.D), được nhận dậy tại đại học và do đại học cấp? Thực ra vấn đề quan trọng mà chúng ta cần bàn ở đ ây không phải là cái tước vị của ông mà là việc làm của ông.

.

II/ Ông Quyên Di đã làm gì ?

Với chức vụ giáo sư dậy về Ngôn Ngữ và Văn Hoá Việt Nam của trường Đại Học UCLA và CSULB, ông đã từng tham dự và thuyết trình về ngôn ngữ, văn hoá tại nhiều nơi. Ông cũng có dịp hướng dẫn sinh viên Việt Nam tại hai trường Đại Học này về Việt Nam để tìm hiểu về ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam từ mấy năm trước. Theo bản tin của Sông Hồng thì ông Quyên Di đã về Việt Nam năm 2012. Theo ông Hùng Thế cho biết thì “xem các videos được thấy ghi chú do các em...thực hiện muà hè 7/2008 có hình anh̉ Gs QuyênDi cùng các em về VN...và các em tham dự các buổi học tập hè do các Gs Ts, phó Ts Khoa trưởng Khoa ViệtNamHọc ĐạiHọc KhoaHọc XãHội và NhânVăn viện đại học QuốcGia Hànội và SaìGòn giảng dậy ...cùng các buổi đi "tham quan thắng cảnh cỗi rễ...". Nhưng chuyện này chỉ mới bùng nổ trong mấy tuần gần đây khi một bản tin do ông Nguyễn Kinh Doanh gửi đi với tựa đề là “Nhà văn Quyên Di công khai hợp tác với Cộng Sản”. Vì thế ông Quyên Di đã phải viết một lá thư dài vừa để minh xác vừa để chia sẻ và gửi lên các diễn đàn. Tôi xin được tóm tắt 4 điểm chính như sau:

1/ Ông xác nhận “Bản tin này trích lại một bản tin khác của khoa “Việt Nam Học và Tiếng Việt” thuộc Đại Học Khoa Học Xã Hội & Nhân Văn Hà Nội, tường thuật buổi nói chuyện của tôi ở khoa này”

2/ Năm 2012, tôi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” được tổ chức ở Hà Nội. Tôi không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA.

3/Lo lắng cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hoá cộng sản xâm nhập là chuyện rất đúng. Nhưng theo tôi, trực diện với họ khi có cơ hội và có tư thế là chuyện rất cần. Những sự thật chúng ta nói lên một cách xác quyết, người nghe không thể nào không có suy nghĩ và bị thuyết phục

4/ Đại học không đặt vấn đề chính trị. Đại học chỉ đặt vấn đề phát triển chương trình giảng dạy. Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là “không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.”

Ông Quyên Di nói ông “Lo lắng cộng đồng bị ngôn ngữ, văn hoá cộng sản xâm nhập là chuyện rất đúng” nhưng ông lại chủ trương “Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.”

Ông Quyên Di không những là người Bắc di cư vào Nam năm 1954 và vượt biện năm 1977 để trốn chạy Cộng Sản, ông lại là người Công Giáo, ông thừa hiểu Cộng Sản đặt vấn đề văn hoá rất nặng. Không những trong thời chiến mà cả trong thời bình, lúc nào chúng cũng kiểm soát rất chặt chẽ. Chẳng thế mà sau khi thôn tính được miền Nam, mặc dầu chúng đã bắt tất cả các quân nhân VNCH từ cấp Thiếu Úy trở lên và các công chức VNCH từ cấp Chánh Sở trở lên đi tù mà chúng còn muốn bắt giam tất cả các văn nghệ sĩ. Chúng đã coi tất cả các người làm văn hoá tức các nhà văn, nhà báo là bọn Biệt Kích Văn Hoá nên chúng đã tạo nên vụ nổ tại hồ Con Rùa còn gọi là vụ án hồ Con Rùa vào đêm 1/4/1976. Sau đó một chiến dịch quy mô được Việt Cộng tung ra để lùng bắt tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng “phong thần” trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh là CIA và đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”.

Vậy mà nay ông lại chủ trương “Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.” thật không khác gì “giao trứng cho ác”.

Ông Quyên Di nói rằng ông chỉ là người làm văn hoá, ông không bao giờ để cho chính trị len vào lỏi vào văn hoá. Nhưng ông lại cho rằng “trực diện với họ khi có cơ hội và có tư thế là chuyện rất cần. Những sự thật chúng ta nói lên một cách xác quyết, người nghe không thể nào không có suy nghĩ và bị thuyết phục. Ông thật ngây thơ, bọn Cộng Sản, nhất là bọn Việt Cộng là một bọn người rất ngoan cố. Một tên Việt Cộng chưa chắc ông đã thuyết phục nổi chứ đừng nói là cả một tập đoàn.

Ngay cả việc ông đưa các em học sinh đi “tham quan” (thăm) các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử, ông có được tự do không hay đi đâu cũng phải do bọn Việt Cộng tổ chức và đi theo? Khi thăm Hồ Hoàn Kiếm, ông đã nói gì về Hồ Hoàn Kiếm với các em? Ông đã nói gì về Vua Lê Lợi với 10 năm kháng chiến chống quân Tầu (giặc Minh), Ông có đưa các em đi tham gò Đống Đa không ? Ông đã nói gì với các em về Vua Quang Trung đại phá quân Tầu (giặc Thanh). Ông có đưa các am đi thăm đền Hai Bà Trưng không? Ông đã nói gì với các em về Hai Bà diệt quân Tầu (giặc Ân)? Ông có đưa các em đi thăm đền Đức Trần Hưng Đạo không? Ông nói gì về Đức Trần Hưng Đạo đã phá tan quân Tầu (giặc Mông Cổ) trên sông Bạch Đắng ? Hay là ông để cho bọn Việt Cộng đưa các em đi thăm lăng “Bác”? đi thăm viện bảo tang “Mỹ Ngụy”?

Chắc ông Quyên Di cũng đưa các em sinh viên đi thăm Huế ? Ông có nói cho các em sinh viên biết chính nơi đây vào Tết Mậu Thân 1968, bọn Việt Cộng đã không tôn trọng lệnh hưu chiến trong nhũng ngày Tết. Chúng đã ra lệnh tổng công kích và chiếm được Huế gần một tháng trời. Trước khi chúng bị quân đội VNCH đánh bật ra khỏi Huế, chúng đã giết và chôn sống trên 6 ngàn người dân vô tội?

v.v…

Tóm lại, trong lá thư minh xác của ông Quyên Di ông đã xác nhận là: “Năm 2012, tôi dự “Hội nghị Quốc tế Việt Nam học” được tổ chức ở Hà Nội. Tôi không đi một mình mà đi cùng với ban giáo sư khoa Ngôn ngữ và Văn Hoá Nam Á của đại học UCLA. Và theo ông “Về khoa ngôn ngữ, suy nghĩ của đại học là không gì hơn là mời người tại chính quốc gia sử dụng ngôn ngữ đó làm giáo sư giảng dạy.” Có nghĩa là ông chủ trương nhà trường cần phải mời những giáo sư Việt Cộng sang giảng dậy về những môn Ngôn Ngữ Việt, Văn Hoá Việt mới có hiệu qủa tốt.

Những môn như Ngôn Ngữ Việt hay Văn Hoá Việt là những môn có liên quan tới lịch sử, mà bọn Việt Cộng là vua bóp méo lịch sử. Liệu ông Quyên Di có dám đề nghị tống cổ bọn giáo sư Việt Cộng về nước không nếu thấy chúng đã giảng dậy sai sự thật?

Nói ông Quyên Di là một trí thức thân Cộng có lẽ còn quá nhẹ. Phải nói ông là một trí thức đã hợp tác với Việt Cộng đúng như bản tin mà ông Nguyễn Khinh Doanh đã gửi đi.

Lê Duy San

NHỮNG KHOẢNG TRỜI RIÊNG




Bức Tranh Phong Cảnh Dòng Sông Quê Em


Nhũng đề tài muôn thuở: «tình yêu và quê hương» là nguồn sáng tác vô tận của nghệ sĩ; nhất là đối với những ai đã từng trải qua chiến tranh và ngục tù, hay chứng kiến sự thăng trầm của đất nước, có lẽ khó mà quên được những mất mát, chia ly, đổ vỡ. Từ trong sâu thẳm của nỗi buồn, vết hằn quê hương đã bật lên cung bậc chất chứa những đau thương minh họa bằng hình nốt, tiết tấu gieo thành bản hòa tấu mang chung giai điệu : «Tiếng nấc nghẹn của tâm hồn!»
Hành trrình vào cõi thơ là làm một cuộc phiêu lưu vô tận. Thơ bắt nguồn từ cảm xúc tâm hồn, nơi ẩn chúa những mối tình thiêng liêng sâu kín nhất. Phải chăng làm thơ là đi giữa cõi mộng và thực để đời trổ nhánh đâm hoa và đưa thực vào mộng cho hồn vơi đi những nỗi đau trần thế.
Thi nhân nặng nợ với tình thơ nào khác chi kiếp tằm nhả tơ ? Người nghệ sĩ ước mơ lớn nhất của họ là để lại cho đời dăm ba tác phẩm, hay ít bài thơ đắc ý. Dù mai sau tác giả có đi vào quên lãng thì những vần thơ trác tuyệt đó cũng dệt cho đời những đóa hoa muôn sắc. Hồn thơ tựa làn khói, mùi hương ; mà hương thì vô ảnh người đời chỉ cảm nhận chứ không thấy được hình tướng. Nhưng ngay cả lúc hữu hình, hồn thơ hóa thể thành sợi khói, vầng mây…chúng ta đều nhìn thấy nhưng nào ai nắm bắt được ? Phải đợi đến lúc con tim rung cảm thúc đẩy, hồn thơ nhập vào thi nhân thơ mới bật. Thơ vốn sãn trong thiên nhiên, hàm chứa nhiều tính chất trong trời đất. Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa, nhưng hình ảnh và nhạc điệu của ngôn ngữ thơ lại rất khác với văn xuôi mà chỉ có những tâm hồn thơ mới cảm nhận được.

Bước vào cõi thơ là lắng nghe tiếng đời thỏ thẻ, tiếng lòng thi nhân khát vọng. Tùy theo tâm cảnh, cảm xúc, tư duy về đối tượng mà sắc màu trong mỗi tâm hồn nghệ sĩ cảm nhận có thể khác với màu sắc ngoài thiên nhiên khi diễn tả. Thi hào Nguyễn Du đã giải bày qua câu thơ Kiều:
“ Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
 Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ! “
Ngôn ngữ của thơ đôi khi ẩn trong văn, nhạc và hội họa, nhưng hình ảnh và nhạc điệu của ngôn ngữ thơ lại rất khác với văn xuôi mà chỉ có những tâm hồn thơ mới cảm nhận được. Nhà thơ không làm công việc của nhà lý luận, nhà khoa học, nhà thần học hay triết gia…để tìm cái mới lạ trong thế giới hiện hữu, cái huyền bí của vũ trụ..vv..nhưng thi nhân có thể sống với với tôn giáo, luân lý qua tâm linh để phát hiện thêm lẽ đạo của cuộc đời, và sống triết qua thơ ? Thi sĩ Bùi Giáng đã thở bằng thơ trong bài đi vào cõi thơ, thi sĩ minh họa : « …Cõi thơ là cõi bồng phiêu ».
Nhập vào thơ là sống trong cõi phiêu bồng. Cây khô cành mục làm sao có thể nở hoa? Thơ cũng thế chỉ nở rộ ở những tâm hồn nghe được tiếng thở của con tim và biết cách diễn tả. Nhưng nghe được mới chỉ là cảm nhận giữa người và thơ cùng có chung một tần số. Muốn diễn tả những rung cảm đó qua thơ cần phải có thi hứng, mà thi hứng là do thiên phú, nhưng từ thi hứng đến nghệ thuật là bước khá dài, đòi hỏi nhiều nghiên cứu học hỏi. Thơ có thể là vần hay không vần, nhưng đó chỉ là một trong những chất liệu dự phần của cấu trúc trong quá trình hoàn thành thơ. Một chuỗi câu, nhóm từ, cắt ráp kiểu tiền chế được kết lại, nếu chỉ dựa vào vần dễ biến thành bài vè. Và một số câu , nhóm từ không vần nếu không có các yếu tố khác phụ thêm để hoàn chỉnh thơ, cũng biến thành đọan văn xuôi thiếu mạch lạc và trong sáng. Thơ và nhạc là hai nghệ thuật riêng biệt nhưng rất khắn khít nhau làm say đắm lòng người. Thơ là nghệ thuật của «lờì», nhạc là nghệ thuật của «âm thanh». Trong thơ có chứa:Tư tưởng, triết lý, tôn giáo, hội họa, âm nhạc… ngoài những chất liệu như ngôn từ, hình tượng, vần điệu, niêm luật, ẩn dụ, hoán dụ…trong cấu trúc để hình thành nên thơ, riêng thơ Việt Nam và thơ Trung Hoa còn có thêm chất họa và nhạc. Âm nhạc là một môn nghệ thuật dùng âm thanh làm ngôn ngữ để diễn đạt tư tưởng và tình cảm con người. Ngày nay người ta còn dùng âm nhạc trị bệnh tâm thần(musicothérapie).

Nghe những giai điệu dìu dặt khoan thai người thưởng lãm có cảm giác lạc vào cõi thiên thai, thơ mộng. Riêng thơ chưa có một định nghĩa nào là mẫu mực, « người ta chỉ cảm thơ là một môn nghệ thuật của nghệ thuật, phát xuất từ cảm xúc tâm hồn. »
Nói đến ca khúc, người ta thường có thói quen nghe nhạc qua cảm âm dựa trên lời ca mà ít chú ý đến thẩm âm, phần cấu trúc gồm giai điệu, tiết tấu, hay cách phối khí hòa âm vv… . « Thơ phổ nhạc là nghệ thuật đem thêm âm hòa với âm thanh sãn có trong thơ, hoặc thay đổi âm thanh của thơ chuyển thể thành những nốt nhạc để hát. Nhưng đọc thơ, hát thơ hay còn gọi là ngâm thơ hoàn toàn khác với nhạc thơ. Ðọc và hát thơ không cần áp dụng những quy tắc kỹ thuật cũng như mỹ thuật quá phức tạp của âm nhạc, vì nhạc trong thơ là những âm phát từ thanh bằng trắc của câu thơ ; trong khi thơ trong nhạc hay còn gọi là tính nhạc gồm những hình tượng, ngôn ngữ được ngắt nhịp theo tiết tấu riêng để diễn tả giai điệu toàn bài chuyên chở tứ thơ.
Thơ hiện diện trong mọi thời đại, vào thời ly loạn xa xưa thơ đã giãi bày nỗi niềm của người thiếu phụ tiễn chồng ra sa trường rồi trở về sống với nỗi cô đơn phòng vắng, phải gánh chịu bao đau thương ngậm ngùi ! Trong tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn và ĐoànThị Điểm là những áng thơ đẹp đã diễn tả về tâm cảnh ấy. Thi nhân đã dùng gôn ngữ hình tượng họa lên một bức tranh tuyệt tác:
“..Ngoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.”
Thơ tình là thể  thơ dễ làm nhưng khó hay ! Bài thơ tình được đời khen là tuyệt vời rất khó, bài thơ phải đạt cả nội dung lẫn hình thức.
“Em về mấy thế kỷ sau
Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không ? ”
 (Bùi Giáng)
Không phải lúc nào thi nhân cũng làm thơ trữ tình êm ả, thổn thức lời dịu ngọt chuyện lứa đôi hạnh phúc hay đau khổ, nhưng đời mà thiếu Tình như trái tim thiếu máu, tách thơ trữ tình ra khỏi thi nhân thì nhà thơ chỉ còn là cành khô, lá úa! Thơ tình “lứa đôi” là những trái mộng đầu đời ai cũng có thể hái, chắt chiu kỷ niệm, gom nhặt cảm xúc trang trải lên trang giấy học trò thành nhiều bài thơ tình có bài hay, có bài dở, nhưng thiếu tính độc đáo, cho nên thời gian đã gạn lọc rồi mang những cảm xúc thơ ấy bay theo gió về một cõi mơ ! Để thành một bài thơ tình xuất sắc, độc đáo rất khó ! Cái khó ở đây cả nội dung lẫn hình thức. Ở tuổi mới lớn những tâm hồn mơ mộng có thể làm được nhiều thơ tình đầy cảm xúc nhưng nặng chất học trò. Người làm thơ chưa đủ ngôn ngữ chắt lọc, hiểu biết sâu rộng về cấu trúc thơ để có thể diễn đạt được những cái hay cái đẹp của thi ca vào trong cõi tình. Có người cắt xén những ca từ của những nhạc phẩm hoặc cóp nhặt những mẫu chuyện tình trong các tiểu thuyết Âu Á, hay của những bài thơ khác rồi cắt dán, vá víu gọi là sáng tạo?! Trong muôn vàn bài thơ tình làm từ thuở học trò cũng chỉ có một số ít bài hay đã đến với giới thưởng ngoạn, và số ít người làm thơ đó chính là thi sĩ với những bài thơ tình mang tính độc đáo. Để diễn tả thơ tình người làm thơ thường dùng nhiều thể thơ khác nhau, nhưng với lục bát hay ngũ ngôn dễ kể lể hơn. Loại thơ ngũ ngôn tứ tuyệt rất khó diễn đạt vì quá ít chữ  và câu lại ngắn nên nhà thơ thường dùng thể thơ 5 chữ nhiều đoạn để diễn tả. Thể thơ này dễ làm nhưng lại khó diễn tả hay vì điệp ngữ,  trùng ý ! Do đó nhà thơ phải chọn chữ lồng ý để mạch thơ được liên tục không lập lại những ý, câu chữ  ở những đoạn trên. Một bài thơ được làm ra từ hứng cảm nhiều khi nhà thơ không mấy chú trọng hoặc cố y mang những chất liệu âm nhạc hội họa tư tưởng vào thơ, nhưng trong thơ vẫn có, vì những môn nghệ thuật ấy đã được nhà thơ học hỏi, hoặc cảm nhận từ lâu. Nó đã in sâu vào tiềm thức  của nhà thơ, và khi làm thơ dù không cố tình nó vẫn tuôn ra theo mạch cảm hứng của thơ. Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp viết bài Chùa Hương năm 1934 là bài thơ tình xuất sắc. Nhà thơ diễn tả tâm trạng người thiếu nữ ở tuổi chớm dậy thì của đầu thế kỷ 20 trước, thời đó xã hội còn nặng chất phong kiến, trai gái chưa dám đối diện tỏ tình, thế mà cô bé mười lăm đã dám thỏ thẻ tiếng lòng khi gặp tiếng sét ái tình. Bài thơ được lồng trong phong cảnh đẹp nửa tiên nửa trần thật tuyệt vời. Hai câu chót của bài thơ diễn tả cái tâm đích thực của tình yêu qua lời nguyện cầu. Nàng chẳng cầu xin khỏe mạnh, giàu có tiền tài hay học hành tấn tới, mà chỉ xin: « Sao cho em lấy được chàng». Bài thơ này về sau đã được bao nhạc sĩ phổ thành nhạc còn truyền tụng mãi đến hôm nay. Vì bài thơ dài, xin minh họa vài nét :
Chùa Hương
Hôm nay đi chùa Hương.
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy.
Em vấn đầu soi gương….
Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm…
Nhưng em chưa lấy ai,
Rằng em còn bé lắm,
Ý đợi người tài trai…
Phơn phớt áng mây hồng.
Giòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ!
Thầy khen hay, hay quá!
Em nghe ngồi ngẩn ngơ.…
Em đi, chàng theo sau,
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giàu…..
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi…
Làn gió thổi hây hây.
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở!
Chàng ôi, chàng có hay?...
Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.
 Trong khi đó thơ tâm linh là một loại thơ ẩn chứa ý tưởng huyền bí cao siêu, ngôn ngữ thơ chân phương nhưng sâu sắc. Về lãnh vực tâm linh, ngay cả những vị chức sắc, cao tuổi trong tôn giáo mà vẫn còn đang nghiên cứu học đạo ; thì người làm thơ làm sao diễn đạt được sự huyền bí cao siêu về tâm linh ? Một khi chưa hiểu hay không hiểu được những kỳ bí trong con người và vũ trụ thì không thể cảm được lẽ đạo để biến thành nghệ thuật thi ca ? Trừ phi nhà thơ đó là người chịu khó nghiên cứu đạo, uyên thâm tư tưởng, hoặc được thượng đế ban cho một cảm nhận đặc biệt như «Mở Huệ Nhãn» bên Phật Giáo, và «Mặc Khải Hồng Ân» bên Thiên Chúa Giáo..vv…
Thời nào cũng vậy người đi học, đỗ đạt thì nhiều nhưng kẻ sĩ thì hiếm ?! Nhất là khi đất nước có chiến tranh hay bị giặc ngoại xâm, chỉ có kẻ sĩ mới dám dấn thân và lên tiếng. Thơ quê hương đất nước luôn bàng bạc trong mỗi con người, tùy theo thời thế hoàn cảnh đã tác động sự rung cảm của thi nhân. Thi sĩ Tản Đà đã trải tấm lòng qua bài thơ đầy tình tự quê hương:
“Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non...”
(Thề Non Nước)
Thơ nhập vào hồn thiêng sông núi, chuyển biến theo vòng thế sự, hòa với sự thăng trầm của dòng lịch sử dân tộc. Hồn thơ hừng hực như hỏa diệm sơn, cuồn cuộn thác lũ, ý thơ sắc bén như ngàn gươm đao, mạnh hơn vạn quân. Bài thơ là ngọn lửa kích động tinh thần yêu nước, là ý chí đấu tranh chống ngoại xâm. Xưa danh tướng Lý Thường Kiệt đã viết bài Nam Quốc Sơn hà như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc:
« Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. »
Dòng lịch sử thế giới ghi lại, có một thời dấu vó ngựa cửa đoàn quân Mông Cổ đã tung bụi mờ khắp muôn dặm, làm bạt vía trời Âu Á . Thế giặc thuở đó như sóng vỡ tiến vào nước ta, vua tôi nhà Trần một lòng giữ nước quyết chống ngoại xâm. Hưng Đạo Vương đã soạn ra một quyển binh thưYếu Lược. Bài Hịch Tướng Sĩ, vua tôi nhà Trần đã cùng nhau một lòng đẩy lui được đoàn quân ngoại xâm.
Bài Bình Ngô Đại Cáo của thiên tài Nguyễn Trãi không những là khúc ca hùng tráng của dân tộc mà còn làm rạng rỡ nền văn học cổ điển nước nhà:
 “Tốt năng dĩ đại nghĩa, nhi thắng hung tàn,
Dĩ chí nhân, nhi địch cường bạo.”
(Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân mà thay cường bạo.)
Ngày xưa tráng sĩ Đặng Dung đã giải bày tấm lòng trung liệt qua câu thơ đầy khí tiết:
“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ long tuyền đái nguyệt ma.”
( Thù chưa trả xong đầu đã bạc,
Dưới trăng bao độ tuốt gươm mài.)
Thi sĩ Nguyễn Bá Trác mang nỗi sầu đất nước đã gởi tâm sự mình qua bài Hồ Trường:
“ …Vỗ gươom mà hát
Nghiêng bầu mà hỏi
Thiên hạ mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.…
Nào ai tỉnh nào ai say ?
Chí ta ta biết, lòng ta, ta hay…. »
Nhiều khi thi nhân bị người đời gán cho là những kẻ thương vay khóc mướn, điều ấy có quá khắt khe chăng; vì nhà thơ nào phải là tượng đá? Hồn thơ sẽ xanh rêu chết yểu nếu chẳng còn rung cảm trước những biến đổi buồn vui của ngoại cảnh để hòa với nhịp sống thiên nhiên, chia sẻ  nỗi đau của tha nhân, hay tự xoa dịn niềm đau của chính bản thân mình? Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã tả về đất nước và thân phận những con người trước sóng nước hãi hùng của biển cả vào giai đoạn giữa thế kỷ 20 qua bài Phương Xa :
«.. Lũ chúng ta, đầu thai nhầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi trơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền ! xin ghé bến hoang sơ…»
Có nhiều khi thơ là tiếng uất nghẹn, lời than từ đáy ngục tù, nơi giam hãm những tâm hồn yêu tự do. Thơ là nơi trú ngụ của những tâm hồn đau khổ, là tiếng vọng vào đời ngân lên tiếng nói chân chính của con tim để giải oan cho những tâm hồn thanh cao bị bạo lực truy bức đến chỗ khốn cùng! Nhờ có thơ thi nhân trong thân phận người tù đã nương vào con chữ tìm chỗ dựa để hồn chấp cánh bay cao thoát vực sâu đầy tối tăm! Dù trong mọi hoàn cảnh, kể cả lúc nghiệt ngã nhất thơ và thi nhân vẫn là bạn đồng hành chia xẻ những buồn vui. Thơ như dòng suối mát giúp tâm hồn thi nhân vượt thoát những sầu muộn. Nhà thơ chân chính luôn có tâm hồn thanh cao độ lượng nên đã biết yêu thiên nhiên và đồng loại. Nhà thơ Hà Thượng Nhân dù ở trong cảnh ngộ tù đày khốn cùng, vẫn hát tiếng hát tình nguời :
« Chúng ta đói khổ cách nào
Nắm tay chấp cái gian lao vẫn cười
Mùa xuân cây cỏ xanh tươi
Xác tù, lòng vẫn lòng người tự do.
Chia nhau từng hạt bo bo
Thương mình nghĩ lại thương cho kẻ thù
Mình tù hay họ là tù ?...”
 (Xuân Trong Tù)
Ngục tối có thể giam hãm xác thân người tù nhưng ngục tối không thể giam hãm được tâm hồn, ý chí những người bất khuất. Từ những đau thương thi nhân đã diễn tả những xúc cảm đó thành những ngọn lửa hừng hực cháy trong lòng người tự do. Ngày nay thơ là bạn đồng hành với những người xa xứ. Thơ chia xẻ niềm đau, nổi nhớ và sự cô đơn diễn tả tâm trạng kẻ xa quê, nhưng chốn phồn hoa đầy vật chật đã dần làm khô héo đi tính lãng mạn, phải nặng nợ với tình thơ lắm thi nhân mới ôm cái nghiệp dĩ vào thân lắng hồn mình vào ngoại cảnh để thấy hoa cười trong nắng mai, sợi buồn giăng cỏ úa, và nghe cả tiếng thở dài của thời gian. Nhà thơ Phương Triều mang kiếp ly hương, thấm nỗi sầu viễn xứ ngẫm chuyện thế nhân và ngậm ngùi nhìn xuân trôi, thi sĩ đã để hồn thơ lai láng hòa nhập trong ngữ nghĩa theo nhịp con tim, khéo léo trong cách sử dụng con chữ như những tiếng thì thầm vọng từ một cõi mơ để diễn tả cái chiều sâu của bài thơ mà không chú trọng về mặt chải chuốt, bóng bẩy làm đẹp ngôn từ, nhưng lại rất tỉ mỉ khi chọn nghĩa ngữ, và sắp xếp câu thơ thành một thông điệp riêng của tiếng lòng gởi tặng đời. Thơ của ông là một thế giới riêng biệt. Nhà thơ khéo sử dựng nhạc tính trong thơ bằng một lối gieo vần ngắt nhịp ghép từ qua những âm kép làm giai điệu thêm phong phú. Ngôn ngữ trong thơ là những hình ảnh thắm màu sắc quê hương bao gồm những đau thương lẫn mật ngọt của quá khứ thêm chút hiện thực ê chề. Tác giả đã vẽ lên chân dung của những mảnh đời vỡ vụn qua bài Nghĩa Trang, trích trong Xóm Mộ đã diễn tả cảnh khốn cùng, nỗi cơ cực. Hình ảnh nhiều loài động vật được sử dụng lối ẩn dụ, để ẩn dấu, hoán vị nhiều cảnh đời khác nhau : Mưa ở đây là điều mong một sự thay đổi, vì ở nghĩa trang đầy mộ bia làm sao đào giếng ? Như thế là thiếu nước ! Đất Nước và tình cảm gắn bó của người Dân đã hình thành tổ  quốc, thiếu nước người dân như bị lạc loài trên chính quê  hương mình. Cơn mưa không đến trong mùa nắng hạn theo nghĩa mong chờ, mà mưa gió đã làm ướt sũng những thân phận nghèo, những căn lều rách giăng bằng bao cát, làm tái tê buốt phận nghèo ! Mưa ở đây làm mát tâm hồn. Chuỗi từ: Ngầu mắt đỏ, diễn tả bạo lực chỉ muốn cắn những kẻ khố rách !:
« Nửa đêm bất chợt mưa qua xóm
Gió dẫn bầy mây đứng sắp hàng
Sói giọt nước buồn trên đất bạc
Lùa thêm ẩm lạnh góc điêu tàn !
Hạ nồng cho tóc khô như rạ
Chiếc võng đu đưa sầu nghĩa trang,
Mưa ơi, lều bạt dù tan nát
Lòng vẫn thèm mưa giữa nát tan !
Con chó nhà ai ngầu mắt đỏ
Cắn đen thi thể buổi hoang tàn
Đám tang không có người ai điếu
Người chết nằm quên hết họ hàng !
Người chết hôm qua còn hát dạo
Ru đời mưa gió giữa lang thang
Người đó đêm qua say ngất ngưởng
Vung tay đấm ngực rồi cười khan !
Người đó hôm nay không hát nữa
Trợn trừng mắt đợi chút hương nhang !...
Nè em, đào giúp ta phần mộ
Ta dẫu người dưng cũng họ hàng
Nếu chẳng con Hồng thì cháu Lạc
Lều rách cùng nhau xóm nghĩa trang
Ông già vé số, cô chè đậu
Chia chút tình riêng chú lễ tang !... »
( Nghĩa Trang )
Tâm trạng người tha hương não nề. Hồn quê đã gắn chặt vào kẻ xa xứ nên không hình ảnh nào của quê người có thể thay thế được. Từ ngàn xưa cho đến nay dòng sông thi ca nhân loại vẫn trôi theo tháng ngày dù có lúc thăng trầm, khi vinh quang thơ được mùa ngự trên đỉnh cao chót vót, nhà thơ được yêu qúy ca ngợi, nhưng đến lúc suy thơ và thi nhân rơi xuống tận đáy vực sâu; người đời bỏ quên, ruồng rẫy! Ở Trung Hoa vào thời đại Tần Thủy Hoàng xa xưa, bạo chúa đã đốt sách, chôn sống văn nhân, ở Việt nam dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, nhà nước vì muốn kiểm soát chặt chẽ tư tưởng quần chúng nên cấm đoán những tác phẩm viết từ những trái tim chân chính, nhiều văn nghệ sĩ đã bị cấm viết, và tù đày! Bách hại thế mà nhà thơ muônđời vẫn nặng gánh tình thơ chẳng ai muốn quăng bút cho nhẹ gánh. Phải chăng trên đời nếu không có nghệ sĩ thì ai cảm được sự màu nhiệm tuyệt vời của thiên nhiên mà phổ biến? Ai chia xẻ nỗi buồn của tha nhân?...vv.. Ở cõi nhân gian đầy hệ lụy này thi nhân đóng một vai trò tích cực trong cuộc sống; ngay cả khi đã qua đời những áng thơ văn tuyệt tác đó vẫn có thể giải buồn hoặc làm điểm tựa tinh thần nâng cao ý chí với những người đồng điệu hằng thế kỷ sau, và sự đồng cảm là sợi giây nối giữa ngươì ngàn xưa với ngàn sau. Tâm hồn thi nhân rất phong phú, cảm xúc nhạy bén nên hòa nhịp niềm đau của tha nhân bằng nghệ thuật, vì thơ còn là nơi trú ngụ của những tâm hồn thanh cao. Nhà thơ đã cảm nghiệm bằng chất liệu sống để diễn tả cảnh đời với chút thực, chút hư thành những mảng màu sắc riêng biệt qua ngôn ngữ hình tượng của thơ. Nhà thơ đã từ cái thực của cuộc đời đi vào cái mộng của đam mê để cuộc đời thăng hoa. Chỉ có cảm xúc chân thật mới có thể diễn tả bằng nghệ thuật, ngược lại nghệ thuật khơi mở cảm xúc chân thật. Nhà thơ Phùng Quán đã dùng ngôn ngữ chân phương, không văn hoa chau chuốt để diễn tả cái tâm qua từng câu chữ, dựa trên thanh âm để tạo nhịp. Bài thơ chứa nhạc tính mang chất hùng ca, ý tưởng bài thơ sâu sắc, như một thông điệp cho đời về tính trung thực của con người với tha nhân không chịu khuất phục trước bạo lực. Bài thơ Lời Mẹ Dặn đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm, xin trích vài đoạn:
«yêu ai cứ bảo là,yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều,
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao doạ giết
cũng không nói ghét thành yêu..

Tôi muốn làm nhà văn chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã.
Bút giấy tôi, ai cướp giật đi
Tôi sẽ viết văn trên đá. »
(Lời Mẹ Dặn)
bài thơ này đã vượt thời gian thành một bài học, phương châm sống cho đời, hay ít ra cũng làm thước đo cho những kẻ cầm bút chân chính. Sau này, nhiều nhà văn trên thế giới dù bị bạo quyền áp bức vẫn dũng khí dõng dạc chống trả đòi tự do và quyền làm người mà không hề run sợ. Ngày nay thế giới đã lưu tâm hơn đối với người cầm bút, và quốc tế đã dành cho nhà văn những giải thưởng văn chương Nobel vinh dự. Ở những thế kỷ trước Nguyễn Du đã nói : «Chữ TÂM kia mới bằng ba, chữ TÀI.».
Trong vườn Thi Ca Việt Nam của đầu thế kỷ trước, khuynh hướng Đường thi dần suy tàn, nhường chỗ cho phong trào lãng mạn của thơ mới 1932- 1945 nở rộ,  ảnh hưởng của dòng thơ lãng mạn Pháp khởi từ đầu thế kỷ 19. Thơ mới phá bỏ đi những luật lệ cấu trúc gò bó của thơ cũ, mà hướng về cái nhìn thẩm mỹ theo tư duy nghệ thuật, điều đó đã dẫn đến sự thông thoáng hơn, mở đường cho các thể thơ tự do, hiện đại sau này. Những nhà thơ của thời kỳ ấy đều là những tài năng xuất chúng,  sáng tạo bằng con tim, trong số đó có Tố Hữu và một ít người khác,  bắt đầu bằng sự nghiệp cầm bút đã nổi danh là thi sĩ có tài, và có những bài thơ hay. Từ những vần thơ trữ tình cách mạng thời kỳ chống Pháp trước năm 1945, dòng thơ Tố Hữu vẫn mang tình người, đậm tình quê hương đất nước. Nhưng kể từ sau năm 1945 nhà thơ Tố Hữu đã đã đánh mất tính Chân Thật của con tim thi sĩ để trở thành «máy hót», chỉ biết ca tụng, làm một thứ công cụ tuyên truyền của Đảng CS, tâm hồn ông mang tính đảng nên yêu đảng hơn tất cả ! Ông và bộ máy đảng sản xuất ra hàng loạt câu nói vần,  biến những câu vè thành khẩu hiệu mang tính đại chúng để thi đua lập công, hò hét sắt máu !
Từ một nhà thơ, sống trong một cõi riêng, một vũ trụ nhỏ để phụng sự cái chân, thiện ,mỹ cho đời bằng tình yêu quê hương, nhân loại, nhưng ông đã khước từ cái thế giới của thi ca, dành hết tâm hồn phục vụ đảng và quyền lực ; để trở thành «cán bộ» thi đua! Tiếc thay, trong vườn hoa văn học nghệ thuật chỉ có những tâm hồn chân chính cảm xúc mới chân thật tạo hồn cho Nghệ Thuật. Những kẻ thích nổi tiếng bằng cách luồn lách, dẵm trên bằng hữu mà vươn, thì dù có được nổi tiếng thì cũng chỉ là tiếng đời mai mỉa! còn người có tài mà uốn cong ngòi bút ;cũng chỉ là những vì sao loé lên, sáng chói rồi tắt lịm trong vòm trời thi ca Việt Nam khi dòng thơ vẫn chảy muôn đời.

              Đỗ Bình 

Chuyện bây giờ mới kể: Những uẩn-khuất - " Hồn Việt UK "


Trả lời Nhà báo Thế Huy qua bài: “Việt Thường, ông là ai?”

    

                 Bài 1.   Những uẩn-khuất cần được làm sáng tỏ:

    

    Kính gửi: Nhà báo Thế Huy,

    Đồng kính gửi: Quý độc giả và thính giả của Hồn Việt UK online,

  
    Thưa quý vị,

 

  
    Nhận được bài viết của Nhà báo Thế Huy từ Paris gửi, với tựa đề “Việt Thường, ông là ai?”. Trong bài viết, tác giả Thế Huy đã đề cập đến những thắc mắc và ưu tư của mình về tác phẩm và tác giả qua cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam”. Đồng thời, ông Thế Huy cũng có phần thắc mắc trực tiếp đến cá nhân cũng như vai trò tôi đảm nhận liên quan đến quyển sách trên và trang web Hồn Việt UK online.

    

    Trước tiên, tôi Nguyễn Đức Chung, chủ trang Web Hồn Việt UK online kiêm chủ bút, xin được lần lượt trả lời những gì liên quan đến mình và những gì trong phạm vi đường hướng và mục tiêu chúng tôi đã, đang và luôn theo đuổi. Và tất nhiên, trong phạm vi hiểu biết cũng như trách nhiệm của cá nhân tôi trước công luận mà chính tôi đảm nhận trong vai trò chủ bút.

 


    Thưa ông Thế Huy,

  

    Không phải đến thời điểm này, mà trước đây, sau khi cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam” được nhà sách Văn Bút bên Hoa-kỳ ấn hành và tung ra thị trường, nhiều độc giả khắp nơi đã có cùng nhận xét như ông về ba tên đứng chung trên trang bìa của quyển sách.

    

    Cận kề nhất là dư luận tại Anh quốc, trong giới sinh hoạt thường xuyên mà tôi có tham gia hay biết đến, và nhất là quý hội viên của Hội Cựu quân nhân QLVNCH tại Vương quốc Anh, hầu hết đều có thắc mắc tương tự.

    

    Thêm vào đó, một số vị trong hội Cựu QN-QLVNCH tại Anh, đã đôi lần nhờ tôi liên lạc mời ông Việt Thường đến tham dự và “thuyết trình”. Nhưng kể từ khi tôi gặp và quen biết ông Việt Thường đến nay, chưa lần nào ông Việt Thường nhận lời mời đến nói chuyện trong các cuộc tổ chức sinh hoạt trên hay tham dự các cuộc biểu tình chống Cộng của Cộng đồng người Việt tỵ nạn CS tại Anh quốc với lý do “sức khỏe không cho phép”.

    

    Ngoài ra, nhiều vi hữu tham dự trên các diễn đàn điện tử tại hải ngoại cũng đặt các câu hỏi tương tự, sau khi nghe những cuộc nói chuyện của ông VT bắt đầu từ Hồn Việt UK online; sau đó trên VOV, VietnamExodus, SBTN, Kỷ Nguyên 2000…

    

    

    1.- Mở đầu bài viết, tác giả Thế Huy có ghi bài 1. Như vậy, theo chỗ tôi hiểu, ông sẽ còn các bài kế tiếp về chủ đề “Việt Thường, ông là ai?”. Và như đã thưa ở trên, trong vai trò chủ bút của trang Hồn Việt UK online, tôi xin sẽ trả lời những gì liên quan tới cá nhân mà liên đới đến vai trò của mình đảm nhận.

    

    2.- Vâng, trong cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam”, sau nhiều lần ông VT yêu cầu và thuyết phục, tôi đã đồng ý để bút hiệu của mình là Nam Nhân cho ông Việt Thường in trong cuốn “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam” cùng với ông Lý Tuấn.

    Lý do: Tôi đã tin tưởng vào lời thuyết phục của ông VT rằng: “Để cả nhóm ba người đứng tên thì giá trị quyển sách càng tăng. Dù hai anh không viết, nhưng cũng có góp công trong công cuộc phổ biến nó…”. Và chỉ vì mục đích có lợi cho công cuộc CHUNG là giải thế chế độ Cộng sản tại Việt Nam.

    

    3.- Phần tôi, là một quân nhân trong Quân chủng Không Quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Trước 30/4/1975, tôi phục vụ tại Sư Đoàn IV Không Quân, Cần Thơ.

    

    4.- Chuyện ông Việt Thường bị “ung thư phổi”.  Khoảng hơn bốn năm trước, một lần qua điện thoại, ông VT đã cho tôi biết, ông ta đã “bị ung thư phổi thời kỳ cuối”, nên ông yêu cầu tôi phải nỗ lực hơn trong việc viết bài và đưa những “thông tin” do ông cung cấp lên Hồn Việt UK online cùng các diễn đàn điện tử…

    

    Tin lời ông Việt Thường, tôi đã không ngại trả lời ông rằng, tôi sẵn sàng hiến tặng ông một lá phổi của tôi. Với tôi, một phần thân thể hay cả tính mạng nhỏ nhoi của mình là để mong đem lại lợi ích cho công cuộc CHUNG. Ông VT đã trả lời tôi: “…vì kỹ thuật y khoa hiện nay chưa thể ghép phổi được, nên đành chịu” và “rất cảm động” cám ơn tôi”. Nhưng thực tế, hơn bốn năm qua, ông VT còn hiện diện và vẫn đang thực hiện những gì sau khi đã bị loại khỏi Hồn Việt UK online.

    

    

    Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời tạ lỗi cùng quý độc giả và thính giả của Hồn Việt UK online, những người Việt Nam yêu nước chân chính, thực sự chống Cộng, về việc tôi đã vì quá tin tưởng vào ông Việt Thường là “người có kiến thức về Cộng sản”, từ đó có hành động thiết thực nhằm góp phần vào đại cuộc giải thể đảng Cộng sản Việt Nam, để sớm xây dựng lại một nước Việt Nam tự do, hạnh phúc không Cộng sản cho đồng bào và cường thịnh cho quốc gia dân tộc, mà tôi đã xem ông VT như một cố vấn trong đường hướng và mục tiêu hoạt động của chúng tôi một thời gian trước đây. Do đó, đã ảnh hưởng ít nhiều đến quý độc giả, thính giả của Hồn Việt UK online. Kính mong quý vị niệm tình thứ lỗi cho.

    

    Ông VT trong những lần điện đàm với tôi trước đây, ông đã từng nói: “Tôi có khả năng nói có thành không, nói không thành có”!

    

    Và cũng do đó, chính tôi đã quyết định gỡ bỏ tất cả bài viết, cũng như các phần phỏng vấn với ông VT, cùng những audio một số bài viết của ông VT mà tôi đã thực hiện.

    

    Là một quân nhân của QLVNCH, tôi luôn tâm niệm: “Tổ Quốc – Danh dự và Trách nhiệm” của một người lính. Tôi hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm của chính mình.

    

    Trân trọng,

    

    Anh quốc, ngày 20  tháng 8  năm 2014

    Nguyễn Đức Chung

----


Việt Thường, ông là ai?
THẾ-HUY Paris.
Bài 1.
Những uẩn-khuất cần được làm sáng tỏ:
Cách nay mười năm, khi rất ít người biết hoặc nghe tên nhà báo Việt Thường, tình cờ tôi thấy cuốn sách có tựa đề “Những tên đặc công đỏ trong phong trào đòi hỏi dân chủ cho Việt Nam” của ba tác giả Việt-Thường, Nam-Nhân và Lý-Tuấn trên kệ của một nhà bán sách tại Nam California. Trên bià cuốn sách này in tên và hình của Nguyễn H.?, Đoàn-viết-Hoạt, Trần-Khuê, Lý-chánh-Trung, Trịnh-công-Sơn, Trần-Độ, Nguyễn-thanh-Giang và nhất là nhóm Thông-Luận, Nguyễn-gia-Kiểng, Bùi-Tín và Vũ-thư-Hiên là những người sống ở ngoại-ô Paris mà tôi để tâm tìm hiểu từ mấy chục năm trước về sinh-hoạt và đường-lối chính-trị của họ.  Cuốn sách gồm 540 trang do Nhà Xuất Bản Hưng-Việt tại Mỹ in năm 2004, nhà sách Văn Bút ở cạnh Phúc-lộc-Thọ, Little Sàigon đại diện phát-hành và được bán với giá 18 USD.
Hai tác-giả Nam-Nhân và Lý-Tuấn, vào thời điểm đó, tôi chưa biết là ai và thuộc khuynh-hướng chính-trị nào, có phải là đồng-chí của nhà báo Việt-Thường hay không và nhất là: Cuối tất cả 11 bài viết về 11 nhân-vật và khuynh-hướng trên không ghi mỗi bài là của tác-giả nào. Điều đó có nghiã là cả ba tác-giả đều đồng quan-điểm và cùng chịu trách-nhiệm ngang nhau về tất cả những gì được nêu ra trong 540 trang sách này. Sự việc ấy rất ít xảy ra trong sinh-hoạt báo-chí, nhất là trong lãnh-vực biên-khảo về chính-trị vô-cùng phức-tạp và nhiều cạm-bẫy nhất từ trước đến nay. Đấy chính là lý-do khiến tôi mua cuốn sách này để xem ba tác-giả trên dựa vào những yếu-tố nào để xếp loại các nhân-vật trên. Dù chưa đọc, nhưng việc xếp loại ấy cũng có vẻ cùng chiều với cách nhìn của những người biết và có kinh-nghiệm với CS, trong đó có tôi.
Từ nhiều năm trước đó, chưa bao giờ kẻ viết bài này tin rằng 11 nhân-vật và khuynh-hướng chính-trị kể trên và… một số người khác nữa…, thực sự đấu-tranh cho quyền-lợi đích-thực của Đất Nước và cho Nền Dân Chủ thật sự tại VN. Họ chỉ là con bài của CSVN, bất-mãn vì không được trọng-đãi, là những kẻ chống đối cò mồi ở trong nước để chứng tỏ rằng tại VN vẫn có dân-chủ ở một mức độ nào đó, hoặc họ được gửi ra hải-ngoại để xâm-nhập nhằm phân-hóa, lèo-lái khối người Việt gốc tị nạn và dự-trù cho những biến-chuyển tương-lai tại VN. Rất có thể, trong tình huống xấu nhất, những con bài này sẽ là những người được CSVN dàn-dựng  để nằm trong một cơ-cấu làm trái độn, một chính-phủ liên-hiệp lâm thời chẳng hạn, nhằm mở đường cho những người nắm quyền cao nhất và nhiều tội-ác nhất của CSVN từ trước đến nay đào thoát với số tài-sản khổng-lồ mà họ đã từ từ chuyển ra ngoại-quốc qua việc chuyển tiền cho những đệ-tử trung-thành hoặc thân-quyến và nhất là qua hệ-thống rửa tiền rất quy-mô tại khắp nơi trên thế-giới. Từ vài chục năm qua, người ta có thể  gửi hàng triệu đô-la từ Mỹ và nhiều nước khác về VN và từ VN ra nước ngoài qua điện thoại cầm tay chỉ trong vòng một giờ, khó có ai làm thống-kê được. Một số trung-tâm thương-mại Á-Châu ở Nam Cali được ghi-nhận là do tiền của VC gửi qua để xây cất. Cơ-quan an-ninh Tây Âu, nhất là Mỹ biết rõ các tổ-chức và sinh-hoạt này từ lâu, nhưng chỉ âm-thầm theo dõi.
Sau khi nghiên-cứu văn-phong trong toàn cuốn sách, để ý đến từng từ-ngữ được dùng, người ta có thể  đưa ra kết luận là cuốn sách trên viết bởi một tác-giả duy nhất. Đó là nhà báo Việt Thường!. Bởi lẽ từ giữa thập niên 60 của thế-kỷ trước, kẻ viết bài này đã nhiều năm dịch tài-liệu VC trong nhiều lãnh-vực ra anh-ngữ cho cơ-quan khai-thác tài-liệu nên không thể lầm-lẫn được.
Sau khi biết chắc điều đó, chúng tôi tìm hiểu để biết Nam-Nhân và Lý-Tuấn là hai người có thật hay chỉ là những nhân-vật tưởng-tượng do nhà báo Việt Thường đặt ra vì một lý-do riêng-tư, thầm-kín nào đó?. Nếu là hai người có thật thì họ là ai, trước kia làm gì, hoạt-động ra sao; nhất là hiện nay thuộc khuynh-hướng nào và tại sao họ lại đứng tên và chịu trách-nhiệm chung với  một người có gốc-gác ở phía bên kia chiến-tuyến, dù đương-sự tự khai có một thời gian bị đầy-đọa sau 1954, bị VC bỏ tù sau khi được chúng gửi vào Miền Nam với danh-nghĩa là một “nhà báo đi thực tế” để nghiên-cứu tại chỗ và có “hộ-khẩu sang-trọng ở Sàigon”. Lý-do bị bỏ tù được giải thích là vì đã viết những nhận-định đánh giá cao QLVNCH và không tán-thành việc đưa quân, công-cán-chính VNCH vào các trại tù được gọi là trại cải-tạo ở VN. Điều đó do VT nói ra, nhưng sự thật ra sao khó ai kiểm chứng được. VT được giới thiệu trên một trang điện báo dành cho ông ta như sau: (Nguyên-văn)
“Nhà Báo Việt Thường là nạn nhân, tù nhân kiên giam của Tập Đoàn Việt Gian CS. Sau khi ra tù được Anh Quốc mời ra hải ngoại trên danh nghĩa tù nhân lương tâm, nhà báo bị lao tù, bị đàn áp bởi Tập Đoàn Việt Gian CS.
Nhà Báo Việt Thường tiết lộ lý do ông chống Tập Đoàn Việt Gian CS vì THÙ NHÀ, NỢ NƯỚC, gia đình bị tiêu tán, nhà cửa mồ mả ông cha bị bọn việt gian cs đánh phá tan hoang, cá nhân nhiều năm lao động, tù đày. Lần cuối bị tù vì Nhà Báo Việt Thường viết tường trình và kiến nghị yêu cầu trả tự do cho Quân Cán Chính VNCH vì đó là thành phần TINH HOA CUẢ TỔ QUỐC, là chủ lực để đưa Việt Nam hội nhập vào nền văn minh của thế giới.
Qua nhiều phỏng vấn, bình luận thời cuộc, in sách tại hải ngoại Nhà Báo Việt Thường đã vạch trần tội ác của tên Đại Việt Gian HCM. Nhà Báo Việt Thường là người đầu tiên ở hải ngoại tố cáo tội ác của Tập đoàn việt gian cs là Tội Việt Gian. Ông quan điểm là ĐÂM MẤY THẰNG VIỆT GIAN BÚT CHẲNG TÀ.”  (Hết)
Một tù-nhân ra khỏi tù, chỉ 6 tháng sau khi hết hạn bị quản-chế đã có mặt ở nước Anh thì câu hỏi được đặt ra là cựu tù-nhân này phải làm đơn và hoàn-tất thủ-tục rất khó-khăn và rườm rà của VC khi còn đang bị qủan-chế. Điều này có thể xảy ra cho một tù-nhân chính-trị bị VC trù dập như VT hay không?. Dù có được Chính-phủ Anh mời mọc trọng-vọng thế nào chăng nữa, cũng không ai bắt-buộc được bọn VC phải cấp giấy cho người ấy ra đi. Ngược lại, việc mời mọc với lý-do mang ý-nghiã chính-trị như thế lại càng khiến CS lưu-ý, đề-phòng hơn và dĩ nhiên, đương- sự sẽ không được đi mà còn bị VC canh-chừng và làm khó hơn nữa, vì chẳng ai chịu thả cọp về rừng, nhất là với truyền-thống đa nghi, CS thà giết lầm cả trăm người còn hơn tha lầm một người mà chúng nghi là nguy-hiểm.
Vào thời-điểm 1990, việc tống-xuất tù nhân ra nước ngoài trong kế-hoạch gài người vào trong các tổ-chức đấu tranh giả-hiệu và những khuynh-hướng trở cờ ở hải ngoại chưa được VC nâng lên thành chính-sách như hiện nay!. Một người được coi là biết VT lại tiết-lộ rằng VT được con gái lấy chồng làm trong Toà Đại Sứ Anh ở VN trước đây bảo-lãnh theo diện đoàn tụ, nhưng sự thật cũng không phải thế mà con rể của VT là một người Anh, có một thời gian làm cho một công ty du-lịch ở VN và vợ chồng người con gái này xin cho VT đoàn-tụ, nhưng hai người đã ly-dị từ lâu. Một người khác được xem là thân-cận hơn, cho tôi hay là VT hiện nay được ở trong khu-vực dành riêng cho các cựu nhân-viên tình báo Anh (MI-5/MI-6), đương-sự đến thăm mà không hẹn trước nên không gặp được. Người viết chỉ mỉm cười vì người ta cố-ý vẽ ra nhiều huyền-thoại cho VT với mục-đích gì, trong khi, đó không phải là điều được tôi hỏi tới?.
Tại sao nhà báo VT sang Anh mà không sang Mỹ, dù Hoa-Kỳ là nơi tiếp- đón những người cựu tù cải-tạo, nạn-nhân của chế-độ CSVN?. Câu trả lời là chính-phủ Mỹ, ngay từ những ngày đầu của làn sóng vượt biển đã có chủ-trương không nhận những người ra đi từ Bắc vĩ-tuyến 17 vì sợ VC lợi-dụng cơ-hội để gài gián-điệp nằm vùng vào Mỹ. Bởi vậy một số khá đông thuộc thành-phần này xin định-cư tại Anh và United Kingdom. Một sự thật vô-cùng nghịch-lý là: Dù mang danh là người tị-nạn CSVN, nhưng một số người Việt ra đi từ Bắc vĩ-tuyến 17 trong nhà vẫn treo hình của Hồ-chí-Minh. Nghe nói về hiện-tượng kỳ-quái trên, lúc đầu tôi không tin, nhưng khi được dẫn vào tư-gia của một gia-đình quê-quán tại Hải-Phòng sống ở Luân-Đôn thì tôi hiểu rằng cộng-đồng người Việt tị-nạn tại Anh có nhiều thành-phần rất phức-tạp. Một điểm đặc-biệt khác là nhà báo VT ít khi dám lộ-diện và ngay cả những người được coi là rất thân cũng không được phép chụp hình ông. Nếu tôi nhớ không lầm thì chỉ có ông Nguyễn-hữu-Luyện ở Mỹ là có chụp hình chung với VT ở Manchester tại Anh Quốc. Nhà báo VT chấp-nhận sống trong tâm-trạng bất-an thường-trực vì ông là một “yếu-nhân” hay vì một lý-do nào khác?. Ngoại trừ những người trong thân tộc không ai biết nhà ông ở đâu, có người cho hay là ông thường-xuyên ở Mỹ, dù trước đây nhiều năm, ông nói với nhiều người rằng ông bị ung-thư phổi tới thời kỳ chót. Không là công dân Mỹ, ông không thể ở Hoa-Kỳ quá 3 tháng và không thể có Medicare và ông sẽ xoay-xở ra sao khi đau ốm?. Trong khi đó, bất kể ai thuộc bất cứ quốc-tịch nào trên 60 tuổi sống tại Anh đều không phải trả tiền thuốc thang và các phí khoản về y-tế. Tất cả những tin đồn quanh VT và hành-tung của chính ông cũng chỉ nhằm mục-đích đánh bóng, tạo huyền-thoại và hào-quang giả-tạo cho một “nhân-vật được coi là kỳ-bí”. Sống ở các nước Tự Do, Dân Chủ và An-Ninh hàng đầu trên thế-giới mà VT còn đề-phòng và sợ mọi người đến thế thì con người ấy, với cá-tính ấy, có dám làm gì trái ý hoặc dám viết những bài nhận-định khác với quan-điểm của bạo-quyền VC như trong đoạn văn được chép lại ở trên hay không?. Nằm trong cơ-chế CS mà ông còn dám viết thẳng ra những suy-nghĩ của mình để đến nỗi phải đi tù (như ông tự khai);  thì hiện nay, nằm ngoài vòng kiềm chế của kẻ thù… ông còn sợ ai? Chẳng lẽ, ông sợ người Quốc-Gia? Hà cớ chi ông phải sợ những người không còn quyền-uy, không đao súng và nhất là họ cũng thù-ghét CS như ông? Hay ông sợ công-lý và sự thật vì trong thân-thế và cuộc sống của ông có nhiều điều ẩn-khuất?.
Sang tới Anh, ông viết sách, báo vạch trần sự thật trong chế-độ tàn-nhẫn, sát nhân của VC, vạch mặt tên Hồ-chí-Minh và bè lũ là những tên bán nước, việt gian bằng những lời-lẽ nặng-nề như thế, nhưng sau đó cả hai bà vợ và hai người con gái của ông đều được lần-lượt đoàn tụ với ông ở Manchester, Anh-Quốc?. VC nhân-đạo đến thế chăng? VC Dân-chủ và tự-do đến thế ư?. Chung quanh ông có nhiều điều bất thường như thế, nhưng không hiểu ông đã khôn-khéo và dùng những đòn phép gì mà khuyến-dụ được một số người tin-tưởng và qúy mến ông?!.
Quen biết một số người đấu-tranh chống Cộng, sau nhiều lần sang Luân Đôn, thủ đô Anh-Quốc thuyết trình vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 và qua sự tìm hiểu từ những người này, sau cùng chúng tôi được biết Nam-Nhân là ông Nguyễn-đức-Chung, người đứng đầu trang báo điện-tử Hồn-Việt UK online và Lý-Tuấn là ông Ngô-đình-Thiện. Cả hai đều ở Anh-Quốc.
Nội-dung của cuốn sách trên, có thể chúng tôi sẽ đề-cập đến trong một bài viết khác, nhưng giờ này, điều mà chúng tôi muốn biết rõ là tại sao hai ông Nam-Nhân và Lý-Tuấn lại chấp-nhận đứng tên chung với nhà báo Việt Thường qua vai-trò “đồng tác-giả”, dù cả hai ông đều không phải là “đồng-chí” cũ và cũng không viết một chữ nào trong tác-phẩm ấy?. Chúng tôi hy-vọng được nghe lời giải thích rõ-ràng và thoả-đáng cũng như hiểu về thân-thế, quá-khứ của quý-vị vì trên diễn-đàn, qua một số bài viết, người ta thấy vẫn còn một số người đoan chắc rằng VT có hai tên khác là Nam Nhân và Lý-Tuấn, chứ không phải là ba người khác nhau. Vấn-nạn này xảy ra đã khá lâu mà cả VT, Nam-Nhân và Lý-Tuấn không một ai lên tiếng?.
Là một độc-giả bỏ tiền ra mua sách và nhất là trong tư-cách một người đấu-tranh chống Cộng, chúng tôi đòi hỏi các tác giả nói trên làm sáng tỏ vấn-đề tuy rất đơn-sơ, nhưng lại mang khá nhiều uẩn-khúc đó!.
(Còn tiếp)
THẾ-HUY.
Paris, 18/08/2014.
--------------------------------------------

1- "Nhà Báo Việt Thường là nạn nhân, tù nhân kiên giam cuả Tập Đoàn Việt Gian CS. Sau khi ra tù được Anh Quốc mời ra hải ngoại trên danh nghĩa tù nhân lương tâm, nhà báo bị lao tù, bị đàn áp bởi Tập Đoàn Việt Gian CS .
Nhà Báo Việt Thường tiết lộ lý do ông chống Tập Đoàn Việt Gian CS vì THÙ NHÀ, NỢ NƯỚC, gia đình bị tiêu tán, nhà cửa mồ mả ông cha bị bọn việt gian cs đánh phá tan hoang, cá nhân nhiều năm lao động, tù đày. Lần cuối bị tù vì Nhà Báo Việt Thường viết tường trình và kiến nghị yêu cầu trả tự do cho Quân Cán Chính VNCH vì đó là thành phần TINH HOA CUẢ TỔ QUỐC, là chủ lực để đưa Việt Nam hội nhập vào nền văn minh cuả thế giới.

Qua nhiều phỏng vấn, bình luận thời cuộc, in sách tại hải ngoại Nhà Báo Việt Thường đã vạch trần tội ác cuả tên Đại Việt Gian HCM. Nhà Báo Việt Thường là người đầu tiên ở hải ngoại tố cáo tội ác cuả Tập đoàn việt gian cs là Tội VIỆT GIAN. Ông quan điểm là ĐÂM MẤY THẰNG VIỆT GIAN BÚT CHẲNG TÀ."  (Hết)



2- "Chuyện thâm cung dưới triều đại Hồ Chí Minh"

Trang bìa trong:
"Tài liệu lịch sử của Việt Thường
Prined in Califonia-USA-2009
Copyright @ 2008 by tapchitanvan
All right reserved

Chuyện thâm cung dưới triều đại Hồ Chí Minh
Tân Văn xuất bản

Trang bìa sau:

Sơ lược về tác giả Việt Thường

- Tên khai sinh: Trần Hùng Văn. Sinh năm 1934, tại Hà Nội.
- Quê quán: Hà Nội
- Tôn giáo: theo đạo Phật
- Học lực: năm 1954, việt-gian cộng sản vào Hà Nội, gia đình bị kết tội là tư sản, địa chủ, nhân viên cao cấp của thực dân Pháp. Cha ông nguyên là kỹ sư cầu đường thời thực dân Pháp. Năm 1945, cha ông từ chối không nhận chức Thanh tra của Bộ giao thông mà xin về hưu, nên không chạy tản cư, vẫn ở lại Hà Nội, không làm gì cả. Sống nhờ vào số villa ở Hà Nội cho thuê. Khi mẹ ông tản cư lên Việt Bắc, thì năm 1949, đã đem toàn bộ đồn điền và ruộng đất tặng cho Chính phủ Liên hiệp chống Pháp.

Vì thế, ông phải bỏ ngang việc học hành. Năm 1955, toàn bộ gia sản của gia đình ông bị tịch thu. Cha ông bị quản thúc tới chết.

Anh lớn ông bị quản chế tại gia từ năm 1955 và năm 1956 bị tù với tội danh là gián điệp của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, và bị tra tấn đến phát điên ngay từ 1957, nhưng vẫn bị giam giữ tới tháng 12-1973.

Chị gái ông đang dạy tại trường Thánh Mẫu Marie, Hà Nội bị buộc thôi việc.

Anh thứ hai, học xong năm thứ hai Đại học Y khoa Hà Nội, cũng bị đuổi học, bắt đi lao động chân tay ở các công trường xây dựng. Và khi nghe tin xảy ra ngày Quốc hận 30-4-1975, đã tuyệt vọng tự tử.

Phần ông thì ngay 1956 cũng bị đi cải tạo tại Nhà máy cưa gỗ ở Phú Thọ, vớt gỗ cây từ Sông Thao lên và chuyển vào các nhà máy. Sau đó, được quay lại Hà Nội, làm phu cuốc đường đặt dây cáp và làm phu bốc vác ở khu Lương Yên, Hà Nội.

- Sự nghiệp làm báo: Từ năm 1952, được phụ trách trang học sinh (ngày thứ năm hằng tuần) của nhật báo Thân Dân mà cụ Nguyễn Thế Truyền làm chủ nhiệm và cụ Vũ Ngọc Các là chủ bút, cho đến năm 1954, khi các cụ Nguyễn Thế Truyền và Vũ Ngọc Các vào Nam.

Thời gian làm phu cuốc đường thì ông dạy bổ túc văn hóa cho anh chị em trong đội. Lúc đầu đã giúp đỡ, sau Đội trưởng đề nghị ông được nghỉ một buổi cuốc đường để soạn bài, tiến tới dạy cho cả Tổng đội, rồi được công đoàn nơi đó mướn làm chuyên trách cả dạy bổ túc văn hóa, cả hướng dẫn thể dục và văn hóa quần chúng. Được khen là dạy giỏi nên trở thành dạy kèm cho các cán bộ cấp trung cao và làm trong Ban giám hiệu trường Bổ túc văn hóa liên cơ quan trung ương Hà Nội.

Cũng từ đó thành cộng tác viên của các tờ báo và đài phát thanh, vì phu cuốc đường có nhiều đội lưu động làm khắp các tỉnh thành và các công trường, nông trường, nên ông bắt buộc phải đi đến đó để cho thi kiểm tra và cùng địa phương cho thi tốt nghiệp. Cho nên các báo đài hay nhờ ông viết bài và đưa tin. Từ đó ông chuyển hẳn sang làm báo, ở tuần báo Độc Lập, nằm trong khối báo chí của Mặt trận tổ quốc của việt-gian-cộng-sản.

Hoạt động báo chí của ông thuận lợi vì nhờ khá nhiều những công nhân là học trò của ông, sau khi du học ở nước ngoài về, đều giữ nhiều chức vụ quan trọng từ trung ương tới địa phương, cũng như các ngành dọc.

Sau 30-4-1975, ông vào Sài Gòn với tư cách phóng viên thường trú đặc biệt ở miền Nam. Nhờ thế, ông viết một tài liệu đề cập đến sự tiến bộ của VNCH trên mọi bình diện, có tầm cỡ quốc tế. Đó là cơ sở ngàn năm có một lần để xây dựng một VN thật sự Độc lập, Tự do và Hạnh phúc nếu thực thi đúng khẩu hiệu "Duy trì 5 thành phần kinh tế". "Hòa giải và hòa hợp" như tinh thần Hiệp định Paris về Việt Nam năm 1973.

Kết quả, ông bị Hội nhà báo khai trừ mà văn bản chỉ đóng dấu mà không có ai ký tên. Phía báo Độc Lập cũng vậy, cũng không có ai ký tên. Sau đó, ông bị bắt và bị coi là bị điên và bị giam chung với người điên thật ở bệnh viện Chợ Quán một năm, rồi chuyển tại trại giam của công an Sài Gòn và bị đưa giam ở Z30D.

Tháng 10-1987 ông ra khỏi tù với tội danh "Nhen nhóm tổ chức phản động" (???). Bị quản chế tới cuối năm 1990, và tháng 6-1991, Ông được qua Vương quốc Anh với tư cách tỵ nạn chính trị."
 

Saturday

KHẨN THIẾT!!!: XIN TẤT CẢ HÃY CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO TẠI IRAQ

KHẨN THIẾT!!! XIN TẤT CẢ HÃY CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO TẠI IRAQ

Trong mấy tuần lễ qua chúng ta chắc chắn đã nghe tin về quân Hồi giáo cực đoan ISIS đang thảm sát những người Kitô giáo trong những nơi mà chúng đã đánh chiếm được miền bắc Iraq. 
- Đây là các Kitô hữu đã sống ở miền bắc Iraq và Syria trong gần hai ngàn năm, từ thời các thánh Tông Đồ của Chúa Giêsu, họ đã rất trung thành cho tới nay. Trước khi đạo Hồi giáo xuất hiện ít nhất là sáu trăm năm, hôm nay họ đang đối mặt với sự diệt chủng rất khủng khiếp trong khu vực. 

Một tuần trước, các Kitô hữu Đã được cảnh báo hoặc là rời khỏi thành phố Mosul và các khu vực khác dưới sự kiểm soát Nhà nước Hồi giáo, hoặc họ sẽ phải trả một khoản thuế rất cao do nhóm Hồi giáo ISIS tự đạt ra, hoặc bị xử tử chặt đầu. 

Trong những vùng đã bị quân Hồi giáo ISIS chiếm đóng rất ít tin tức được lọt ra ngoài, còn những tin và hình ảnh giết người do chính họ đưa ra thì chúng ta chỉ thấy được một phần rất nhỏ thôi nhưng đã nói lên cái dã man và khủng khiếp qúa rồi. 

Trong vài ngày qua những hình ảnh vô cùng của sự "ác độc dã man" đã cho chúng ta thấy rằng: Một cháu bé gái Công Giáo mới 2 tuổi mà chúng cũng không tha. chúng lôi em ra chắt đầu trước mặt mẹ và những người thân của cháu, gần bên cạnh một thánh đường và bắt mọi người Kitô giáo phải đổi sang Hồi giáo, nếu không số phận cũng sẽ là như em bé gái này tất cả!. 

A Christian girl beheaded by ISIS terrorists. There is no doubt that we face genocide.
Một nhóm tám thanh niên Công giáo cũng đã bị chúng lôi ra đóng đinh vào Thập tự giá và tra tấn hành hình cắt cổ liền sau đó.


Hônm nay ngày 14.08.2014 Human Rights Watch đã cho biết tất cả những ngôi nhà của người Công giáo ở Mosul đã được sơn lên bằng chữ đỏ để chỉ gia đình Kitô Giáo. 

Những Kitô hữu đã trốn thoát được kể lại là họ bị tước đoạt tất cả tài sản của, ngoại trừ quần áo của họ đang mặc trên người. Tất cả đồ trang sức, tiền bạc, xe cộ, ngay cả thức ăn và nước cũng đã bị tịch thu. Vì trên các tuyến đường di chuyển xung quanh thị trấn của người Kitô hữu buộc phải đi qua nhiều trạm kiểm soát của quân khủng bố Hồi giáo ISIS. 
Đó là những gia đình có chút của cải và mạnh khỏe còn lại những người qúa nghèo và ốm yếu thì không thể đi được nên còn kẹt ở lại thì sẽ bị xử tử nếu không đổi sang theo Hồi giáo.

Quân ISIS Hồi giáo tuần qua trong một Video do chúng công bố đã đập nát tượng Đức Mẹ trong hình ảnh một Thánh đường bị phá hủy tan hoang. Tượng chúa Giêsu thì bị chúng chặt đầu nằm trên nền nhà thờ. 

Ước tính cho rằng, có khoảng 200.000 Kitô hữu sống trong khu vực. Những người Kitô Giáo đã bị sát hại chưa thể kiểm chứng chính xác được. Người ta chỉ có thể phỏng đoán căn cứ theo sự mất tích là 10.000 - 50.000 (từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người)

Những người Công Giáo ở Mosul, đang phải trốn lên các dãy núi ở Barren Sinjar với người Yazidis trong những hang động và hốc núi, chịu sự đói khát bệnh tật, còn hàng trăm người khác thì đi lang thang trong sa mạc mà không có ai giúp đỡ.

Kính xin mọi người giúp đỡ và cầu nguyện, xin Thiên Chúa ban an lành đến những người đang khốn khổ được bình an, và xin cho những con người đang trong cơn say máu giết người được tỉnh ngộ.

Thanh Sơn 14.08.2014
Tóm lược theo (Catholic Online)

WARNING: Khi coi hình ảnh Evil nầy 


A Christian girl beheaded by ISIS terrorists. There is no doubt that we face genocide.
A Christian girl beheaded by ISIS terrorists. There is no doubt that we face genocide.


A Christian girl was beheaded by ISIS terrorists as a warning to others. This is evil in its purest,
A Christian girl was beheaded by ISIS terrorists as a warning to others. This is evil in its purest, crystalline form.


Alawite victims of ISIS, beheaded and arranged as a display for the media and public.
Alawite victims of ISIS, beheaded and arranged as a display for the media and public.


The head of a Syrian man, whose beheading was badly preformed. However, the gruesome nature of the k
The head of a Syrian man, whose beheading was badly preformed. However, the gruesome nature of the killing serves to intimidate others.


More victims of ISIS. The organization is parading their murders as a means of intimidating others.
More victims of ISIS. The organization is parading their murders as a means of intimidating others.


The act of beheading is preferred because it is gruesome and intimate. It
The act of beheading is preferred because it is gruesome and intimate. It's painful and excruciating to the victim and takes time as opposed to simply being shot. ISIS is using crude methods of execution that are intended to serve as torture and intimidation. Even crucifixions are being performed.


The moment of death, turned into a spectacle. This man likely had a family.
The moment of death, turned into a spectacle. This man likely had a family.
Soldier's heads were hoisted on poles as they were killed in Syria.

 
Design by Hận Ly Hương |FreePolitic - |
Site Meter