TỔ QUỐC

Thursday

LINH MỤC VIỆT NAM: Hãy dấn thân làm ‘Chính Trị’


LINH MỤC VIỆT NAM: ĐỨC KITÔ THỨ HAI


 

Trong Thư 1 gửi tín hữu thành Corintô, Thánh Phaolô viết (11:23-26): « … trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy’. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: "Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy."26 Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết ».

Nhờ đoạn Thánh thư này, Thánh nhân thuật lại cho chúng ta Đức Kitô, để nuôi phần hồn Kitô hữu, đã lập Bí tích Thánh Thể và để truyền phép Bánh Rượu trở thành Mình và Máu Chúa, Người đặt sứ vụ Linh mục, tức Đức Kitô thứ hai, nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh.

Bất hạnh cho Dân tộc Việt, đám người cộng sản biết ‘Đức Kitô là Đường, Sự Thật và Sự Sống’, nên chúng phải dùng Quyền và Tiền chiêu dụ các Linh mục phản Kitô đánh phá Giáo Hội Công Giáo bằng thứ siêu quyền bề trên do Đảng ban phát. Đa số tín hữu không phân biệt được thế nào là làm chính trị hay không đã tạo điều kiện để họ gây khó khăn cho các Đức Giám Mục hành sử năng quyền Giáo Hội qui định, kèm Thánh Lành đến từ Chí Thánh.

I. THẰNG KHÙNG.

Tham vọng Cộng sản Quốc tế, do Liên xô lãnh đạo, là phải tiêu diệt Giáo Hội Công Giáo, hay ít nhất đặt Tôn giáo này, với những Giáo sĩ chủ trương ‘đối thoại, không đối đầu’, nhưng khi thực hiện tiến trình đối thoại, Cha đối diện với một đảng viên độc tài, nhiều khi vô học, và, bên cạnh là một ‘ông cha đỏ’ chỉ muốn Bề trên đồng ý để tạo niềm tin của đảng, như đại biểu quốc hội càng tốt, vì dù có bị tâm thần mà, với cơ chế ‘đảng cử, dân bầu, thì ‘chắc ăn’. Nhắc đến chiêu bài ‘đối thoại, không đối đầu’, chúng ta hãy nhớ câu hỏi ngạo mạn của trùm cộng đảng Liên xô Joseph Staline: ‘Đức Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn ?’

Tại Trại giam Cổng Trời (nơi núi thật cao gần như chạm đến trời ở Hà giang, gần biên giới Việt Nam –Trung quốc), năm 1960, một tử tội được nhiều người khác đặc biệt lưu ý, bị trừng phạt vì tội gì, ít ai rõ. Tội hình sự hay chính trị, khó ai tin vì anh không có dáng của kẻ cướp bóc, sát nhân và cũng không có phong độ người làm chính trị. Bộ dạng anh ngu ngơ, dại khùng. Tuổi cũng khó đoán: có thể 30, mà cũng có thể là 50. Là người quá nghèo lời nói, anh chỉ nhếch mép cười. Gặp ai, anh đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với ai. Ở con người anh ta có một cái gì đó làm một vài tù nhân khác đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Tuy nhiên, hầu như mọi người trong trại, quản giáo lẫn phạm nhân, kể cả những kẻ hung dữ nhất, đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, người cho miếng bánh.

Ở đây, anh khâm liệm tù chết, một đặc quyền mà không ai tranh hay muốn tranh với anh. Khi có tù chết, giám thị trại cho gọi ‘thằng khùng’ (tên họ đặt cho anh) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ người chết nào, anh đều khâm liệm chu đáo. Anh nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc đó, miệng anh ta cứ mấp máy nói mà không ai nghe rõ. Anh rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc người chết, nếu có tóc. Anh chọn bộ áo quần lành lặn nhất của họ, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu họ không có áo quần gì, anh đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi hoàn tất các những việc trên, anh quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người chết, bật khóc đau đớn và thống thiết đến ai cũng có cảm giác người nằm trong quan tài là anh em ruột thịt, khiến giám thị trại gọi anh lên:

- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?

Khúm núm chấp tay, anh thưa:

- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.

Thấy ‘thằng khùng’ nói có lý, giám thị trại mặc cho nó khóc thỏa thích, nhưng nhiều bạn tù không tin là anh khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh chan hòa nước mắt, toàn thân gầy guộc run rẩy. Tiếng khóc và nước mắt đó chan chứa một niềm tin và thương xót khôn tả đã khến những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn phải rớm nước mắt. Một nỗi đau đớn chân thật như thế đã có khả năng xuyên thẳng vào trái tim con người. Họ cảm nghiệm và đặt câu hỏi ‘Con người này là ai: Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc thánh hiền?’…

Năm 1971, anh được Chúa gọi ra khỏi thế gian nhưng không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và Cha Cương quản lý Nhà Chung: « Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh! ». (Người cộng sản biết Cha Vinh đã từ chối vi phạm Giáo luật bằng ‘làm chính trị’ để phá đạo, nhưng đã chết vì Ðạo Chúa, nối bước Tiền nhân tử đạo với Thánh Lễ phẩm phục đỏ).

Ngày 20.06.1940, Phó tế Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh được thụ phong Linh mục ở Limoges (Pháp). Năm 1947, Cha về nước và được Đức Cha François Chaize (Thịnh) bổ nhiệm vào sứ vụ Chính xứ Nhà thờ lớn Hà nội. Năm 1954, Đức Cha Giuse Maria Trịnh Như Khuê cho phép Cha và Cha Nhân đưa chủng sinh vào Nam, nhưng cả hai đã xin ở lại sống chết với Địa phận Hà nội và Đức Cha Khuê cử Cha vào chức vụ Tổng Đại diện. Cha tổ chức lớp học giáo lý tại Tòa Giám mục với kết quả mỹ mãn, chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh. Khi Cha làm Hiệu trưởng trường Dũng Lạc, nhà nước ra chỉ thị buộc treo ảnh ông Hồ vào chổ Thánh Giá trong lớp học. Cha không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa. Khi Đại học Y khoa Hà nội thiếu giáo sư, Đức Cha cử Cha đến dạy La tinh. Khi Thủ tướng Trung cộng Chu ân Lai đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông hách dịch hỏi: « Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại học quốc gia ư? ». Ít lâu sau, trường không mời Cha dạy nữa.

Năm 1957, muốn lường gạt dân chúng trong nước và cho thế giới thấy là ở Việt Nam, đạo Công Giáo tự do hành đạo, tổ chức những lễ nghi long trọng, tưng bừng, nhân lễ Giáng sinh, nhà nước tự ý sai người đến bắt dây điện, kết đèn quanh Nhà thờ lớn, sau lễ họ đòi Nhà thờ Hà nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958, gần lễ Noel, chúng tái diễn trò ‘côn đồ’ năm trước, Cha xứ Giuse Maria Trịnh văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên nhà thờ, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, Cha liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân tuôn về rất đông ủng hộ Cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Vinh ra can thiệp, sau hồi tranh luận không kết quả, Cha Vinh kéo những kẻ đang leo thang chăng đèn xuống và chính Cha leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: ‘Tự do thế này!’. Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, việc trang trí không thành.

Hai Cha Căn và Vinh cùng nhiều giáo dân bị công an thẩm vấn và đem Tòa xét xử. Chúng tuyên án: Cha Căn 12 tháng tù treo và Cha Vinh 18 tháng tù ở vì tội: ‘Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân’ (!). Sau đó, Cha bị giam ở Hỏa Lò, rồi bị chuyển đến Chợ Ngọc, Yên Bái và Cổng Trời, nơi dành cho các tù nhân tử tội. Tại trại Yên Bái, Cha còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin Cha giải tội, nên vì thế Cha bị kỷ luật, bị biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, Cha lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: « Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy? ». Cha đáp: « Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình! »

Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một... Một lần, Cha Vinh nhận được gói bưu kiện do Cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi tới, Cha đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công Giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi Cha là ‘bố’. Trong tù, Cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, Cha lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, Cha đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó, có tiếng đồn Cha giỏi võ, mọi người phải nể vì.

Một cán bộ cao cấp ở Hà nội lên Cổng Trời gặp Cha và nói: « Đảng và chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn thế Vịnh (Chủ tịch Ủy ban Liên lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà nội ngay bây giờ với tôi ». Cha khẳng khái đáp: « Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi ». Vì không khuất phục được Cha, nên bản án của Cha từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù giam, xà lim biệt giam và án tử.

Bằng hành động Trung thành Thiên Chúa và Phục vụ Tha nhân của mình, Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh giúp chúng ta nhận biết rõ thế nào là một Đức Kitô Thứ Hai (Alter Christus) không làm chính trị như Giáo luật ngày 25.01.1983 yêu cầu:

Điều 285: (1) Các Giáo sĩ nên xa tránh tất cả những gì không xứng hợp với bậc mình, theo như những qui định của luật địa phương.

(2) Giáo sĩ nên tránh tất cả những gì, cho dù không xấu xa, nhưng xa lạ không thích hợp với bậc Giáo sĩ.

(3) Cấm các Giáo sĩ đảm nhận những chức vụ công quyền có kèm theo việc hành sử quyền bính dân sự.

(4) Nếu không được phép của Bản Quyền riêng, Giáo sĩ không được nhận làm Quản lý những tài sản thuộc các giáo dân hoặc những chức vụ trần thế kèm theo nghĩa vụ phải kế toán sổ sách; cũng không được làm bảo chứng cho dù dựa vào tài sản riêng của mình nếu không tham khảo ý kiến của Bản Quyền riêng; phải tránh không nên cam kết những khế ước bảo lãnh trả một món nợ mà không định rõ căn nguyên.

Điều 287: (1) Các Giáo sĩ hãy tận lực cổ võ duy trì hòa bình và hòa đồng giữa mọi người, dựa trên nền tảng công bằng.

(2) Các Giáo sĩ không được tham gia tích cực vào các đảng phái chính trị, hoặc dự phần lãnh đạo trong các nghiệp đoàn, trừ khi nào, theo phán đoán của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội, việc bảo vệ quyền lợi của Giáo Hội và cổ võ công ích đòi hỏi như vậy.

II.- LINH MỤC ĐẢNG VIÊN.

Sau ngày 30.04.1975, ‘Ủy ban Liên lạc Công Giáo’ tiếp thu các giáo sĩ đảng viên tự cho là ‘yêu nước’ đem chức thánh ‘Linh mục’ để làm công cụ hầu tạo áp lực buộc Đức Khâm sứ Tòa Thánh Henri Lemaitre, cùng các Đức Cha Nguyễn văn Bình, Tổng Giám mục Sài gòn và Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Tổng Giám mục phó với quyền kế vị, phải theo những đòi hỏi vô lý và chống lại thẩm quyền Đức Thánh Cha, Bề trên Giáo Hội. Tội nghiệp các giáo dân lầm đường theo họ để rồi, sau khi sáng mắt, bỏ nước ra đi còn bị đổ tội vô lễ với vị Đại diện Đức Thánh Cha tại Sài gòn thay cho cha Huỳnh Công Minh, sau khi Đức ông Vinh sơn Trần ngọc Thụ, Thư ký Đức Khâm sứ Tòa Thánh lúc đó, về Nhà Cha.

Tháng 11.1983, ‘Ủy ban Đoàn kết Công Giáo Yêu nước’ được Đảng cho phép thành lập và là thành viên Mặt trận Tổ quốc. Các linh mục ‘quốc doanh’ bị nhiều người phê phán có phải việc ‘yêu nước’ là độc quyền của mấy vị trong ủy ban nên nó lại được đổi tên là ‘Ủy ban Đoàn kết Công Giáo Việt Nam’ (UBĐKCGVN) từ tháng 10.1990 và được Chính phủ phê duyệt qua công văn 180/TG-CP ký ngày 22.05.1991… Từ đó, các linh mục này hết yêu nước.

Do tham gia UBĐKCGVN, linh mục Nguyễn văn Bính phải bị phạt treo chén. Linh mục Huỳnh công Minh, đại biểu Quốc hội, đến gặp Đức Cha Philipphê Nguyễn kim Điền, Tổng Giám mục Huế để xin tha vạ cho linh mục Bính. Đức Cha thẳng thắn trả lời rằng người muốn tha phạt cho linh mục Bính nhất là Tổng Giám mục Huế. Tuy nhiên, là linh mục, chắc linh mục Huỳnh công Minh dư biết rằng linh mục Bính không dốc lòng chừa thì làm sao và ai có thể tha được khi linh mục Bính lỗi luật của Hội Thánh. Giờ phút nào linh mục Bính không theo UBĐKCGVN nữa thì tức khắc được tha vạ ngay. Sau đó, Đức Cha Điền bị bắt đi làm việc tại sở công an Bình Trị Thiên, trong hai đợt, khoảng 120 ngày như thư Đức Cha gởi cho Ban Việt ngữ hai đài Vatican và Veritas ngày 10.05.1985. Đức Cha bị đầu độc ngày 06 và chấm dứt cuộc lữ thứ trần gian ngày 08.06.1988. Cuối cùng, Linh mục Bính đã rời UBĐKCGVN và được Đức Cha Stêphanô Nguyễn như Thể tha phạt.

Trong thư ngày 25.12.1997 để báo cáo với lãnh đạo Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và Ban Tôn giáo TP. Hồ chí Minh về Phan khắc Từ và Trương bá Cần, Vương đình Bích viết: Tôi thành khẩn nói rõ với hai anh Từ và Cần, là vấn đề thật của Tổ chức chúng ta, không phải là Nhóm Nghiên cứu (bị Từ giải tán vì vấn đề tiền bạc), mà là Nhóm bốn anh em chúng tôi, Minh, Cần, Từ, Bích đã được lãnh đạo gầy dựng và giao cho nhiệm vụ điều động Phong trào Công Giáo Yêu nước tại Thành phố này… Ừ. Như vậy, ‘tứ nhân bang’ này đã thú nhận cho chúng ta biết là, nhờ làm chính trị đảng phái, họ có ‘vấn đề tiền bạc’. Do đó, nhờ chức Linh mục, gia tài của họ còn hơn Tổng thống Ngô Đình Diệm lúc bị ám sát chết, nhất là Vương Đình Bích, tu hội ‘Đức Mẹ Người nghèo, ít ra mặt vì bận đếm tiền Hồ, lương do tiền dân đóng thuế qua Mặt trận Tổ quốc. Hạnh phúc nhất là Phan Khắc Từ (PKT còn có nghĩa là Phản Ki-tô) đã từng được đảng ưu ái tổ chức mừng thôi nôi tuơm tất cho con trai ông bà Từ vào năm 1986-1987, nên từ đó, tin ‘linh mục Từ có vợ có con’ bay đi khắp nước. Trương Bá Cần (hay Trần Bá Cương) đã qua đời, xin miễn bàn. Quyền hành nhất trong Nhóm là Huỳnh Công Minh (HCM còn là tên của lãnh tụ, thành phố và Tổng Giáo phận, một tên nghe ghê) và còn độc quyền in sách đạo như một Linh mục Sàigòn than. Ông là Tổng Đại diện Tổng Giáo phận Sài gòn lâu nhất thế giới như Phạm Văn Đồng (người ký Công hàm 1958 và đã hiện diện tại Mật nghị Thành đô với Tàu cộng) không do khả năng hay đạo đức, nhưng do ý đảng. Sau khi trao quyền cho Linh mục Hồ Văn Xuân, cả hai Tổng Đại diện được tháp tùng Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám mục Sài gòn, sang Vatican đồng tế Thánh Lễ với Đức Thánh Cha Phanxicô nhân dịp Người trao dây Pallium cho các tân Tổng Giám mục ngày 29.06.2014.

Những vị trong UBĐKVN tự cho mình là ‘những người Công Giáo tiêu biểu’, nên Đức Hồng Y Phạm Đình Tụng đã từ chối gặp vì ‘gọi họ là gì cũng được nhưng Công Giáo tiêu biểu thì không bởi nhiều người đã không còn giữ đạo, họ vợ nọ chồng kia, không chịu các Bí tích và gia đình cũng thế thì sao gọi là Công Giáo tiêu biểu được! ». Trong các bữa liên hoan của tổ chức này có hiện diện đủ cả linh mục, tu sĩ, giáo dân nhưng không thấy họ làm phép trước bữa ăn. Cán bộ Mặt trận phải giục ‘Các cụ làm phép đi’ thì họ mới miễn cưỡng làm cho qua chuyện… Nhân lễ tang linh mục Nguyễn Thế Vịnh ngày 18.12.1983 ghi lại như sau: ‘Buổi chiều về lại Hà Nội, tại trụ sở của UBĐKCG, có nhiều linh mục, kể cả từ miền Nam ra, các nữ tu và giáo dân, ăn uống bừa bãi, nói năng lung tung’. Đức Cha Lê Đắc Trọng nhận xét về những ông ‘Công Giáo tiêu biểu’ này: « Tuy là Công Giáo, nhưng không phải đạo được lợi ở các ông. Trái lại, nếu là người phò đạo sao được vào các chức vị đó. Thường họ là những người có đạo mà không ưa đạo, lấy địch đánh địch, lấy người có đạo để phá đạo. Đó là chính sách từ thời cổ xưa. Đạo không nhờ những người như thế, trái lại phải khổ sở về những người đó. » (Những câu chuyện về một thời, tập 2, tr.207).

Có thể chúng ta thắc mắc tại sao Đức Cha Nguyễn Văn Bình, Tổng Giám mục Sài gòn, đã không chế tài các Linh mục này theo Giáo luật. Sứ vụ Đức Giám Mục tại Quê hương, đã khó khăn tại Miền Bắc từ trước và, càng khó khăn hơn sau ngày 30.04.1975, vì tại Việt Nam Cộng hòa, Chánh phủ tôn trọng sự Phân quyền giữa Nhà nước và Giáo Hội. Nếu cần, Tổng thống (Đệ Nhất Cộng hòa) hay Thủ tướng (Đệ Nhị Cộng hòa) mời các Đức Giám Mục đến gặp để đối thoại trong sự tôn trọng lẫn nhau như khi Tổng thống Ngô Đình Diệm đề nghị thống nhất chương trình giáo dục tại các trường trung học và chủng viện với các Đức Cha vì không thể có một ‘quốc gia trong một quốc gia’. Có lần, Đức Khâm sứ cũng được mời đến để Tổng thống Ngô Đình Diệm loan báo về qui định treo cờ Tòa Thánh tại Việt Nam. Không bị coi là ‘làm chính trị’ khi Đức Cha Tổng Giám mục Sài gòn đề nghị Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức… Các Linh mục đảng viên là ‘con đẻ’ của đảng, nếu các Đức Cha không khéo để nó về ‘mét mẹ’ thì khó yên. Các Linh mục Giáo phận cũng không còn tự do phản kháng mà danh từ luật gọi là ‘hà tì ưng thuận’. Quý Đức Cha hữu trách đã dùng lời khuyên để thức tĩnh họ, nhưng tiền bạc là họ quên lời hứa khi nhận Bí tích Truyền chức để trở thành Linh mục là thánh chức mà Cộng sản triệt để lợi dụng để chống lại Thiên Chúa vì họ lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởũng lãnh đạo Nhà nước và xã hội được ghi trong Điều 4 Hiến pháp 2013.

Trả lời báo ‘Sài Gòn giải phóng’ ngày 29.04.1995, Đức Cha Nguyễn văn Bình đã đề nghị các linh mục, tu sĩ rút dần ra khỏi UBĐK vì ‘nòng cốt phải là giáo dân. Các linh mục, tu sĩ chỉ nên có mặt ở mức độ cần thiết’. Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận đã trả lời phỏng vấn của ông Jacques Berset, Giám đốc Thông tấn xã Công Giáo APIC (Thụy sĩ) ngày 20.10.1993 và báo ‘La Croix’ (Pháp) ngày 29.10.1993 về những người Công Giáo cộng tác với Nhà nước như sau (xin tóm tắc): « Điều chắc chắn là Giáo Hội Việt Nam phải tiếp tục làm việc và sống… Họ có những lý do của họ: một số người tự nguyện cộng tác, một số vì lòng ngay và tìm một phương thế để thích ứng với thực trạng, để tìm sự dễ dãi cho việc mục vụ, để tránh những hạch sách, trong khi những người khác hoàn toàn chỉ là người xu thời. Không nên lên án tất cả những người ấy. Đối với tôi, điều quan trọng là ý kiến của Tòa Thánh, và Tòa Thánh dạy phải tuân theo luật Chúa ».

‘Làm chánh trị’ là một nghệ thuật lãnh đạo quốc gia bằng thực thi ‘Công Ích và Công bằng xã hội’. Đó là hình thức tuyệt diệu nhứt của Đức Ái. Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới đầy chiến tranh, khũng bố và nghèo đói vì những người cầm quyền không thực thi ‘Công Ích và Công bằng xã hội’ mà chỉ lo thu vét cho cá nhân và phe nhóm lợi ích. Người Việt đã chịu bao nhiêu khốn khổ, đói và mất nhà từ ngày 30.04.1975 và, theo mật ước Thành Đô, Quê hương sẽ sát nhập vào Trung quốc, chúng ta không biết Giáo Hội Công Giáo Việt Nam có bị tan nhập vào Giáo Hội Tàu không hiệp thông với Đức Thánh Cha.

Chúng ta đang sống trong thời gian mừng kính Tiền Nhân Tử đạo tại Việt Nam. Ngày 16.11.2014, các Giáo xứ và Cộng đoàn Việt Nam, tòng thổ hay tòng nhân, cử hành trọng thể Thánh Lễ mừng kính Chư Thánh Tử đạo Việt Nam. Đến ngày 24.11.2014, Giáo Hội Công Giáo toàn cầu cử hành Thánh Lễ nhớ các Thánh Tử đạo Việt Nam. Trong thời gian này, nhờ sự cầu bầu của Chư Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta hiệp thông nguyện cầu Thiên Chúa soi sáng để Dân tộc Việt Nam cùng biết hợp sức để bảo tồn Quê hương hầu Giáo Hội Việt Nam vẫn có nơi để phát triển.

Hà Minh Thảo

Wednesday

Hawaii Biểu Tình : Hãy đập kẻ nào tiếp tay Văn-Hóa-Vận của Việt cộng

 

Hawaii - Kêu gọi Biểu Tình chống Văn-Hóa-Vận cuả Việt Cộng


 .

TẬP THỀ NGƯỜI VIỆT HAWAII
BAN TỔ CHỨC BIỂU TÌNH

Tel. (808) 292-1313 – 737-0610


THÔNG BÁO (Số 2)

Kêu gọi Biểu Tình chống Văn-Hóa-Vận cuả Việt Cộng


Tiếp theo Thông Báo (Số 1) ngày 3/11/2014. Theo tinh thần phiên họp ngày Chủ nhật, 16/11/2014 của BTC.

Ban Tổ Chức Biểu Tình thiết tha kêu gọi: Qúi cơ sở Tôn giáo: Qúi Hội đoàn, Tổ chức; Qúi cơ quan Truyền thông, Báo chí và toàn thể Qúi đồng hương Hawaii, tham gia đông đảo cuộc biểu tình chống Văn-Hóa-Vận do tên ca sĩ đảng viên CS Đàm-Vĩnh-Hưng và đồng bọn thi hành nghị quyết 36 của chúng. Những ca sĩ CS này đã bị đồng bào ta chống đối, tẩy chay khắp nơi, từ Úc, Canada và các bang bên đất liền ở Mỹ. Nay tên họ Đàm này được các tên tay sai CS tại Hawaii đem qua trình diễn, mục đích để gây chia rẽ và làm xáo trộn cộng đồng người Việt của chúng ta.

Cuộc biểu tình sẽ được tổ chức :

- Thời gian: Từ 5:30pm đến 8:00 pm, ngày 30 tháng 11 năm 2014.

- Địa điểm: Dole Cannery Ballroom, tập trung tại góc đường Iwilei và Pacific (gần chợ Kmart). (Qúy đồng hương xử dụng xe Bus số 19 và 20)

* BTC sẽ cung cấp cờ, biểu ngữ, nước uống và thức ăn nhẹ cho đồng hương tham gia biểu tình.

* Có Cảnh Sát hướng dẫn và bảo vệ trật tự.


Honolulu, ngày 18 tháng 11 năm 2014
TM TẬP THỂ NGƯỜI VIỆT tại HAWAII

Ban Tổ Chức
 - Trưởng Ban: Paul Hanh Nguyễn
 - Phó Ban Kế Hoạch: Trương Văn Ba
 - Phó Ban Nội Vụ: Ngô Đăng Tỉnh
 - Tổng Thư Ký: Cô Hồng Thúy
 - Đặc trách Truyền Thông: Mường Giang
 - Đặc trách Phát Ngôn : Jos Nguyen
 - Cố Vấn: Ngô Xuân Tâm


 ---



http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/3885-3885

Tin Vui : Cờ vàng trên vai giữa phố xá Sài Gòn.19/11/2014


Người âm thầm mang cờ vàng trên vai giữa phố xá Sài Gòn.

Người âm thầm mang cờ vàng trên vai giữa phố xá Sài Gòn. Hình trên chụp sáng nay lúc 7g15. 19/11/2014 tại Cầu Kinh Tẻ Quận 7.

alt 
 Phải cố gắng tìm biết thêm tin tức về anh. Hồi Thế Vận Hội Bắc Kinh chạy qua Sài Gòn một người cũng đã phất cờ vàng bị bắt rồi biệt tăm. Có thông tin về anh mới biết để ngọai vận.

Hình từ fb Bà Ngọai Trang Le

Nguyễn Quang Duy

Melbourne Úc Đại Lợi
-----------
Biểu tượng



Trước kia có anh chàng phân phát nước

Tại Tao Đàn công viên của quận ba

Với tấm giấy đề "Nước nhà không bán"

"Mất nước mất sự sống"

Ai đi ngang cũng được anh mời uống nước

Tưởng chuyện dễ dàng nơi đất nước tự do

Cá nhân có quyền làm những gì không hại người khác.

Nhưng đâu dễ dàng với dân phòng, công an chìm, nổi.

Công việc anh làm bị chận đứng tức thì



Việc dễ dàng đâu dễ gì làm được

Đừng nói chi đến Hội nghị Thành đô, "Chúng tôi muốn biết".

Viết Kiến nghị thư trình đại biểu nhân dân

Cửa Quốc hội mở rộng toang tiếp dân giải thích

Viết cứ viết, đưa cứ đưa ai biết

Biết đưa ai, ai biết mà đưa

Nhưng thực tế bày ra thật rõ

Chặn cổng vào một rừng máy thâu hình

Đứng bao quanh một đàn "chó săn" mật vụ



Ngày 19 tháng 11 năm nay tại cầu Kinh tẻ

Cả quận 7 chỉ có một người mang cờ vàng đi trên phố

Bị chặn đứng bị đưa đi đâu ai biết

Như Thế vận hội Bắc Kinh trước đây cũng thế

Khi cờ Vận hội đi ngang một cờ vàng ba sọc đỏ phất lên.

Rồi người đó bị đưa đi đâu biệt tích

Đến giờ này cũng chẳng thấy tăm hơi

Cái đất nước gì tự do sao mà lạ

Quyền của người dân quyền ở chổ nào



Cái cờ vàng phải chăng chỉ là biểu tượng?

Chỉ là màu vàng ba sọc đỏ mà thôi

Đấu tranh chi giựt giành chi với nó

Ai muốn cướp muốn xé đi là quyền của họ

Đấy là lời của những kẻ có tự do

Đó không là lời của kẻ cướp có dao có súng

Với bọn họ chỉ có một màu cờ đỏ

Dù đó là cờ của bọn phương Bắc, giặc thù

Nên chống nó chống từ tâm hồn ra đến ngoài hình thức.





Đặng Quang Chính

dangquangchinh2013@...

19.11.2014
-----------------

Cờ vàng trong trái tim tôi

Tôi lớn lên trong nỗi nhọc nhằn của mẹ, trên đôi gánh trĩu nặng trên vai bà.Tôi lớn lên mười năm đầu tiên trong đời không có người cha thân yêu bên cạnh. Tôi lớn lên vào cái thời mà không ai được nhắc đến 4 chữ VNCH. Tôi lớn lên 10 năm dưới mái trường XHCN, mỗi tuần tôi và các bạn cùng trang lứa vẫn hát vang vang bài chào quốc kỳ nhưng chẳng hiểu gì về lá cờ và cũng chưa một thầy cô giáo nào của CS dạy cho học sinh về nguồn gốc của lá cờ cả (mãi đến sau này tôi mới hiểu vì sao).

Cho đến một ngày gia đình tôi đặt chân đến xứ sở tự do trên tinh thần "nhân đạo "của hai bên chính phủ, và cũng từng ấy năm kể từ ngày Sài Gòn thất thủ mới được thấy cảnh "chung một nhà".

Thế là thế hệ những người như tôi một lần nữa lớn lên nhưng trong một xã hội hoàn toàn khác hẳn ở VN. Những ngày đầu bỡ ngỡ nơi xứ người tôi có rất nhiều thứ phải học, phải thay đổi nên chưa bao giờ để ý đến lá cờ ba tôi trân trọng treo ngay giữa nhà. Sau đó vài năm do còn trẻ nên tôi cũng bắt kịp nhịp sống và hoà nhập với cuộc sống ở đây. Khi đó tôi bắt đầu nhận thức những gì diễn ra xung quanh mình.

Cái mà hằng ngày đập vào mắt tôi đó là lá cờ của Mỹ, nó hiện hữu khắp nơi từ các cơ quan chính phủ, trường học, bệnh viện, văn phòng cảnh sát, nhà thờ v.v..và rất nhiều nơi trên mọi nẻo đường đến cả nhà ở của người dân. Ngày lễ ngày tết người dân tự ý thức treo cờ chứ không cần ai nhắc nhở. Cũng không phải riêng về việc treo cờ mà cả trong sinh hoạt thường ngày, trong những hoạt động nơi công cộng cũng như trong việc tổ chức xã hội tình cảm của công dân Mỹ đối với lá cờ của họ rất đồng thuận và trân trọng.

Ngày tháng trôi qua tôi bước vào ngưỡng cửa đại học và quyết định trở thành công dân Mỹ. Một điều bắt buộc khi trở thành công dân Mỹ là phải biết sơ lược về lịch sử của Mỹ và nguồn gốc của lá cờ. Và giờ đây tôi mới hiểu vì sao người Mỹ họ yêu nước, yêu lá cờ đến thế. Người ta yêu lá cờ vì nó đại diện cho vô số điều tốt đẹp ở phía sau. Tự do, dân chủ, nhân quyền, cũng như sự đồng lòng của tất cả người dân trong việc tạo ra một xã hội công bằng, văn minh và thịnh vượng. Một xã hội mà trong đó mỗi người đều có quyền lựa chọn cuộc sống cho riêng mình và quyền thực hiện ước mơ của mình.

Nhìn cách người Mỹ đối xử với lá cờ nước họ làm tôi giật mình nhìn lại tôi cũng có một đất nước, một quê hương nhưng sao tôi không biết gì về lá cờ của mình. Rồi tôi nhớ đến lá cờ ba tôi treo ở nhà sao không thấy giống lá cờ mà khi còn cắp sách đến trường tôi vẫn thấy nó nhỏ xíu, bạc màu, cũ kỷ nơi sân trường trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình ? Tôi đem tâm tư nặng trĩu về nhà hỏi ba tôi. Thì ra đất nước tôi, dân tộc tôi có một chiều dài lịch sử bi thương đến như vậy. Sau những gì ba tôi nói tôi bắt đầu đi tìm hiểu, tôi lật tung hết những quyển sách trong thư viện Mỹ nói về VNCH. Tôi đi ngược dòng lịch sử của miền Nam VN tìm về hai chế độ đệ I và đệ II VNCH. Càng tìm hiểu tôi càng thấy xót xa phía sau lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy là máu và nước mắt của rất nhiều đồng bào đỗ xuống chỉ cho một miền Nam hòa bình và tự do.

Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con
Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.
Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.
Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi
Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.
( Trích Hơi thở Việt Nam, thơ Trần Trung Đạo)

Tôi yêu lá cờ VNCH từ những hiểu biết của riêng tôi nhìn về thực trạng VN trong chế độ CS sau bốn mươi năm ngày càng tồi tệ. Tôi may mắn đang sống trong một xã hội luôn bảo vệ phụ nữ và trẻ em rồi nhìn lại thân phận người phụ nữ nơi quê nhà bị chà đạp nhân phẩm một cách thô bạo và trắng trợn, nhìn những em bé thơ vô tội không đủ ăn,không đủ mặc, ngay cả khi vừa chào đời cũng bị vứt vào thùng rác.

Vậy thì các bạn trẻ VN ơi các bạn chào cờ mỗi tuần mà có bao giờ đi tìm hiểu về lá cờ đó hay không?

Ngày nay tôi thấy các bạn xem phim Mỹ rất nhiều nhưng có khi nào các bạn để ý trong bất cứ một cuốn phim nào của người Mỹ cũng đều thấp thoáng lá cờ của họ trong đó còn phim ảnh của VN thì sao?

Thế đấy ! chính lòng yêu nước, yêu lá cờ của người Mỹ đã dạy tôi yêu lá cờ vàng ba sọc đỏ vì ngoài sự nhân bản ra nó còn mang nặng cả tình yêu quê hương, yêu mảnh đất mình sinh ra và lớn lên.
Có một lần khi đi làm Report cho buổi lễ Vinh Danh QLVNCH trong quốc hội tiểu bang VA tôi vô cùng xúc động khi bước vào phòng làm việc của thượng nghị sĩ Black. Ngay cạnh bàn làm việc của ông có 4 lá cờ mà một trong 4 lá cờ đó là cờ VNCH. Tôi vui mừng đến nỗi cứ kéo tay Thiếu Tướng Trần Quang Khôi đến đấy đứng làm mẫu cho tôi chụp hình. Rồi những lần đi vận động nhân quyền cho VN trong Quốc Hội Mỹ, biểu tình trước Toà Bạch Ốc chỉ cần tôi cầm lá cờ vàng trong tay là người ta biết tôi đang làm gì.

Có thể mỗi người có một quan điểm riêng về lá cờ nhưng riêng tôi dù tôi có ủng hộ một lá cờ nào khác đi nữa trong tim tôi vẫn có lá cờ vàng vi ít nhất cho đến bây giờ nó vẫn là một lá cờ chính nghĩa, ngoài ra nó còn có một phần xương máu của ba tôi, của những đồng đội ông. Nó có cả nước mắt của bà nội tôi, của mẹ tôi khóc con, chờ chồng.

Tôi cảm ơn nước Mỹ đã cho tôi có cơ hội nói những gì mình muốn nói, tôi cảm ơn người dân Mỹ đã dạy tôi biết trân quý một lá cờ và cũng chính vì vậy mà tôi có cơ hội tìm về cội nguồn lịch sử và yêu quý cha mẹ tôi hơn !!!

Destiny Nguyễn

Tuesday

Nghĩa cử cuộc đời


Truyện ngắn: Nghĩa cử cuộc đời



Thằng nhỏ vừa xuống xe school bus. Nó nhìn thấy bảng “home for sale by owner” mà giật mình. Nó hỏi người cha đang ôm cái phôn như ôm một báu vật:
- Nhà mình bán hả ba? Sao lại bán?

Đang nói líu lo, ông ta bực mình:
- Bán… ăn!

Thằng nhỏ quặp mặt xuống. Nó thấy lòng đau. Vào phòng, nó đóng cửa lại giam mình trong bốn bức tường, không ăn uống như thường lệ. Nó nhìn lên vách. Bức hình Stepphen F. Austin – cha đẻ Texas hiền lành như dỗ dành. Bên kia, tấm ảnh người mẹ nhìn nó như đầy thương yêu. Đôi mắt người mẹ như có giọt nước long lanh làm nó chạnh lòng. Nó chẳng hiểu vì sao ba nổi nóng khi thấy nó. Lên trường, đầu óc nó nặng trĩu những nỗi buồn vắng mẹ lại không được ba chăm chút. Sao kỳ vậy? Rồi nó thấy đôi mắt nặng trĩu. Nó ngủ trong sự đói lòng, đói tình thương. Trong khi ấy, người cha vẫn thao thao với người trong cái phôn ở nhà dưới. Ông ta như quẳng gánh nặng thằng con khi cầm tới cái phôn. Trên bàn, tờ nhật báo lớn nhất thủ phủ Austin “Austin American Staterman” nằm lặng lẽ một góc thay cho những ly tách chẳng còn được thu dọn sạch sẽ.

Cách đây ba tháng…

Người đàn bà nằm dài trên gường bệnh. Bà không đủ sức để chống lại chứng ung thư tử cung mà người đàn bà hiếm con thường mắc phải vào cái tuổi hàng bốn. Bà thì đã năm lăm. Bệnh viện ung thu Austin không còn khả năng cứu sống bà. Thằng con trai không để mẹ vào viện dưỡng lão chờ chết. Nó bật khóc khi bà chẳng còn đủ sức uống nước súp từ tay thằng con. Chồng bà cũng tỏ ra quan tâm tới bà. Hình như khi nhìn bà ngày một tiều tụy thì ánh mắt ông như loé sáng một điều gì mà chỉ có khi ông bắt cái phôn gọi cho ai đó thì người ấy mới hiểu ẩn ý trong ánh mắt ông mà thôi!
- Mẹ à! Mẹ à!

Người mẹ thu tàn hơi mỉm cười. Bà như nhìn thấy lại tất cả những con đường mà bà từng đưa con đi vòng quanh thủ phủ Texas: Austin. Bà mường tượng ra được những cái hồ đầy nước như hồ thành phố, hồ Austin, hồ Travis đang đổ nước vào dòng sông Colorado cuồn cuộn với đập thủy điện Lower Colorado River Authority, còn máu trong bà thì như sắp cạn kiệt. Đầu bà choáng váng như khi bà chạy xe trên những con đường cao tốc Mopac nhìn thấy hết những ngọn đồi xanh um của Texas Hill Country nằm thổn thức cùng dãy núi đá vôi Bonnell. Mắt bà mờ đi. Bà nhìn thằng con trai chập chờn. Mảnh vườn quê mẹ có con sông Cái chảy từ KomTom cho đến Khánh Hoà chan hòa nước mắt ngày ly biệt. Bà mong làm sao có ngày tha thiết được trở về chết trên quê hương. Muộn màng quá! Cái ngày con bà ra trường nhận bằng Thạc sĩ Math-Computer Science từ trường Đại học Texas tại Austin năm tới coi như không chờ được nữa. Ngoài trời hình như mưa lất phất bay. Bà thấy lạnh. Bà với tay nắm chặt tay thằng con ú ớ vài câu. Thằng con hoảng hốt gọi mẹ nghẹn ngào. Cánh tay mẹ lỏng ra. Bà đã chết! Chồng bà đang ôm phôn báo cái tin đó cho người mà ông thường gọi. Ánh mắt ông sáng lên kỳ lạ, còn gương mặt ông như cố ghìm nỗi vui mừng bà giải thoát hay mừng vì ông được tự do. Chỉ có trời mới biết!

oOo

Ba tháng sau.

Chuyến máy bay ViệtNam Airlines đưa ông trở về Mỹ sau một tháng du hí tại thành phố Sài Gòn. Tiễn ông ra sân bay, người ta thấy có một cô gái chừng mười bảy, mười tám tuổi mà ai cũng nghĩ là con cháu gì gì đó của ông. Hai người ôm hôn nhau thắm thiết. Sân bay Tân Sơn Nhất vẫn chộn rộn người đi, kẻ về như mọi ngày. Thân nhân tiễn đưa vẫn đông hơn người được tiễn. Tháng ngày lụi tàn theo từng ánh đèn vàng thành phố. Người tiễn người, lòng cũng tiễn đưa lòng. Tình chia tay có mấy tình chân thật? Nước mắt đưa người có mấy nẻo yêu thương?

Bill điện thoại viễn liên càng tăng tiền thì khoảng cách giữa hai cha con ngày càng xa cách. Hai cha con sống cùng chung một nhà thiếu bóng dáng người mẹ, người vợ ngày đêm ảm đạm đến thê lương. Cho đến ngày nay, ông cắm bảng bán nhà trước cửa thì không khí trong nhà lạnh tanh.

- Con chuẩn bị dọn đồ ra riêng được rồi. Ba bán nhà ba về Việt Nam ba ở.

Thằng con trai đã chuẩn bị tâm lý. Nó chẳng nói gì ngoài tiếng: “dạ”. Nó không nghĩ đơn giản là ba nó buồn mẹ nên về. Số điện thoại di động Việt Nam đầy trong bill của ba và có một ngày nó nghe ông xưng anh em với ai đó trong phôn và cười to lắm. Ngôi mộ mẹ nó, cỏ chưa xanh.

Hằng tuần, nó ra mộ mẹ để ngồi nhìn từng bó hoa tươi héo dần theo nắng gió, để nghe tiếng khóc của chính mình còn có bàn tay vô hình của mẹ vuốt ve mái tóc. Nó nhớ lắm những lần mẹ ngồi vá từng cái áo cho ba, cho nó khi còn ở Việt Nam vào những năm tám mươi, chín mươi lúc ba từ trại cải tạo ra. Mẹ chạy vạy nuôi con heo, nuôi con gà nuôi cả nhà bốn người. Bà nội mất. Gia đình theo diện HO sang Mỹ năm 1997. Cuộc sống mới chật vật lại bắt đầu với mẹ. Nó thơ ngây trả lời “con làm con gà” khi mẹ hỏi con làm gì nuôi mẹ? Bà cười khanh khách, ôm nó vào lòng. Ba nó thì im lìm đọc báo tìm việc mới. Việc nào ông cũng than khổ, ít tiền. Mẹ làm hai ba việc mới mua được cái nhà. Ông càu nhàu cứ ở nhà thuê thì khỏi tốn tiền trả thuế. Thuế ở đây ác nhơn. Mỗi năm mỗi tăng nghe chừng như bị bóp cổ. Mẹ nói rằng có cái nhà cho thằng con chạy chơi cho thoải mái. Cuộc sống chui rúc hoài cũng bỏ hoài kiếp làm người. Ông chịu thua. Ông theo bè bạn mỗi ngày chủ nhật. Vì vậy mà ông biết hết tin tức từ quê nhà. Ở đấy có bao nhiêu cô gái tìm chồng ngoại chẳng đòi hỏi tuổi tác gì. Khi thằng con ra khỏi nhà thì ông lại vớ cái phôn.

Nắng chiều như ấm lại cuối ngày xuân lạnh. Mùa hạ cũng đã về đây. Cây non lá rợp bóng in hai bên đường vào mộ. Nó ngồi lặng yên nghe lòng nhẹ nhàng. Thằng con trai trong người nó trở lại như thầm nhắc nhở nó về một cuộc đời rất ngắn! Nó chưa làm “con gà” nuôi mẹ thì mẹ đã bỏ nó đi rồi!

oOo

Một năm sau.

Căn nhà tại quận Travis đã có chủ nhân mới. Người cha bỏ con mình để về Việt Nam sáu tháng sau. Thằng con đã ra trường. Ngày nó tốt nghiệp không có một ai là thân nhân đến chia sớt vui buồn nhưng nó vẫn có những bạn bè chúc tụng. Vậy cũng thấy hạnh phúc lắm rồi. Hạnh phúc cũng như cuộc đời đi mây về gió, khi có, khi không. Nó về làm cho công ty Apple Inc – đối thủ là công ty IBM của Bill Gates. Nó vẫn ở căn nhà trọ bên nhà bưu điện thủ phủ. Một ngày nọ có người tìm thấy người cha xơ xác, vất vưởng bên chợ Tân Bình. Nghe nói ông ta bị cô con gái mười tám tuổi lường gạt hết tiền bạc và bị đuổi ra đường. Thằng con tức tốc lấy vé máy bay xin visa khẩn cấp về Việt Nam. Nó tìm thấy người cha sáu mươi thờ thẩn khi căn nhà ba trăm ngàn đô la không cánh mà bay đang ngồi bên cột đèn đường. Chuyện của ông khắp chợ ai cũng biết. Người cười:
- Già đầu còn dại.
Người chê:
- Trâu già đòi gặm cỏ non.
Người chửi:
- Thằng cha già không nên nết. Chết không nên thân.

Thằng con không nói một lời. Nó nắm tay người cha, dìu ông vào chiếc xe chực sẵn mang hai cha con chạy về khách sạn Thanh Bình 1 gần sân bay Tân Sơn Nhất. Người cha ngoan ngoãn theo thằng con. Ông được ngủ một giấc yên lành để ngẫm nghĩ lại thành quả “lao động” của mình.

oOo

Một tuần sau, chuyến bay đưa hai cha con về lại Austin – Texas trong căn nhà thuê của thằng con trai mà ông từng vứt bỏ chỉ vì nó là đứa con nuôi. Con nuôi hay con ruột đã không còn là điều quan trọng, cái quan trọng chính là làm người nên sống cho ra con người. Làm cha thì hãy có trách nhiệm với bổn phận làm cha thiêng liêng mà cuộc đời tặng thưởng cho con người. Ông đã vứt cả hai tặng thưởng của cuộc đời nhưng cuộc đời lại không hất hủi ông. Ông nhận ra, làm người còn có cả một tấm lòng, còn đứa con dù ruột thịt hay nuôi dưỡng thì cũng nên có một thái độ hiếu nghĩa và làm tròn bổn phận con cái. Thằng con trai bị đuổi khỏi nhà vì người cha ham vợ trẻ kia đã làm ông thẹn lòng. Ông mở miệng xin lỗi không được mà để bụng thì chẳng yên.

Thằng con mở cho ông một giải thoát. Nó nhắc ông:
- Ba đi ngủ đi. Ngày mai, con chở ba thăm mộ mẹ.

Ông tự nhủ thầm ông sẽ đến bên mộ bà và sẽ nói lời xin bà tha thứ. Lời nói thầm sẽ gỡ ông ra khỏi cơn mắc cỡ lòng. Ông đâu biết rằng thằng con ông, nó đã thông cảm cho ông và còn thương ông trong tình cảm cha con như ngày nào. Cuộc đời vẫn cần sự thứ tha và lỗi lầm vẫn cần được thông cảm. Tình già hay tình trẻ, trâu già hay trâu non, lấy vợ tuổi đáng con, đáng cháu vẫn là cái mốt thịnh hành trong thời đại “đô la đi trước, mực thước theo sau” là cái cầu treo té lộn đầu mà không ít người đáng tuổi cha con từ chối qua thử!

Thằng con thở phào. Nó như làm được một cái việc còn ý nghĩa hơn là trúng số độc đắc. Nó ngước nhìn tấm hình của mẹ. Lần đầu thứ hai sau ngày nó ra trường, nó thấy mắt mẹ long lanh cười. Lòng đứa con này nghe ấm quá. Mẹ ơi!

Ngọc Thiên Hoa

Bia căm thù Pôn-Pốt: Người vô tội


                                          Bia căm thù Pôn-Pốt ở Mỹ-Đức

  Truyện ngắn Người vô tội


Tôi đã mở mắt chào đời, nhưng không hạnh phúc được cuộc đời chào đón lại như số mạng của bao nhiêu con người khác. Nào là sanh khó, không khóc, nhẹ cân làm cho bà mụ phải cố gắng vất vả lắm mới được thở phào nhẹ nhõm, để báo tin mừng là mẹ tròn con vuông. Cùng với nụ cười mãn nguyện của mẹ tôi, thì bà cũng là người rất vui mừng vì đã hoàn thành nhiệm vụ sau khi tôi bắt đầu cất lên tiếng khóc ra đời.

Số mạng khởi đầu của tôi là như vậy. Tuy nhiên, nhiều lần tôi tự hỏi tại sao từ bấy lâu nay không ai có thể chỉ cho tôi biết mặt mẹ (cha tôi bị bệnh mất sớm trong lúc mẹ tôi đang mang thai), mà lại đã hiểu rõ được hoàn cảnh tuổi thơ của tôi, thì không ai muốn trả lời vì có thể họ còn muốn giấu giếm tôi một điều gì bí mật. Lúc đó, tôi còn nhỏ lắm nhưng tôi cũng không tin là mẹ tôi đã qua đời. Cho đến khi tôi lớn khôn hơn một chút, thì dì tôi mới nói rõ là mẹ tôi từ lâu đã bị mất tích vì là nạn nhân của chế độ diệt chủng ở nước láng giềng, kèm theo sự a tòng xúi giục của ngoại bang ngang nhiên xua quân tàn sát hàng ngàn người vô tội ở dài theo biên giới miền Tây.

Tôi cần nói rõ thêm, là trước đó thì cha mẹ tôi và cả tôi vốn là những thành phần Việt-kiều sinh trưởng ở tại nước láng giềng rồi chạy giặc cho nên mới trở về quê hương, và định cư ở quanh vùng biên giới như bao nhiêu nạn kiều khác vào lúc bấy giờ.

Hèn chi! Tôi thường thấy dì tôi thắp nhang vái lạy khấn nguyện điều gì mỗi khi tôi bị ốm đau, hay nhiều khi mắng yêu rồi cười nói phải chi mẹ tôi có mặt ở đây thì bả sẽ trả cái con nầy lại cho...

Gia đình tôi vỏn vẹn chỉ có hai người, và dì tôi thương yêu tôi như con ruột. Chúng tôi là những nạn kiều chạy trốn chế độ dịêt chủng, và may mắn còn trốn thêm được một cuộc thảm sát vô cùng tàn bạo, cho nên còn sống sót cho tới bây giờ. Tuổi thơ của tôi là được dịp sống gần gũi với cộng đồng người tị nạn diệt chủng, được tập trung rải rác trên khu vực ven con lộ cách không xa cây cầu biên giới. Rồi theo thứ tự thời gian của năm nầy tháng nọ, các bà con trong xóm lần lượt bỏ đi xa hơn để làm ăn, cho nên kể như lần mất liên lạc lẫn nhau. Riêng về phần tôi, mặc dù chưa tới tuổi lao động, nhưng tôi cũng đã đi làm việc lặt vặt từ lâu để phụ giúp dì tôi cùng sống qua ngày. Mỗi tối về, hai dì cháu thường đem truyện, thơ ra đọc rồi bàn chuyện cho đỡ buồn trước khi đi ngủ. Thời gian tuy lặng lẽ trôi qua như vậy, nhưng có thể nói đó là lúc hạnh phúc nhất trong cuộc đời của tôi.

Dì tôi hôm nay không còn nữa!

Dì đã vĩnh biệt con ra đi trong khi con còn quá nhỏ chưa đủ sức làm việc kiếm tiền để nuôi lại dì, để trả ơn công lao dưỡng dục của dì đã yêu thương cưu mang tấm thân con từ thuở bé. Dì tôi chết vì tại nạn giao thông cách nay đã ba năm. Tại hiện trường lúc đó, khách đi đường đã còn tìm thấy thêm một cái bánh trung thu mà dì thường hay mua về, để cúng vái hưong hồn của cha mẹ tôi như thông lệ mỗi khi có dịp. Và cũng do từ biến cố gia đình tang thương đó, mà cuộc sống bản thân tôi đã phải bị xáo trộn rất nhiều.

Sau đó, giống như trường hợp của bà con hàng xóm, tôi đành phải chẳng đặng đừng để lìa quê, để đi xa tìm việc sinh nhai với ước mong sao cho có cơ hội tốt hơn hầu cải thiện được cuộc sống bấy lâu nơi đồng ruộng. Thời gian đầu tiên ở chốn thành phố đèn hoa, xe cộ nhộn nhịp, tôi đã phải mất khá nhiều thì giờ để tập làm quen với lối sinh hoạt văn minh có sức lôi cuốn kỳ diệu về tâm lý của con người. Nhờ ở trọ được trong nhà của một gia đình bà con nạn kiều cũng như tôi, cho nên tôi cũng cảm thấy thoải mái được phần nào. Tuy nhiên, vì lo ngại sự chung chạ lâu ngày thì cũng khó mà có thể tránh được mọi điều bất ngờ nào đó có thể xảy ra, mà làm mất lòng tốt lẫn nhau. Do vậy, cho nên tôi mới tự tìm cách mướn phòng trọ để ở chung với một người bạn gái lớn hơn tôi gần hai tuổi.

Chị là người gốc ở thành thị, cho nên chị hiểu biết hơn tôi rất nhiều. Có thể nói, sau hình ảnh của dì tôi thì chị là người được tôi coi như là điểm tựa tinh thần để tâm sự thân thiết. Trong căn phòng nhỏ tiện nghi đủ để cho hai người ở, nhưng thực ra phải nói đúng là hai người rưởi, vì chị đang có bầu với cái bào thai thành hình trông vào là thấy ngay. Chị làm nghề uốn tóc trong một thẩm mỹ viện, ngay trung tâm thành phố. Tấm bảng hiệu quảng cáo đề thẩm mỹ viện treo trên mái nhà đó, thực ra, chỉ là một hình thức thông thường để gợi sự chú ý của khách hàng. Vì ngoài cái việc uốn tóc ra, thì tiệm không có làm gì khác hơn để chăm sóc về nhan sắc cho phái nữ cả. Và cũng vì nhờ chị vững tay nghề, cho nên có nhiều khách hàng tin cậy thường tìm đến căn phòng trọ nầy, để nhờ chị uốn tóc với giá rẻ hơn. Chính vì thế, mà chị có rất nhiều dịp để làm quen với các thân chủ và lần trở thành bạn bè giao du chuyện trò.

Trước thời gian ở chung với chị, tôi làm đủ mọi nghề vất vả để kiếm sống và khi nào có thư thả thì giờ thì tôi đi chùa cầu nguyện cho dì tôi. Đồng thời, tôi cũng ước ao có ngày tốt phước gặp lại mẹ mình, như những câu chuyện thật là hi hữu, cảm động lạ lùng không thể tin nhưng có thật ở trên đời, giống y trang như trong chương trình phát sóng "Như chưa hề có cuộc chia ly" từng trình chiếu vào mỗi cuối tuần.


Tình mẫu tử thiêng liêng nghẹn ngào, nước mắt tuôn rơi trong ngày đoàn tụ

Tôi nghĩ như thế là vì không phải còn tin vào phép lạ, nhưng vì đúng theo ý nghĩa thực tế thì mẹ tôi chỉ vắng mặt, mất tích mà thôi. Hơn thế nữa, chưa bao giờ tôi tìm thấy tờ giấy khai tử của mẹ tôi giống y như trường hợp của mọi người.

Nghề làm công gần nhất của tôi sau nầy, là nghề pha chế. Tôi dùng tiếng pha chế, là vì muốn nâng cấp cho nó có vẻ kiêu sang lên một tí cho vui. Chứ thực ra, mọi động thái quen thuộc của tôi trong cái không gian bé nhỏ hằng ngày là phụ người ta nấu rượu. Nấu rượu xong rồi, thì họ giao cho tôi có bổn phận là phải sắp thành những hàng chai. Kế tiếp, thì dùng một cái ly có dung lượng nhỏ mà đổ cồn vào. Xong rồi, thì đổ mỗi ly chứa cồn vào một chai rượu đế, lắc đều, rối đóng nút lại là hoàn thành công việc. Thoạt đầu, tôi cứ tưởng cái ly nhỏ chứa nước đó giống như đồ gia vị khi làm bếp bắt buộc phải có, để thêm vào thì mới thơm ngon. Nhưng sau vài ngày ngửi mùi, thì tôi mới biết rõ đó là loại cồn kỹ nghệ uống vào sẽ gây nguy hại cực kỳ cho sức khỏe.

Thật tôi không ngờ, mình đang vô tình sinh sống bằng một phương tiện nghề nghiệp quá ư khiếp đảm như vậy! Trước đây, nguyên nhân chính làm cho tôi phải bỏ quê ra thành tìm việc làm sinh sống, cũng vì gặp phải trường hợp giống y trang như vậy. Lúc đó, làm mướn ở miệt vườn quanh đi quẩn lại thì cũng chỉ có mấy việc như gặt lúa, hái trái cây, tạp dịch ăn công, làm khoán v.v tính đi tính lại cũng chẳng có bao nhiêu loại. Nhưng làm lung tung việc lâu ngày như vậy, thì cũng chán lắm mà biết làm sao bây giờ. Lần cuối cùng, tôi nhận làm khoán cho một gia đình trồng bắp. Có nghĩa là, từ lúc đi gieo hột cho tới khi hái xong vụ mùa thì mới được trả tiền công. Trong thời gian chờ hái bắp, tôi còn phải nhổ cỏ, làm giồng trồng khoai lang, củ mì để cho gia chủ có thêm thu hoạch. Sau cùng, độ chừng hơn ba mươi ngày trước khi hái bắp, thì phải pha thuốc trừ sâu xịch vào trái bắp. Thể theo lời chỉ dẫn quan trọng trong toa thuốc, thì sau khi xịch thuốc trừ sâu nầy thì phải để trong vòng một tháng hơn mới được hái bắp. Vì nếu nhà trồng trĩa muốn hái sớm hơn, thì trái bắp sẽ không có đủ thời gian cần thiết bắt buộc, để loại thải ra hết được những độc tố làm phương hại trực tiếp đến sức khỏe cho ngưòi tiêu thụ. Tuy nhiên, ngặt có một điều là nếu phải chờ cho đến một tháng mới hái, thì sau khi hái xuống trái bắp sẽ bị héo rất nhanh hơn là hái nó sớm hơn. Do vậy, mà người ta thường hái nó sau khoảng hai tuần khi bắt đầu xịch thuốc.

Giờ đây, mỗi khi ngồi nghĩ lại những việc mình làm để kiếm cơm qua ngày thì tôi thật vô cùng ớn lạnh, ngán ngẫm. Và cũng vì thế, mà tôi quyết định chuyển sang qua đi học thí công nghề uốn tóc. Nguời bạn cũng là ngưòi thầy của tôi không ai khác hơn là bà chị đang ở cùng nhà. Chị làm có tiền nhiều hơn tôi, mặc dù ở chung nhưng đôi khi chị cũng còn chàn tiền bạc cho tôi về nhiều việc phí tổn ở trong nhà. Đáp lại, tôi làm đủ mọi thứ từ vệ sinh lau chùi nhà cửa, giặt gỵa, bếp núc, đi chợ v.v. Trong những ngày đầu tiên đi chợ, tôi thường bị mất khá nhiều thì giờ để la cà nơi các quầy hàng tạp hóa bị chị cằn nhằn hoài nhưng tôi vẫn chưa bỏ tật. Thay vì bỏ hẳn tật xấu đó, thì tôi rút ngắn nó lại bằng cách dòm qua liếc lại nơi các gian hàng thịt cá trước khi ra về. Rồi một hôm đi chợ chiều cố tình mua thịt.


Thịt bị tẩm hóa chất đổi màu

Khi đi ngang qua một sạp thịt sắp sửa dọn dẹp thì thấy không được ngon, cho nên tôi vội bỏ đi và định mua cá thay vào, dù có nghe được những tiếng mời mọc bùi tai của bà bán thịt. Sang qua sạp cá, thì thấy cá bữa nay cũng không ngon làm cho tôi phải trở lại hàng thịt. Lần nầy, tôi thấy bà bán thịt đang bày ra những miếng thịt đỏ tươi vừa mới lấy ra từ trong cái xô có nắp đậy. Tôi mừng thầm trong bụng rồi mua ngay không cần trả giá nữa, vì bà bán thịt đã rao là có hạ giá rồi.

Bà chị tôi nhìn miếng thịt xong, liền cho tôi một bài học nên thân. Chị lục tờ báo trên kệ xuống kêu tôi đọc to lên để hai chị em cùng nghe. Nghe xong, tôi rợn người khi được biết câu chuyện của những chậu ngâm hàn the có tác dụng làm cho thịt cá có màu tươi trở lại, nhưng cực hại cho sức khỏe của ngưòi nào ăn nó vào cơ thể. Rồi còn nào là chuyện rau muống xịt nhớt, hành phi chiên dầu phế thải, trái cây nhập cảnh Trung-Quốc xịt hóa chất bảo quản quá liều lượng, bún hôi tái chế, dăm bông bẩn tái chế, lợn nái giả thịt heo rừng, chân gà, nội tạng thú vật bốc mùi ngâm thuốc sát trùng v.v.

Tiện dịp, chị tìm đưa luôn cho tôi xem về những bài điều tra phóng sự của các nhà báo viết về "1001" câu chuyện mánh mung ma giáo của nghề nghiệp con người hiện hành ở khắp nơi nơi trên cõi hành tinh. Tất cả đều có bí quyết của nghề nghiệp để làm tiền hợp pháp. Từ trạm sửa xe, bảo trì máy móc, thầy thuốc chữa bệnh, thợ chuyên môn, rải đinh vá ép, hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, thậm chí còn có những mưu mô kiểu anh hùng cứu mỹ nhân để trục lợi v.v. Thật là khiếp đảm, khi cộng đồng của con người ta bắt buộc phải sống chung nhau trong sự lừa lọc, dối trá, gạt gẫm để sinh tồn!

Tánh tôi đơn giản, và dù không đơn giản nhưng bản thân tôi cũng chỉ là một kẻ xuất thân từ đồng ruộng, trong mắt tôi hàng ngày nhìn thấy cây trái bông hoa và ấm lòng dưới bóng trăng thanh gió mát. Ngoài ra, người dân quê của chúng tôi tuy cũng có những bản tính tập quán không hay, nhưng khi đem so với ngưòi thành thị thì thật là chẳng thấm vào đâu. Ngay về quan niệm trong tình yêu cũng vậy. Tôi có một người yêu chân thật, lần đầu tiên tỏ tình thì anh mở đầu bằng những lời nói mộc mạc, ấp úng, rụt rè. Có khác rất nhiều với mấy chàng trai thành thị bạo dạn nói dai, nói dài, đôi khi bằng những lời sáo ngữ thật kêu mà bà chị tôi gọi là đểu giả. Phải! Không đểu giả sao được, nếu không thì cớ chi mà bà chị của tôi lại vướng phải cái bầu oan nghiệt thế nầy. Tôi nghĩ thầm như vậy. Tôi rất thông cảm cho hoàn cảnh, gần như là trốn chạy cuộc đời của chị.

Trong cuộc sống gia đình xã hội bình thường, thì cái bào thai là hạnh phúc tuyệt vời của cặp vợ chống chung thủy, là niềm vui trọn vẹn của cả hai bên dòng họ hàng nội ngoại. Nhưng không như trường hợp đó, cái bào thai nầy của chị đúng là hậu quả của sự lỡ lầm vô cùng đáng tiếc, đã xảy ra trong nghịch cảnh của một mối tình đơn phương tuyệt vọng thương tâm. Và suýt trở thành một tai họa chết người, khi một lần chị đã mưu toan tự vận.

Phải thành thật nói rằng, trước nay tôi có quan niệm sống rất là cá nhân, ích kỷ vì lẻ thân phận mồ côi, cô đơn bạc phước. Nhưng sao bây giờ tôi lại cảm thấy mình còn có phước hơn là bà chị, vì lẻ tôi còn thân con gái chưa đến lúc phải có trách nhiệm nào với cái bào thai. Tôn trọng tình cảm riêng tư của chị, trước nay những điều gì của chính chị chưa hoặc không muốn nói ra, thì chẳng bao giờ tôi tò mò dám hỏi. Tuy nhiên, vì khi nghĩ về số phận của cái bào thai vô tội sắp sửa được chào đời, cho nên một lần tôi đánh bạo hỏi thăm chị về tác giả của nó là ai? Thay vì trả lời minh bạch, chị chỉ nói với tôi bằng một câu cộc lốc rằng là hãy nghĩ nó như là một cái thai thành hình vô thừa nhận!

Mỗi người một hoàn cảnh mà chỉ có mình mới biết! Trường hợp có người mang thai vì một phút lỡ lầm, vì bị người tình phụ bạc thì đã không hiếm có xảy ra ở trong xã hội nầy. Và nghiệt ngã thương thay cho những cái bào thai linh thiêng, nó ao ước vui mừng chờ đợi đến phút ra đời, thì sẽ hạnh phúc vô cùng vì được nhìn thấy mặt mẹ, biết cha...nhưng cay nghiệt, lại bị người đời nhẫn tâm quăng hình hài vô tội của nó vào trong thùng rác.

Hỡi ơi! Thương thay...

Có phải không, khi con người ta sống ở trên cuộc đời chỉ là cõi tạm, vì nhục thể của xác thân nầy trước sau gì cũng phải trả lại cho thế giới của bụi trần. Nói như vậy, không có nghĩa là tôi không ý thức được trách nhiệm của con người khi được cha mẹ sinh ra để làm bổn phận đóng góp tinh thần trí tuệ của mình vào cho quê hương, cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, vì từ nhiều năm làm thân phận mồ côi bơ vơ không bao giờ có được tình thương của cha mẹ, lại thiếu cả niềm hạnh phúc của cuộc đời. Do,vậy, cho nên đôi khi quá buồn cho thân phận thì tôi thầm ước...

Là nếu có thể được trở về với cõi vô sanh trước khi được sinh ra, thì chắc chắn tôi sẽ là người đầu tiên tình nguyện nộp đơn, để mong ơn trên sớm chấp thuận cho được chui vào trở lại nằm im với giấc ngủ lâu dài ở trong cái bào thai nào đó! Vì như ai cũng đã từng biết đến giá trị của giấc ngủ, từ thuở bao đời nó luôn luôn bao giờ cũng mang đến sự sung sướng cho hầu hết tất cả mọi người. Huống chi đó lại là một giấc ngủ ngàn thu, đối với linh hồn của một con người vô tội.

Và cũng kể như từ đó, tôi đã hoàn toàn được tự do giải thoát, đọan tuyệt, như chưa hề có dịp bao giờ quen biết đến cái gọi là trần gian xinh đẹp của con người.
An-Tiêm MAI-LÝ-CANG

(Paris)

Monday

TÔI BÊNH ĐIẾU CẦY

Dieu Cay

Cứ mỗi lần có một người phản tỉnh hay bất đồng chính kiến từ trong nước vược thoát được ra ngoại quốc, dù bằng cách nào, người Việt hải ngoại tỵ nạn cộng sản cũng chia làm hai phe: phe hoan hô, phe chống đối. Điều này làm cho ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam rất mừng vì đây chính là điều mong muốn của chúng. Hầu hết các bài viết của cả hai phe  điều viết theo cảm tính hoặc theo thành kiến đã có sẵn trong đầu. Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải cũng không thoát khỏi cuộc chiến này. Vừa bước chân đến Phi Trường Los Angless, vừa mới được đoàn người Việt tỵ nạn Cộng Sản đón tiếp như một vị anh hung, anh đã được nghe, hai bên chống nhau kịch liệt. Người đả kích anh cũng nhiều, nhưng kẻ bênh anh cũng lắm.
Anh Điếu Cầy là ai?
Anh sang Mỹ với mục đích gì?
Tại sao anh lại không nhận Cờ Vàng? Taị sao anh không muốn đứng chung với người Việt tỵ nạn Cộng Sản để cùng nhau chống lại bọn Cộng Sản độc tài, dã man Hà Nội?
1/ Điếu Cầy là ai ? 
Điếu Cầy là bút hiệu của anh Nguyễn Văn Hải. Anh là bộ đội phục viên, sanh năm 1952. Anh viết các bài báo của mình qua một blog cá nhân của anh nên anh được gọi là Blogger Điếu cày. Anh là một trong những thành viên sáng lập "Câu lạc bộ Nhà báo Tự do" vào tháng 9 năm 2007. Năm 2008, anh tham gia vào các cuộc biểu tình của người Việt Nam trong nước chống lại Thế vận hội Mùa hè 2008 được tổ chức ở Bắc Kinh vì Trung Cộng xâm lấn lãnh hải Việt Nam. Anh đã bị chính phủ Việt Nam truy tố tội trốn thuế và tội "phổ biến thông tin cùng các tài liệu chống nhà nước".
Ngày 20 tháng 4 năm 2008, anh Nguyễn Văn Hải bị bắt tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 10 tháng 9 năm 2008, anh bị tòa án truy tố tội "trốn thuế" và bị xử phạt 30 tháng tù giam. Đáng lẽ anh được phóng thích vào ngày 20 tháng 10 năm 2010. Nhưng vào ngày đó thì bản án của anh bị gia hạn "để điều tra thêm". Tháng 4 năm 2012, anh bị tòa án xét xử thêm về tội "tuyên truyền chống nhà nước" theo điều 88 Bộ Luật Hình sự cùng với các blogger Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Trong phiên toà này, Nguyễn Văn Hải đã không nhận là mình có tội. Anh còn   bị buộc tội là đã cùng Phan Thanh Hải tham dự một cuộc huấn luyện do đảng Việt Tân ở hải ngoại tài trợ.
Anh Điếu Cầy đã nhận được nhiều giải thưởng như giải thưởng Nhân Quyền do Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam trao tặng vào năm 2008 sau khi ông vào tù, giải Hellman/Hammett do Tổ Chức “Theo Dõi Nhân Quyền” trao tặng vào năm 2009, giải Tự Do Báo Chí do Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo trao tặng và giải “One Humnanity” do Văn bút Canada trao giải vào năm 2013. Tháng 4 năm 2012, tổ chức Những Người Bảo Vệ Quyền Công Dân (Civil Rights Defenders) đã tặng ông Hải danh hiệu "Người bảo vệ quyền Công dân".
 
Ngày 6.3.2012, cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ Cao Quang Ánh đã tổ chức một cuộc vận động ngoài hành lang cho Nguyễn Văn Hải, linh mục Nguyễn Văn Lý, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, cùng nhiều tù nhân chính trị Việt Nam khác và kêu gọi chính phủ Hoa Kỳ của tổng thống Barack Obama cũng như Quốc hội Hoa Kỳ phải lên tiếng bênh vực họ mạnh mẽ hơn. Ngày 17.4.2012 một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã kêu gọi chính phủ Cộng Sản Việt Nam thả ông Hải cùng các blogger khác vì họ "đã không làm gì khác hơn là thực thi quyền tự do ngôn luận của họ mà cả thế giới đã  công nhận".
Tháng 5 năm 2012 tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã phát biểu là "chúng ta không thể quên những nhà báo như blogger Điếu Cày, người bị bắt năm 2008 trong vụ đàn áp lớn lao việc làm báo của công dân ở Việt Nam"
Tháng 9 năm 2012, trong phiên tòa chỉ kéo dài 1 ngày xử 3 nhà bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải. Anh Nguyễn Văn Hải đã bị tuyên án nặng nề nhất là 12 năm tù giam vì anh không nhận tôi. Các công tố viên nói rằng 3 người này đã "xuyên tạc sự thật về Nhà Nước và Đảng, tạo ra sự hiểu lầm trong dân chúng, và ủng hộ các âm mưu nhằm lật đổ chính quyền".
Vào ngày 21 tháng 10 năm 2014, anh Nguyễn Văn Hải bất ngờ được chính quyền Cộng Sản Việt Nam tuyên bố ngưng thi hành án và trả tự do cho anh nhưng đưa anh ra sân bay Nội Bài đi sang Hoa Kỳ.
2/ Điếu Cầy sang Mỹ với mục đích gì?
Nói rằng anh Điếu Cầy bị tống xuất sang Hoa Kỳ là không đúng. Việt Cộng có quyền tống xuất anh đi bất cứ nơi nào ở trong nước nhưng chúng không có quyền tống xuất anh sang bất cứ một nước nào nếu không có sự đồng ý của nước đó cho anh nhập cảnh. Thứ đến, phải có sự đồng ý của người bị trục xuất tức của anh. Hoa Kỳ là nước tôn trong quyền tự do cá nhân nhất thế giới, Hoa Kỳ không bao gìơ chấp nhận cho Điếu Cầy nhập cảnh nếu anh không đồng ý. Điều này đài VOA cũng cho biết tại một cuộc họp báo, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, bà Marie Harf nói: “Chúng tôi hoan nghênh quyết định của giới hữu trách Việt Nam, trả tự do cho tù nhân lương tâm này. Ông đã quyết định lên đường sang Hoa Kỳ sau khi được phóng thích khỏi nhà tù, và sẽ tới Hoa Kỳ vào ngày hôm nay, thứ Ba 21 tháng 10. Chính ông đã quyết định sang Hoa Kỳ”.
Vậy anh sang Mỹ với mục đích gì? Theo anh Điếu Cầy thì anh sang Hoa Kỳ với 2 mục đích sau:
            * Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên. 
* Để kiện chính quyền Hà Nội ra tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các
thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do (VOA 27/10/2014).
Có lẽ anh tin rằng, đối với anh, mục đích “Để kết nối truyền thông trong và ngoài nước để đẩy mạnh làn thông tin trao đổi giữa hai bên” không khó. Bởi vì, ở trong nước dưới sự kìm kẹp của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam, anh còn kết nối được thì sang tới Hoa Kỳ, việc làm ấy, đối với anh không khó. Có khó chăng là những người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại có tin anh hay không, chắc anh đã thấy.
Đối với những người còn ở trong nước, khi anh còn ở trong nước, anh kết hợp được họ dễ dàng. Nay anh ra được ngoại quốc, liệu họ có còn tin anh nữa không? Chắc chắn sẽ có những người đặt câu hỏi: “Những người như Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, tội còn nhẹ hơn anh, lại biết ăn năn, nhận tội, tại sao không được thả, không được đi Mỹ? Còn anh, tội nặng hơn, lại ngoan cố, nhất định không nhận tội, lại được trả tự do sớm và lại còn được sang Hoa Kỳ?
Muốn thuyết phục được người Việt hải ngoại cũng như người trong nước, trước hết, anh phải kiện chính quyền Hà Nội ra trước tòa quốc tế vì đã tống giam trái phép anh và các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do và anh phải thắng vụ kiện này. Liệu anh có thắng được không?
Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ xét riêng trường hợp của anh.
Muốn kiện nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam, anh Điếu Cầy phải có tố quyền. Muốn có tố quyền, anh phải có quyền lợi. Quyền lợi của anh là thể xác anh đã bị giam giữ, khiến anh bị thiệt hại về vật chất (tài chánh) vì không làm ăn gì được. Về tinh thần, anh cũng bị mất vì phải ở trong tù. Điều này đã rõ ràng, anh không cần chứng minh và nguỵ quyền Cộng Sản Viết Nam cũng không  thể chối cãi. Bản án tuyên phạt anh 12 năm tù và anh đã ở tù được 6 năm 6 tháng (20/4/2008 – 20/10/2014).
Tuy nhiên, muốn thắng, anh phải chứng minh là anh không có tội. Việc anh nhất định không nhận tội “Tuyên truyền chống phá nhà nước và ủng hộ  các âm mưu nhằm lẫt đổ chính quyền” trước toà án không đủ nếu nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chứng minh được là anh có tội. Bởi vậy, mỗi cử chỉ, mỗi hành động, mỗi lời nói của anh, anh đều phải cân nhắc kỹ càng.
Ở trong nước, bọn nguỵ quyền Cộng Sản Việt Nam chỉ cần suy đoán, cũng có thể kết tội anh. Nhưng ở trước toà án quốc tế, chúng không thể làm thế được. Ít nhất chúng cũng phải có một bằng chứng nào đó rõ ràng, mới có thể suy đoán được. Chúng không thể nói Điếu Cầy chống Trung Cộng là chống chúng, là âm mưu nhằm lật đổ chúng vì chúng tuân phục Trung Cộng, Trung Cộng là ông cố nội của chúng. Chúng không thể nói Điếu Cầy đã đòi hỏi tự do, nhân quyền là tuyên truyền chống phá chúng vì chúng đã ký công nhận bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền khi chúng gia nhập Liên Hiệp Quốc . Nhưng nếu chúng chưng được bằng cớ rõ ràng Điếu Cầy cầm Cờ Vàng như những hình ảnh anh Đặng Chí Hùng khoác Cờ Vàng trên vai, cầm Cờ Vàng trên tay và tuyên bố rõ ràng anh “sẽ cùng đồng bảo hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam thì Điếu Cầy thua là cái chắc. Đó là lý do tại sao anh không cầm Cờ Vàng, anh không tuyên bố sẽ cũng đồng bào hải ngoại tranh đấu để lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam như anh Đặng Chí Hùng khi vưà bước chân tới phi trường Toranto, Canada.
Nếu anh Điếu Cầy thắng được vụ kiện này thì chắc chắn phong trào dòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ dâng cao và Việt Cộng sẽ phải nhượng bộ Mỹ trong vấn đề nhân quyền và tình hình Việt Nam sẽ thay đổi. 
Chính vì vậy mà chúng ta không nên kết luận vội là Điếu Cầy có chống Cộng hay không, có âm mưu nhằm lật đổ chế độ Cộng Sản Việt Nam hay không hay chỉ là một tên chống Cộng cò mồi được Mỹ và Việt Cộng toa rập với nhau để chuẩn bị cho một tình thế mới cho VIệt Nam.
Lê Duy San

Chuyện Thuở Giao Thời


tieu-tu-305.jpg
NHÀ VĂN TIÊU TỬ  :Tên thật Võ Hoài Nam, sanh năm 1930, quê Gò Dầu ( Tây Ninh )
Tốt nghiệp trường kỹ sư Marseille (Pháp) năm 1955, dạy P. Ký 1955/1956, làm việc cho SHELL VN từ 1956 đến ngày mất nước.Vượt biên rồi định cư ở Pháp từ năm 1979 đến nay.
**************
Chuyện Thuở Giao Thời





Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền « chạy » ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết « trời trăng » gì hết, chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là « Ở lại với tụi nó là chết ! ». Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4…<
…Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói : « Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi ! Không có sao hết ! Tao bảo đảm ». Thằng nầy làm lớn trong « Tổng Nha », nó nói « chắc như bắp » ! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản : « Mầy đừng đi đâu hết ! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi ! Yên tâm ! ». Riêng tôi, tôi nghĩ : « Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC ( Shell International Petroleum Company – Anh Quốc ) chắc không sao ! ». Vậy là tôi quyết định ở lại…


…Ngày 30 tháng tư năm 1975 ! Việt cộng vào « đớp » hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng…văn chương :« Tiếp Quản ». Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có…tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít ? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v…đều sai bét đối với « cái gọi là cách mạng » !

Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi…«ê-kíp » có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ « xếp » mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm…sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè « vít » K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. Vậy là trong cái tổ chức rất là…« cách mạng » nầy, cái « đầu não » của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa ! Phải nói thiệt : tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào…khùng như vậy !

Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho ( Có lẽ mấy tên « nằm vùng » đã cho bọn « cách mạng » biết rằng tôi…rành kho dầu này lắm ! ) Đến kho, tôi được « ông » bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là « xếp » cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản !

…Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ « xá xẩu » tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói :« Ta đi thôi ! ». Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…

Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v…

« Phái đoàn » đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi…phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết…khỉ gì để mà hỏi !

Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi : « Cái bể nầy bao nhiêu khối ? ». Tôi trả lời : « Mười lăm ngàn m3 ». Hỏi : « Mỹ nó làm cho các anh đấy à ? ». Trả lời : « Không có thằng Mỹ nào vô đây hết ! Toàn là dân Việt Nam thực hiện ».

Nghe vậy, lão ta cười khẫy : « Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ ! ». Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà ! Tôi nhấn mạnh : « Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt.)) Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh !. Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng !

Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói : « Các anh yên tâm : Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ ! ». Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo…

…Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên « Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai ». Hỏi « Khu Vực Một » ở đâu thì được trả lời « Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội » ! Cách mạng có khác !

Rồi là « xếp thang lương », nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp « kỹ sư bậc 2 trên 6 », nghe…khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết…chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới…té ngửa : mấy chả xếp thang lương ngược , hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng…áp chót ! Mẹ !…



Tôi lãnh 80 đồng tiền mới ( Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo ! ) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói : « Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa ? ». Thấy thằng chả đem « Bác Hồ » ra…làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích. Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi…đánh đòn chót : « Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi ! ». Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời : « Đâu được ! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được ! ». Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống !


* * *



…Tôi « chịu trận » với cái gọi là « cách mạng » hết ba năm. Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát, để bây giờ – ba mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư thứ 37…mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống, chính mấy thằng cha « cách mạng » mới là từ trên trời rơi xuống !


Tiểu Tử

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sách xưa sự tiếc nuối vô bờ bến ...

 Trang trong sách Địa Lý lớp Ba

Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến Sách giáo khoa thời VNCH

Các viện đại học tư thục
Viện Đại Học Đà Lạt: Thành lập ngày 8tháng 8 năm 1957. Một phần cơ sở của Viện Đại học Đà Lạt nguyên là một chủng viện của Giáo hội Công Giáo. Viện đại học này có 4 phân khoa đại học: Chính trị Kinh doanh, Khoa học, Sư phạm, Thần học và Văn khoa. Theo ước tính, từ năm 1957 đến 1975  viện đại học này đã giáo dục 26.551 người.
Viện Đại học Đà lạt
Viện Đại học Đà lạt
 
Viện Đại Học Vạn Hạnh: Thuộc khối Ấn Quang của Giáo hội phật giáo hội Việt Nam Thống Nhất; thành lập ngày 17 tháng 10 năm 1964 ở số 222 đường Trương Minh Giảng (sau 1975 là đường Lê Văn Sỹ), Quận 3, Sài Gòn-Gia Định với 5 phân khoa đại học: Giáo dục, Phật Học, Khoa Học Xã hội, Khoa học ứng dụng, và Văn học & Khoa học nhân văn. Vào đầu thập niên 1970, Vạn Hạnh có hơn 3.000 sinhviên.
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
Lễ phát bằng Cử Nhân của Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1973
 
Viện Đại Học Phương Nam: Được cấp giấy phép năm 1967 tọa lạc ở số 16 đường Trần Quốc Toản (sau năm 1975 là đường 3/2 ), quận 10, Sài Gòn. Viện đại học này thuộc khối Việt Nam QuốcTự của Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo sư Lê Kim Ngân làm viện trưởng. Viện Đại học Phương Namcó 3 phân khoa đại học: Kinh tế-Thương mại, Ngoại ngữ, và Văn khoa. Vào thập niên 1970, viện đại học này có khoảng 750 sinh viên ghi danh.
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
Thư viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn
 
Viện Đại Học An Giang (Hòa Hảo): Thành lập năm 1970 ở Long Xuyên với 5 phân khoa đại học: Văn khoa, Thương mại-Ngân hàng, Bang giao Quốc tế, Khoa học Quản trị và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo.
Viện Đại Học Cao Đài: Thành lập năm 1971 trên đường Ca Bảo Đạo ở Tây Ninh với 3 phân khoa đại học: Thần học Cao Đài, Nông lâm mục, và Sư phạm. Viện Đại học này trực thuộc Giáo hội Cao Đài.
Viện Đại Học Minh Đức: Được cấp giấy phép năm 1972, trụ sở ở Sài Gòn với 5 phân khoa đại học: Kỹ thuật Canh nông, Khoa học Kỹ thuật, Kinh tế Thương mại, Nhân văn Nghệ thuật, và Y Khoa. Viện Đại học này do Giáo hội Công Giáo điều hành.
Các học viện và viện nghiên cứu
Viện Pasteur Nha Trang
Viện Pasteur Nha Trang
Học Viện Quốc Gia Hành Chính:Cơ sở này được thành lập từ thời Quốc Gia Việt Nam với văn bản ký ngày 29 tháng 5 năm 1950 nhằm đào tạo nhân sự chuyên môn trong lãnh vực công quyền như thuế vụ và ngoại giao. Trường sở đặt ở Đà Lạt; năm 1956 thì dời về Sài Gòn đặt ở đường Alexandre de Rhodes; năm 1958 thì chuyển về số 100 đường Trần Quốc Toản (gần góc đường Cao Thắng, sau năm 1975 là đường 3/2), Quận10, Sài Gòn. Học viện này trực thuộc Phủ Thủ tướng hay Phủ Tổng thống, đến năm1973 thì thuộc Phủ Tổng ủy Công vụ. Học viện có chương trình hai năm cao học, chia thành ba ban cao học, đốc sự, và tham sự.
Học Viện Quốc Gia Nông Nghiệp (1972-1974): tiền thân là Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972) rồi nhập vào Viện Đại học Bách Khoa Thủ Đức năm 1974.
Ngoài những học viện trên, Việt Nam Cộng hòa còn duy trì một số cơ quan nghiên cứu khoa học như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Pasteur Đà Lạt, Viện Pasteur Nha Trang, Viện Hải dương học Nha Trang, Viện Nguyên tử lực Đà Lạt, Viện Khảo cổ v.v… với những chuyên môn đặc biệt.
 
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Viện Pasteur Sài Gòn thời Pháp thuộc.
Các trường đại học cộng đồng:
Bắt đầu từ năm 1971 chính phủ mở một số trường đại học cộng đồng (theo mô hình community college của Hoa Kỳ) như Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang ở Mỹ Tho, Duyên Hải ở Nha Trang, Quảng Đà ở  Đà Nẵng (1974), và Long Hồ ở Vĩnh Long.
Trường Đại học Cộng đồng Tiền Giang đặt trọng tâm vào nông nghiệp; Trường Đại học Cộng đồng Duyên Hải hướng về ngư nghiệp. Riêng Trường Long Hồ còn đang dang dở chưa hoàn tất thì chính thể Việt Nam Cộng hòa bị giải tán. Ở Sài Gòn thì có Trường Đại học Regina Pacis (khai giảng vào năm 1973) dành riêng cho nữ sinh do Công Giáo thành lập, và theo triết lý đại học cộng đồng.
Các trường kỹ thuật và huấn nghệ:
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Trường Kỹ Sư Công Nghệ, Trường Hàng Hải thuộc Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật
Ngoài những trường đại học còn có hệ thống trường cao đẳng như Trường Bách khoa Phú Thọ và Trường Nông lâm súc. Một số những trường này sang thập niên 1970 được nâng lên tươngđương với cấp đại học.
Trường quốc gia Nông Lâm mục: Thoạt tiên là Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập năm 1930 ở B’lao, cơ sở này đến năm 1955 thì nâng lên thành Trường Quốc gia Nông lâm mục với chương trình học bốn năm. Diện tích vườn thực nghiệm rộng 200 ha chia thành những khu chăn nuôi gia súc,vườn cây công nghiệp, lúa thóc. Qua từng giai đoạn, trường đổi tên thành Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1962-1968), Trung tâm Quốc gia Nông nghiệp (1968-1972), Học viện Quốc gia Nông nghiệp (1972-1974). Cuối cùng Trường Quốc gia Nông lâm mục được sáp nhập vào Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức ( có trụ sở ở số 45 đường Cường Để, Quận 1, Sài Gòn). Trường còn có chi nhánh ở Huế, Cần Thơ, và Bình Dương.
Trường Cao đẳng Điện học
Trường Cao đẳng Điện học
Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ: Thành lập năm 1957 thời Đệ nhất Cộng Hoà gồm bốn trường: Trường Cao đẳng Công chánh, Trường Cao đẳng Điện học, Trường Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, và Trường Việt Nam Hàng hải. Năm 1968 lập thêm Trường Cao đẳng Hóa học. Năm 1972, Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật đổi thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật và đến năm1974 thì nhập với Trường Đại học Nông nghiệp để tạo nên Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức
Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia:Thành lập năm 1966 để đào tạo nhân viên giữ an ninh và thi hành luật pháp.
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia
Khóa 2 Cảnh Sát Quốc Gia
Các trường nghệ thuật:
Trường Quốc gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ: Thành lập ngày 12 tháng 4 năm 1956 dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chương trình học sau được bổ túc để bao gồm các bộ môn âm nhạc cổ điễn Tây Phương và truyền thống Việt Nam cùng kịch nghệ.
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu Trần Thanh Tâm (đờn kìm) Phan Văn Nghị (đờn cò) Trương Văn Đệ (đờn tam) Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh)
Các giáo sư Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ đồng tấu: Trần Thanh Tâm (đờn kìm), Phan Văn Nghị (đờn cò), Trương Văn Đệ (đờn tam), Vũ Văn Hòa (sáo) và Nguyễn Vĩnh Bảo (đờn tranh).
Trường Quốc Gia Âm Nhạc Huế: Thành lập năm 1962 ở cố đô Huế chủ yếu dạy âm nhạc cổ truyền Việt Nam,dùng nhà hát Duyệt Thị Đường trong Kinh Thành Huế làm nơi giảng dạy.
Trường Quốc Gia Trang Trí Mỹ Thuật: Thành lập năm 1971, trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Trang trí Mỹ thuật Gia Định (tiền thân là Trường Mỹ nghệ Gia Định, thành lập năm 1940).
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Buổi học hình họa tại lớp dự bị của trường Quốc gia Mỹ thuật Sài Gòn đầu thập niên 60
Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn: Thành lập sau năm 1954; chuyên đào tạo về nghệ thuật tạo hình với các chương trình học 3 và 7 năm. Vị giám đốc đầu tiên là họa sĩ Lê Văn Đệ  (1954-1966).
Sinh viên du học ngoại quốc:
Một số sinh viên bậc đại học được cấp giấy phép đi du học ở nước ngoài. Hai quốc gia thu nhận nhiều sinh viên Việt Nam vào năm 1964 là Pháp (1.522) và Hoa Kỳ (399), đa số theo học các ngành khoa học xã hội và kỹ sư.

TÀI LIỆU VÀ DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Trang trong sách Địa Lý lớp Ba
Truyện Kiều bản chữ Nôm của Chiêm Vân Thị do Bộ Giáo dục Việt Nam Cộng hòa xuất bản năm 1967
Năm 1958, chính phủ Đệ nhất Cộng hòa cho lập Ban Tu thư thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục để soạn, dịch, và in sách giáo khoa cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Tính đến năm 1962, Bộ Quốc gia Giáo dục đã ấn hành xong 39 đầu sách tiểu học, 83 sách trung học, và 9 sách đại học.[82]
 
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa sách Địa Lý lớp Ba
Trang bìa cuối sách Địa Lý lớp Ba
 
Các giáo chức và họa sĩ làm việc trong Ban Tu thư đã soạn thảo trọn bộ sách cho bậc tiểu học. Bộ sách này được đánh giá cao cả về nội dung lẫn hình thức. Có nhiều sách đã được viết, dịch, và phát hành để học sinh và sinh viên có tài liệu tham khảo. Phần lớn sách giáo khoa và trang thiết bị dụng cụ học tập do Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục sản xuất và cung cấp với sự giúp đỡ của một số cơ quan nước ngoài. Trung tâm này còn hợp tác với UNESCO để viết và dịch sách dành cho thiếu nhi để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo dục cũng dành riêng ngân quỹ để in sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc thiểu số khác nhau ở Việt Nam.
 
KohoReader

Ngoài ra, để có sự thống nhất trong việc sử dụng các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo dục cũng đã thiết lập Ủy ban Quốc gia Soạn thảo Danh từ Chuyên môn bao gồm nhiều giáo sư đại học. Ủy ban đã soạn thảo và, thông qua Trung tâm Học liệu, ấn hành những tập đầu tiên trong lĩnh vực văn học và khoa học.[83] Trong những dự án đó Bộ cho in lại nguyên bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm.

NHÀ GIÁO

Đào tạo giáo chức:

Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.  Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
Trường ĐH Sư Phạm thuộc Viện ĐH Huế.
Tòa nhà này thời Pháp là KS Morin Frères
 
Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn (thành lập vào năm 1957) là cơ sở sư phạm đầu tiên, bắt đầu
khai giảng năm 1958.[84] Sau có thêm các trường cao đẳng sư phạm ở Ban Mê Thuột, Huế, Vĩnh Long, Long An, và Quy Nhơn, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên. Ngoài ra còn có Trường Đại học Sư phạm Huế thuộc 
Viện Đại học Huế và Trường Đại học Sư phạm Đà Lạt thuộc Viện Đại học Đà Lạt. Vào thời điểm năm 1974, cả nước có 16 cơ sở đào tạo giáo viên tiểu học với chương trình hai năm còn gọi là chương trình sư phạm cấp tốc. Chương trình này nhận những ai đã đậu được bằng Trung học Đệ nhất cấp. Hằng năm chương trình này đào tạo khoảng 2.000 giáo viên tiểu học. Giáo viên trung học thì phải theo học chương trình của trường đại học sư phạm (2 hoặc 4 năm). Sinh viên các trường sư phạm được cấp học bổng nếu ký hợp đồng 10 năm làm việc cho nhà nước ở các trường công lập sau khi tốt nghiệp
.
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Đội ngũ giáo sư trẻ nhiệt tình vừa tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn
Nha Sư phạm (thuộc Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên) và các trường sư phạm thường xuyên tổ chức các chương trình tu nghiệp và các buổi hội thảo giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi và phát triển nghề nghiệp. Bộ Văn hóa, Giáo dục và Thanh niên cũng gởi gởi nhiều giáo chức đi tu nghiệp ở các nước như AnhPhápHoa KỳNhậtĐức, v.v…
Đối với giáo sư đại học thì đa số xuất thân từ 
Viện Đại học Đông Dương ở Hà Nội từ trước năm 1954. Số khác được đào tạo ở Pháp, Đức và Mỹ. Vào năm 1970 tổng cộng có 941 giáo sư giảng dạy ở các trường đại học của Việt Nam Cộng hòa.
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên  dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Lễ khai giảng Trường Đại học Quốc gia Việt Nam ngày 15 tháng 11 năm 1945, khóa đầu tiên dưới chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Đời sống và tinh thần giáo chức:

Chỉ số lương của giáo viên tiểu học mới ra trường là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là 400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. Với mức lương căn bản như vậy, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở các thành phố thời Đệ nhất Cộng hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người giúp việc trong nhà. Sang thời Đệ nhị Cộng hòa, đời sống bắt đầu đắt đỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn và Đà Nẵng. Tuy vậy, lúc nào các nhà giáo cũng giữ vững tinh thần và tư cách của nhà mô phạm (người mẫu mực, người đóng vai trò hình mẫu), từ cách ăn mặc thật đứng đắn đến cách ăn nói, giao tiếp với phụ huynh và học sinh, và với cả giới chức chính quyền địa phương.
Scan_Pic0046
Một nữ giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm.

THI CỬ VÀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP

Chứng chỉ Tú Tài 1
Chứng chỉ Tú Tài 1
Đề thi trắc nghiệm đã được sử dụng cho môn Công dân, Sử, Địa trong các kỳ thi Tú tài I và Tú tài II từ niên khóa 1965-1966. Đến năm 1974, toàn bộ các môn thi trong kỳ thi tú tài gồm toàn những câu trắc nghiệm. Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều phải đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1.800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời của học sinh để tính độ khó của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu hỏi trắc nghiệm cho thích hợp.
Chứng chỉ Tú tài 2
Chứng chỉ Tú Tài 2
 
Đầu những năm 1970, Nha Khảo thí của Bộ Quốc gia Giáo dục đã ký hợp đồng với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vụ, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển… đến các con số thống kê cần thiết. Bảng trả lời cho đề thi trắc nghiệm được đặt từ Hoa Kỳ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230. Điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy IBM 534 để đục lỗ. Những phiếu đục lỗ này được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cộng điểm, tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, chuyển điểm thô ra điểm tiêu chuẩn, tính thứ hạng trúng tuyển v.v… Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp của khoa học thống kê để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Một số nhà lãnh đạo giáo dục tiêu biểu

Trong suốt thời gian 20 năm tồn tại, các vị tổng trưởng (tức bộ trưởng) và thứ trưởng giáo dục của Việt Nam Cộng hòa đã có những ý tưởng, sáng kiến, và nỗ lực mang lại sự tiến bộ cho nền giáo dục ở miền Nam Việt Nam. Sau đây là vài nhà lãnh đạo tiêu biểu:
Phan_Huy_Quat
Ông Phan Huy Quát

ĐÁNH GIÁ

hocba1950
Học bạ của một học sinh giỏi nhất lớp năm 1950
 
Về học bạ trên, Giáo sư Dương Thiệu Tống, trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức đánh giá như sau:
Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.” ( Trích từ nguồn Blog Lý Toét )
 
Từ ngày 7 đến ngày 28 tháng 6 năm 1975 ( tức là sáu tuần sau sự kiện ngày 30 tháng 4), Arthur W. Galston, giáo sư sinh học ở Viện Đại học Yale, viếng thăm miền Bắc Việt Nam (lúc đó vẫn là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Theo tường trình của Galston cho tạp chí Science số ra ngày 29 tháng 8 năm 1975 thì một trong những chủ đề khiến các nhà lãnh đạo miền Bắc bận tâm vào lúc đó là vấn đề thống nhất với miền Nam. Theo tạp chí Science thì “Việc thống nhất trong lĩnh vực khoa học và giáo dục có lẽ sẽ có nhiều khó khăn vì hai miền đã phát triển theo hai chiều hướng khác nhau trong nhiều thập niên. Nhưng dù cho có nhiều khó khăn, Galston nhận thấy các nhà lãnh đạo miền Bắc công khai bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nhiều đặc điểm của nền khoa học và giáo dục ở miền Nam; họ dự định kết hợp những đặc điểm này vào miền Bắc khi quá trình thống nhất đang được thảo luận sôi nổi vào lúc đó thực sự diễn ra.” Theo Galston, các nhà lãnh đạo miền Bắc, cụ thể được nhắc đến trong bài là Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam) vàPhạm Văn Đồng (Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), đặc biệt quan tâm đến hệ thống giáo dục nhấn mạnh đến các ngành kỹ thuật và điện tử cùng hệ thống các trường đại học cộng đồng hệ hai năm đã được thiết lập ở miền Nam (nguyên văn tiếng Anh: “the widespread educational emphasis on engineering and electronics and the system of two-year, community colleges”).[104]
Lời chứng và đánh giá của ông Mai Thái Lĩnh, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt,[105] nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Thành phố Đà Lạt dưới chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Tôi là con của một cán bộ Việt Minh– tham gia Cách mạng tháng Tám tại Lâm Đồng sau đó tập kết ra miền Bắc [...] Chế độ Việt Nam Cộng hòa lúc đó biết lý lịch của tôi, nhưng vẫn không phân biệt đối xử, cho nên tôi vẫn có thể học hành đến nơi đến chốn. Tính chất tốt đẹp của nền giáo dục cũ của miền Nam là điều tôi công khai thừa nhận, vì vậy suốt 14 năm phục vụ trong ngành giáo dục “xã hội chủ nghĩa” (1975-1989), tôi bị người ta gán cho đủ thứ nhãn hiệu, chụp cho nhiều thứ mũ chỉ vì tôi nêu rõ những ưu điểm của nền giáo dục cũ cần phải học hỏi. Chính là do thừa hưởng nền giáo dục đó của miền Nam mà tôi có được tính độc lập trong tư duy, không bao giờ chịu nô lệ về tư tưởng…[106]
Đánh giá của nhà phê bình văn học Thụy Khuê: “Có thể nói, trong suốt thời gian chia đôi đất nước, mặc dù với những tệ nạn của xã hội chiến tranh, tham nhũng; miền Nam vẫn có một hệ thống giáo dục đứng đắn. Trong chương trình giáo khoa, các giai đoạn lịch sử và văn học đều được giảng dậy đầy đủ, không thiên hướng. Ở bậc trung học học sinh gặt hái những kiến thức đại cương về sử, về văn, và tới trình độ tú tài, thu thập những khái niệm đầu tiên về triết học. Lên đại học, sinh viên văn khoa có dịp học hỏi và đào sâu thêm về những trào lưu tư tưởng Đông Tây, đồng thời đọc và hiểu được văn học nước ngoài qua một nền dịch thuật đáng tin cậy, dịch được những sách cơ bản. Nguyễn Văn Trung trong hồi ký đã nhấn mạnh đến sự tự trị của đại học, nhờ sự tự trị này mà các giáo sư có quyền giảng dạy tự do, không bị áp lực chính trị của chính quyền. Chính điều kiện giáo dục này, đã cho phép miền Nam xây dựng được một tầng lớp trí thức, một tầng lớp văn nghệ sĩ và một quần chúng độc giả; giúp cho nhiều nhà văn có thể sống bằng nghề nghiệp của mình. Và cũng chính tầng lớp trí thức và sinh viên này đã là đối trọng, chống lại chính quyền, khi có những biến cố chính trị lớn như việc đàn áp Phật giáo thời ông Diệm và việc đấu tranh chống tham nhũng (như vụ báo Sóng Thần) thời ông Thiệu.[107]
 
(Nguồn: Wikipedia, FB Tuyen Nguyen)
Huỳnh Minh Tú (biên tập và thêm hình ảnh sưu tầm từ Internet)
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
 
-----------

........
Đời một Tổng Thống:
http://www.mediafire.com/view/o7d1a4cd41a1kyf/Doi-mot-TongThong-NgoDinhDiem.pdf

Thi vào lớp 6 (1971):
http://www.mediafire.com/view/mnmqzrn2b5qxepj/Thi-vao-lop-6(1971).pdf

Công dân giáo dục lớp 11 (1969):
http://www.mediafire.com/view/x0m5royi9l7xk95/GiaducCongDan-lop-11-(1969).pdf

Tập làm văn lớp 5 (1971):
http://www.mediafire.com/view/bbdi9481p9j8bmq/Taplamvan-lop-5-(1971).pdf

Toán pháp lớp 5 (nhà xuát bản Lửa Việt - 1972):
http://www.mediafire.com/view/dkstb94id2ctxv3/Toanphap-lop-5-(LuaViet)-1972.pdf

Tâm lý học lớp 12ABCD (1967):
http://www.mediafire.com/view/w6atnj9j7aje3hy/Tamlyhoc-12ABCD-1967.pdf

Chính trị phổ thông (niên khóa 65-66):
http://www.mediafire.com/view/ejedfr2hjh1147s/Chinhtri-phothong-1965-1966.pdf

Quốc văn tân biên lớp 5 (1971):
http://www.mediafire.com/view/siso22999ocud9y/Quocvan-Tanbien-(1971).pdf

Kỹ thuật tuyên truyền chính trị:
http://www.mediafire.com/view/7r9n738p55mxqa9/Kythuat-tuyentruyen-chinhtri-1969.pdf

Lịch sử VN và thế giới (lớp đệ tứ - 1959):
http://www.mediafire.com/view/v6bfg2dufwpj1zl/Lichsu-VN-thegioi(lop-deTu-1959).pdf

Minh Tâm Bửu Giám (1968):
http://www.mediafire.com/view/aim5k4895c8a64f/MinhTamBuuGiam-1968.pdf

Đông lai bác nghị (1973)
http://www.mediafire.com/view/h7omam8a42rhoct/DongLaiBacNghi-1973.pdf

Sử địa lớp đệ Nhất (1969):
http://www.mediafire.com/view/h3ve25fvaec6ysp/SuDia-lopDeNhat-1969.pdf

Sách xạo: Những hòang đố không ngai (1983):http://www.mediafire.com/view/bfd6qb2nsoo9p93/sachxao-Hoangdekhongngai.pdf

Việt văn đệ Nhị (1953) – mất bìa.
http://www.mediafire.com/view/x5jork77588fzr1/VietVan-deNhi-1953.pdf

Hình học không gian lớp 11 ban A (1965):
http://www.mediafire.com/view/5f9l02ep2mjk9sb/Hinhhockhonggian-11A(1965).pdf

Đại số học lớp 11 ban A (1965):
http://www.mediafire.com/view/9262631w3oshf4i/Daiso-11A(1965).pdf

Vạn vật học đệ nhị (1969)
http://www.mediafire.com/view/a1w5bovji3w7045/VanVathoc-deNhi-1969.pdf

Một đời TT Ngọ Đình Diẹm:
http://www.mediafire.com/download/o7d1a4cd41a1kyf/Doi-mot-TongThong-NgoDinhDiem.pdf

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |
Site Meter