Friday

Atêka : Đèn Cù, bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy?

Đèn Cù, bản cáo trạng trước khi đèn bị cháy?



hcm
Tôi đã đọc đến những trang cuối của Đèn Cù rồi đây. Có một điều tôi chờ đợi, tôi muốn thấy, nhưng không thấy. Lạ hơn, cũng không có, dù chỉ là một tư tưởng nhỏ của sự giải thoát cho người, cho những lớp voi giấy, ngựa giấy hay chó giấy ra khỏi cái khung sườn của CS. Trái lại, dù là người ở ngoài, thú ở trong, vẫn là một cảnh vừa chạy, vừa đuổi, tít mù theo cái vòng quay của nó. Nó vẫn quay và làm chết người. Niềm đau là người không lối thoát!

Khi “Đêm giữa ban ngày” và tác giả của nó đã vượt qua cõi chết, đem ra trước công luận những hình ảnh, những thân phận người đang phải sống dưới bóng tối, dù bên ngoài trời đã sáng, làm cho nhiều người phát kinh hoàng về một góc độ của cuộc sống thực trong “ thiên đường cộng sản”. Khi ấy, dù chẳng nói ra, nhiều người có thêm một dịp được nhìn tận mắt, nghe tận tai câu chuyện, cuộc sống của người ở phía bên kia. Những câu chuyện mà có lẽ cái nhà nước CS ấy, dù rât tinh thông nghề láo lếu, gian trá, vẫn không thể há mồm ong óng lên là cuốn sách do “ thế lực thù địch” đặt hàng để viết ra. Tuy thế, tôi vẫn cho đó chỉ là những nét phẩy, nét vẽ đơn điệu của bên thắng thế dành cho bên yếu thế của họ trong quá trình tranh dành quyền lợi cá nhân trên nỗi thống khổ, lao nhọc và đau thương của đồng bào Việt Nam. Nó không hề phản ảnh, hay nói lên được cái gian trá, đểu cáng đến tột cùng mà chế độ ấy, trong đó bao gồm cả bản thân phía bị gọi là thua, yếu thế đã gây ra cho dồng bào của mình. Tôi đâm ra lạnh nhạt, vô cảm, dửng dứng với câu chuyện “ đêm giữa ban ngày”.

Tuy thế, tôi vẫn nghĩ rằng, rồi ra sẽ có được những tác phẩm với những đường kẻ rõ nét hơn, sắc bén hơn, trung thực hơn khi soi dọi vào những khuôn mặt mo đã làm nên hình thù của một chế độ bệnh họan phía bên kia bờ vĩ tuyến 17, để không phải chỉ ở bên kia vĩ tuyến, nhưng trên toàn cõi Việt Nam đã rơi vào trong tang thương. Ở đó, có đầu rơi, có máu chảy. Có nhiều người chết. Chết bằng nhiều kiểu, cách khác nhau. Người bị giết lén, bị chặt đầu bằng dao mã tấu của HCM. Kẻ bị chết vì mùa đấu tố. Người chết vì bom, vì mìn của Lê Duẫn trên đường “ gỉải phóng”. Kẻ bị thả trôi sông vì không theo giặc cộng. Người bị bêu đầu vì làm việc cho Cộng Hòa. Đủ kiểu, đủ cách sẽ được phơi bày trên những trang giấy trọng tính nhân văn. Ở đó, những sự thật dẫu là tàn bạo, man rợ đều không thể bị che khuất bởi những làn mây đen, dù tác giả đã viết nó trong một ngày không có nắng. Để nhờ đó, lịch sử được soi sáng và những bạo tàn, gian dối có cơ may đón nhận sự tha thứ từ đồng bào hơn là tiếp tục che dấu để tồn đọng sự hận thù trong lòng dân tộc. Sự chờ đợi ấy đến nay vẫn chưa có. Tuy nhiên, từ trong bóng đêm đã thấp thoáng một bóng Đèn Cù,

“ Người ta không đốt đèn rồi để nó ở dưới gầm giường, nhưng là đặt trên gía cao để soi sáng cho cả nhà” ( Lc, 8,16).

Khi nói đến cái đèn, người ta liên tưởng ngay đến đặc tính của nó là chiếu sáng và đẩy lui đi bóng tối. Nghĩa là, nhờ ánh sáng của đèn người ta nhìn thấy rõ những sự vật đang nằm trong bóng tối. Hơn thế, ánh sáng còn tạo ra nguồn lực, sức nóng, nguồn sống cho con người. Mất đi đặc tính chiếu sáng, sức nóng, đèn không còn là chính mình. Tuy nhiên, Đèn Cù trong nhân gian Á Châu, Việt Nam ( và có thể do chính tác giả mượn chữ của nó, để diễn nghĩa) không phải là loại đèn dùng để soi sáng, tỏa nhiệt, tạo nguồn động lực sống, xóa tan bóng đêm. Nhưng là loại đèn được thiết trì với mục đích giải trí cho đôi mắt, tạo niềm vui nho nhỏ cho người thưởng lãm. Theo đó, ánh sáng, sức nóng từ ngọn đèn sẽ tác dụng tạo ra nguồn động lực làm chuyển động những khung hình, trên ấy có những hạng mục voi giấy, ngựa giấy, chó giấy… cùng theo nhau, đuổi nhau chạy vòng quanh trong lồng đèn, tạo cho người xem một cảm giác là lạ, thích thú. Ánh sáng ấy khi tỏ khi mờ, đôi khi loé lên, chíếu dọi ra bên ngoài qua những hình thú nhấp nhô, để khách thưởng lãm nhìn rõ mặt từng hình thú voi giấy, ngưạ giấy, chó giấy đang quay tít kia mà bàn tán, chê khen. Phận thú, mặc cho lời bàn tán, nó vẫn tiếp tục quay như điên, như cuồng, chẳng khi ngừng lại cho đến khi đèn hết dầu hoặc đèn bị cháy.

I. Những hạng mục trong Đèn Cù.

Như tôi đã nhắc đến ở trên. Một trong những điều thú vị của Đèn Cù là ánh sáng của nó, dù không tỏ, vẫn làm cho vòng quay phải quay, vẫn giúp cho người đứng xem, nhìn được vài, ba đường nét nổi bật, cũng như những góc khuất của đoàn thú đang chạy vòng vòng trước mặt. Nghĩa là, sau những vòng quay, chẳng một con thú nào không được điểm đanh với những hình dạng, đặc tính riêng của nó. Cũng thế, mời bạn trở lại chuyện cái Đèn Cù Việt Nam, chúng ta nhìn thử xem thế nào?

a. Dàn voi đi đầu: Hồ chí Minh.

Gần 80 năm qua, chẳng ai có số liệu chính xác trong tay, nhưng chắc hẳn là không có dưới 5, 7 chục ngàn những bài viết dài ngắn, lớn nhỏ, từ trung ương xuống địa phương, của những người thổi ống đu dủ và của cả những kẻ đã bỏ của chạy lấy người, mang tính lừa gạt cao, đầy tình tiết thêu dệt về nhân vật Hồ chí Minh với mục đích lừa người dân thuộc thời 1950-60, thời chủ yếu phát thanh bằng cái loa mồm và dao mã tấu tin thôi. Chứ bây giờ, thơi của tin học toàn cầu ai tin cho nổi đó là một lãnh tụ anh minh, vĩ đại.. Đã thế, họ còn ngoa ngữ Y là một loại cha già kiểu cha già tộc dân…. bán khai nào đó, mà Việt cộng có công lớn khi nhập cảng Y vào Việt Nam! Cùng chủ đích, cũng có hàng chục cuốn sách của các tác giả khác nhau, vẽ vời ra những góc cạnh, hình ảnh giả tưởng như ” ông thánh”, như “cái đỉnh chói lọi” “ vừa đi đường vừa…” với mục đích “ dựa hơi”, thổi ống, kiếm sống, kiếm phần đỉnh chung. Chẳng ai trong số những tác giả này, ở trong nước hay hải ngoại đã nói lên được một vài nét thật, đặc tính, hay những cốt lõi ( tốt, xấu, bần tiện) đã làm nên hình ảnh, con người, sự nghiệp và đời sống của Y. Tất cả đều vơ vào, loanh quanh, ngụy biện, tuyên truyền, dối trá với những lý do của lịch sử, thuộc về lịch sử, đã đầu độc dân chúng, đầu độc dư luận, gây ra một sự ngộ nhận lớn trong lịch sử.

Nay sự kiện xem ra đã đổi khác đôi phần. Qua dòng chữ vắn vỏi: “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi” ( buổi đấu tố bà Nguyễn thị Năm) trong Đèn Cù ( trang 82) của Trần Đĩnh, người ta đã có thể nhìnm hiểu một cách thấu đáo hơn, cặn kẽ hơn và đánh giá đúng hơn về tư cách, về lương tri, về đời sống và về phẩm chất bần tiện, cùng những hành vi tồi bại của HCM, mà chẳng cần phải đọc cả ngàn ngàn trang sách, báo chê khen nào khác nữa. Bởi vì, có cộng chung hàng tấn sách báo mà CS vẽ vời ca tụng Y lại với nhau, cũng không thể bào chữa, khoả lấp, tẩy xóa được cái hình ảnh, cái tư cách cực hèn của một chủ tịch nước, chủ tịch đảng cộng sản đã bịt râu che mặt đến dự cuộc đấu tố người ân nhân của đảng, của nước do chính mình lựa chọn về cách đấu và người đấu. Chỉ cần một câu ấy “ cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi” là quá đủ để vẽ nên trọn hình ảnh của một tên hề,( hề mới vẽ râu sơn mặt). Là quá đủ để cho hàng ngàn tấn sách báo tâng bốc kia thành rác ruởi, và đủ chứng liệu để lịch sử xếp cho y một chỗ đứng nào đó, bắt buộc phải có trong lịch sử Việt (dẫu muốn quăng nó đi, cũng không quăng đi được!).

Thật vậy, trưóc đây guồng máy tuyên truyền của CS luôn phát đi những điều gian dối, nhiều người, kể cả hàng ngũ cán cộng trung cao cấp cũa cs, cứ tưởng HCM là một lãnh tụ, người tổ chức và đứng đầu guồng máy lãnh đạo của nhà nước cộng sản tại miền bắc là người tử tế, có tư cách. Nay qua nhiều tài liệu lịch sử đ3ã phơi bày, qua ánh Đèn Cù của Trần Đĩnh, thực tế lại hề qúa hề. HCM chẳng phải là kẻ đã tạo ra cái khung lồng đèn ấy. Trái lại, Y chỉ là hề, kẻ đứng đầu trong các hạng mục voi giấy ngựa giấy, chó giấy chạy vòng vòng, quay tít trong cái lồng đèn để làm trò vui tai lạ mắt cho những kẻ điều khiển là Liên sô và Tàu cộng mà thôi! Trần Đĩnh kể:

“ Bác xuất ngoại, trong ATêKa chúng tôi rất mực vui. Đâu có biết đại thí sinh Hồ Chí Minh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới. (tr,45)( Tại sao lại đoạn tuyệt với thế giời, Ở đó không phải là tổ chức của loài người chăng?). Sau đó, nghe truyền đạt Stalin đã phân công Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam,… (tr,49) Lúc ấy chưa nhận hết hàm nghĩa của từ phụ trách. Đúng, thế nào là phụ trách? Là phải ốp sát, kèm chặt ở bên! Đồng chí La có tư cách song trùng: vừa đại sứ cách trở vừa thường xuyên đụng đầu bàn bạc ở cương vị “phụ trách.”(tr.51). Nên biết chính Bác tự nguyện nhận mình chỉ nêu ra được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục, (điều lệ thêm câu “lấy tư tuởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam,” điện đảng gửi Ðảng Cộng sản Trung Quốc viết Đảng Lao động Việt Nam nguyện học tập Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Ðông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc (tr. 49)”

Cuộc voi chạy thê thảm là thế, nhưng ngay sau khi được chuẩn nhận như là chú voi chạy đầu, là HCM hoá…. Cáo! Tác phong đổi hẳn. Trong lần đầu gặp HCM (1957), Trần đúc Thảo đã được dặn dò kỹ lưỡng. Thấy lạ, Thảo hõi:
- Nếu không được xưng tôi thì xưng bằng gì?

- Đồng chí có thể xưng bằng “con,” hay bằng “cháu,” và phải gọi Người bằng “bác” như đồng bào vẫn gọi… Những mệnh lệnh này là quan trọng, đồng chí phai ghi nhớ cho kỹ, kẻo làm hỏng cuộc diện kiến với “Người”… (Trần Đức Thảo. Những Lời Trăn(g) Trối,2014).

Đó là tình cảnh trước và sau khi gặp Mao. Trước đó, HCM đã viết thư gởi Stalin, xin được trả 100 đô la Mỹ một tháng để có tiền sống và đi hoạt động. Rồi ngày 31-10-52, Hồ chí Minh viết thư, trình cái đề án gọi là cải cách ruộng đất ở VN với sự giúp đỡ của hai viên cô vấn Tàu để xin Stalin phê chuẩn. HCM đã giữ đúng thứ, bậc trong hạng mục nô lệ, giúp việc cho ngươi. Y đã toại nguyện mộng làm nô lệ được trả công. Chỉ tiếc rằng, Y không lường trước được là cái thư xin 100 đô la một tháng, xin phép ngoại nhân để giết người Việt Nam của Y rồi ra sẽ được phơi bày ra trưóc công luận! Nó trở thành bản án muôn đời cho chính kẻ viết ra nó!

Với bên ngoài thì HCM khúm núm, qùy gối như thế, nhưng quay vào trong. HCM lại có ngay cho mình hai thái độ là ông chủ nhớn, và kẻ đại bất lương. Ông chủ dựa hơi làm chủ như Trần đức Thảo ghi lại. Bất lương chính là việc viết ” điạ chủ ác ghê” dùng làm cơ sở cho các cuộc đấu tố, đã trực tiếp giết chết 200 ngàn sinh mạng vô tội. Rồi làm bại hoại nền luân lý, đạo đức của xã hội Việt Nam.

Trước đây, cái chết của bà Năm trong ngày Hồ chí Minh khai hội múa dao, gọi là cải cách ruộng đất ở miền bắc đã được nhiều kẻ tung hứng và đưa ra những tin tức thất thiệt, cho là Hồ chí Minh không biết. Hoặc giả, không có ý giết người ( BT, HT), nhưng vì Lê qúy Ba một cố vấn và phụ trách mảng Việt Nam của Tàu ra lệnh, nên Hồ chí Minh phải gật đầu. Từ việc loanh quanh biện hộ này đã cho thấy Hồ chí Minh vốn dĩ chỉ là một loại voi giấy chạy đầu, dưới quyền chỉ bảo sai khiến của Lê qúy Ba. Đến nay, những gỉở giáo, bênh đỡ, che đậy ấy đã thực sự bị lột trần ra rồi. Hồ chí Minh không những chỉ là kẻ viết ra bản cáo trạng gian dối, bất lương, ngậm máu độc phun người, có một không hai trong lịch sử để mở đầu cho cuộc đấu tố đầy vong ân bội nghĩa để vui lòng chủ nhân Tàu. Y còn “ bịt râu che mặt đến dự một buổi” trong cuộc đấu tố ấy nữa. Chắc đọc xong 8 chữ này, các ống đu dủ của y cái thì bể, cái bị xì hơi, hết cách thổi! Những tấn sách, những tên tuổi vẽ vời về Y tự nhiên cháy đen thui. Bởi lẽ, những hành động của y thể hiện trong việc viết bản cáo trạng ” địa chủ ác ghê” đã là một việc làm bất kương không ai có thể tưởng tượng ra, nay lại đích thân đi mở đầu cuộc đấu bằng cách che râu dấu mặt thì có khác gì những quân khủng bố. Hỏi xem, chúng ta phải liệt Y vào hạng mục nào cho xứng? Đó có phải là một tội ác cực lớn đối với con người và tổ quốc Việt Nam không?.

Với con người, nó đã trực tiếp lấy đi sinh mạng của 200 ngàn người và làm cho hàng trăm ngàn gia đình khác phải tan nát. Với Tổ Quốc, nó đã giết chết nền luân lý đạo đức và văn hóa của Việt Nam bằng sách lược của CS, ép thúc con đấu cha, vợ đấu chồng, anh chị em, thân nhâu đấu nhau. Với đồng bào, nó đã phân chia ra thành giai cấp, với khẩu hiệu “Trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ” để triệt hạ tình nghĩa đồng bào, tiêu diệt tình người trong xóm thôn. Tạo ra một xã hội băng hoại niềm tin. Ở đó, tất cả chỉ còn phụ thuộc vào gian trá và nói dôi nhau theo bản cáo trạng của HCM mà sống. Với tôn giáo, nó đã đập phá, hủy hoại niềm tin lành thánh vào thần linh của con người bằng cách tạo ra chiêu bài ” bài trừ mê tín dị đoan” để phá chùa, đập đền thờ, xô đổ đình miếu và đốt nhà thờ. Sau đó, đưa hình ảnh và cái đầu lâu của Hồ chí Minh vào đình chùa, miếu đền, nơi tôn nghiêm như là một hình thức suy tôn mới để phỉ báng tôn giáo. Với chỉ bấy nhiêu thôi, đất nước Việt Nam đủ tan hoang, và tang thương chưa?


b. Voi dày mả tổ: Trường Chinh Đặng xuân Khu.

Trước đây, người Việt Nam đã rõ ngọn nguồn về một tên tuổi lừng danh trong đảng cộng sản. Kẻ này vang danh khét tiếng với những hành động thiếu hẳn nhân tính trong vai trò chỉ đạo cuộc đấu tố 1953-1956. Tính công, Y chỉ đứng sau Hồ chí Minh trong việc xát hại gần 200 ngàn người Việt Nam để cướp toàn bộ tài sản của họ. Y là Đặng xuân Khu thường được biết đến qua tên hiệu Trường Chinh. Trần Đĩnh viết ” Với tôi, anh có thể làm tổng bí thư suốt đời”. Sau cái chết oan ức của 200 ngàn người, và ảnh hưởng quá nghiêm trọng do cuộc đấu tố 53-56 tạo ra, Đặng xuân Khu đã mất chức TBT vào tay Lê Duẫn. Khi đã bị hạ tầng công tác, Khu còn được vinh dự mang thêm “ huy chương” là kẻ đấu tố bố mẹ đẻ, và là kẻ vong ân, bội nghĩa khi dự phần vào cuộc đấu tố bà Nguyễn thị Năm.

Ở đây, tôi cũng xin nói rõ một điều là. Tôi chưa đọc được trang sách nào khả tín nói đến chuyện Đặng xuân Khu về Hành Thiện đấu tố bố mẹ mình, và cũng chưa thấy ai chứng thực rằng đã thấy Trường Chinh làm chuyện này, nhưng có lẽ là do bố mẹ của Khu cũng bị vạ lây trong mùa đấu tố mà Khu bị mang lấy cái tiếng này chăng? Bị tiếng vì quả báo? Nhưng chuyện Khu dúng chàm trong vụ giết người ân nhân của mình thì không thể chối cãi được. Trước đây đã có nhiều người nói đến, nay Đèn Cù của Trần Đĩnh hụych toẹt ra là. “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt” (ĐC 82). Có nghĩa là TC có mặt từ đầu đến cuối nhưng phải che mặt đeo kính vì sợ người ngoài nhận diện? Đã hèn thế, còn lệnh cho Trần Đĩnh ” cần một bài báo viết nổi bật lên khung cảnh sôi sục, sinh động của cuộc đấu tố để ca ngợi sức mạnh của bần cố nông được phát động, còn tội ác thì tôi cứ theo tài liệu, cáo trạng của đội…. chi tiết, khai thác Văn. “ (ĐC 82). Mục đích Trần Đĩnh không viết ra, nhưng có lẽ Y không đến để khóc thương bà Năm. Nhưng là đến chỉ đạo đánh cho gọn, đánh cho đẹp?

Chuyện đấu tố là thế. Trước đó, cây lý luận nhớn nhất của đảng cộng sản đã được biết đến là kẻ rưóc voi về dày mả tổ, kẻ muốn xin cho Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Tháng 8-1951 trong văn thư với bảng hiệu “Ủy ban hành chánh kháng chiến VNDCCH năm thừ 7”. Nhân danh TBT đảng Lao Động (CS) lúc bấy giờ, Chinh viết lời kêu gọi đồng bào Việt Nam “bỏ chữ Quốc Ngữ học chữ Tàu. Bỏ thuốc Tây dùng thuốc tễ của Tàu” mà Y khoác lác là “hay nhất hoàn cầu”, như là một điều kiện để xin cho VN được làm chư Hầu cho Tàu. Vì “Tàu không những chỉ là bạn, nhưng còn là thày của ta nữa”. Về lý luận có lẽ không ai hơn Khu thật. Bởi vì nhở Đặng xuân Khu, CS đã tạo ra được những bản văn Ô nhục nhất để lưu lại trong dòng lịch sử của Việt Nam! Phục chưa nào?

Một người như thế, bất cứ ai nghe đến đều phải rùng mình rợn tóc gáy. Nhưng CS thì hãnh diện và tác giả của Đèn Cù, một chàng trai hao hiệp, được Lê đức Thọ khen là có tài (chắc không phải là tài viết bậy theo CS?) đã sống, tiếp xúc và làm việc nhiều với Trường Chinh ngay từ lúc 19 tuổi. Là ngươi đã xưng tôi với Trường Chinh ngay từ lần tiếp xúc lần đầu tiên, có lẽ nào không hề hay biết gì đến những tội thuộc diện trời không tha, đất không dung của Y? Đã thế, còn coi Y là người lý tưởng của mình thì rất lạ. Có phải vì gần mực mà bị đen hay không? Ờ đây, tôi không quy trách bất cứ một điều gì cho tác giả, chỉ dám nêu lên một thắc mắc là: Không biết tác giả đã yêu và coi Trường Chinh là lý tưởng của minh về phưong diện nào? Về tư cách và hành vi của y trong cuộc đấu tố chết 200 ngàn đồng bào Việt Nam, hay là hợp thỉnh, đồng mưu với Y trong việc rườc voì về dày mả tổ và xin làm chư hầu cho Trung cộng?

c. Dàn ngựa Tầu: Lê Duẩn, Lê đức Thọ…

Trong Tam Quốc có kể lại một câu chuyện rất bất nhân về nhân vật Lữ Bố là: Khi được Trác tặng con ngựa thì Lữ Bố giết chủ là Đinh Nguyên, theo Trác, gọi Đổng Trác là cha. Đến khi bị Đổng Trác phỗng tay trên, chiếm mất Điêu Thuyền con gái nuôi của tư đồ Vương Doãn thì cầm họa kích giết Đổng Trác. Sau cùng bị Tào Tháo… cứa cổ.

Rồi hôm nay, trong Đèn Cù có câu chuyện Lê Duẫn, Lê đức Thọ… nổi lên như một cặp ngựa chiến của thời đại trong tay của Trung cộng đã tàn phá non sông Việt Nam, và gây ra cái chết cũa gần ba triệu sinh linh trong cuộc chiến từ 1954-1975. Trần Đĩnh viết: “Cụ Hồ, Trường Chinh, Giáp không muốn ngả theo Mao, nhưng Duẩn tin rằng theo sấm sét của tư tưởng “Lê-nin thời ba dòng thác cách mạng” thì sẽ giải phóng thống nhất đất nước… . Duẫn theo Mao hẳn rồi, ”( tr.258). Tiết lộ này, xem ra chẳng có gì là mới mẻ cả. Trái lại, nó chỉ có khả năng đúng được một phần ( Duẩn theo Mao), còn môt phần lớn khác ( Minh, Chinh, Giáp không theo Mao mở cuộc chiến) có khi là một chứng gian!

Thật vậy, mọi người từ quê ra tỉnh đã biết và biết rất rõ là Lê Duẩn đã nhiều lần tỏ bày hết tâm tư nguyên vọng của một kẻ tôi đòi, nô bộc với Mao qua những lần giáp mặt hay không giáp mặt với Mao là: “Cuộc chiến đánh Mỹ, giải phóng miền nam là chúng tôi đánh cho Trung quốc, cho Liên Sô”…. “ Sở dĩ chúng tôi kiên trì chiến đấu là vì Mao chủ Tịch, …. Cuộc chiến đấu của chúng tôi là phụ thuộc vào công việc của Mao chủ tịch!” Rõ ràng là ngựa Tàu hại nước Việt. Tuy nhiên khi nhìn lại, những tuyên bố dầy nô lệ tính của Duẫn sẽ chẳng có gì là khó hiểu và chẳng phải tự ý làm. Trái lại, đó chỉ là phản ứng lấn vai của những con ngựa trong bầy muốn chứng tỏ mình là con khoẻ mạnh, hung hăng để cho chủ nhân vửa ý, đóng giây cương vào cổ mà thôi. Với người, đó là tâm tư nguyện vọng của hạng nô lệ, tôi đòi, sợ chủ nhân không biết được lòng dạ khuyển mã của mình mà tin dùng kẻ khác chăng?

Có lẽ thế! bởi vì cùng đi theo hệ tư tưởng nô lệ, nê tập đoàn cộng sản từ Minh, Chinh, Duẩn, Đồng, Giáp, kéo theo cả một dàn gọi là lãnh đạo cho đến hôm nay đều dòm chừng nhau, tranh công, hạ gối, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để chủ nhân Tàu sủng ái, đóng giây cương vào cổ, đặt vòng xích vào chân như dấu ấn chứng nhận là người của chủ. Sau đó, cúi đầu dưới ngọn roi mà phục vụ cho chủ nhân, miễn là, sau đó, họ được phép đứng dậy hò hét, nghênh ngang với các “đồng chí” trong đảng. Còn đối với nhân dân, một tập thể vốn dĩ đã bị coi là nô lệ trong chế độ CS thì cần chi phải lưu tâm tới nữa. Thống khổ ư? Nhân Quyền ư? Tự Do, Độc Lập ư, Tôn giaó ư? Tất cả đều là không! Lý do, khi tập đoàn lãnh đạo, đảng đã là nô lệ cho ngoại nhân thì ngưòi dân sẽ còn là hạng mục gì khác?

Đây chính là điểm khác biệt lớn nhất trong tư duy của những người lãnh đạo ở miền nam như Tổng Thống Diệm, TT Thiệu, với các tay lãnh đạo trong hàng ngũ của đảng CS tại miền bắc. Tư duy lãnh đạo của những nhà lãnh đạo ở miền nam với thế giới, với đồng minh, với nhân dân là tự chủ, là nhân bản, là bình đẳng, là tôn trọng, là luật pháp. Trong khi đó, cái tư duy cốt lõi của lãnh đạo CS bắc Việt với CS QT là ngắn gọn hơn. Nô lệ và phụ thuộc. Theo đó, những người lãnh đạo ở miền nam trước 1975 sẵn sàng lấy tính mệnh của mình để bảo vệ quyền lợi, quyền sống của người dân, bảo vệ đất đai, sông núi, biển đảo của tổ quốc. Trong khi đó, vì muốn có quyền lực trong tay, từ HCM, Lê Duẫn, Phạm văn Đồng, cho đến những kẻ kế thừa sau này đều có một quyết sách như nhau. Bên ngoài thì cúi đàu nhận roi, sẵn sàng dâng đất, dâng biển đảo của tổ quốc cho kẻ thù của dân tộc. Bên trong, sẵn sàng giết hại, tù đằy đồng bào của mình, hoặc giả, chà đạp quyền sống, quyền lợi, phúc sinh của người dân để đẹp lòng chủ nhân phương bắc!

Cần bằng chứng ư? Hãy hỏi thăm những quan cán đầu tỉnh ở Hà Tĩnh xem họ có đưọc phép đên vùng xây dựng gọi là formosa ở Vũng Áng để kiểm soát xem có bao nhiêu công nhân Tàu đến làm việc không có giấy phép ở đây hay không?( theo báo Vietnamnet ngày 8-8-2014 cho biết, khu xây dựng Formosa có hơn 4000 công nhân Tàu đang làm việc, nhưng chỉ 200 người có giấy phép. Số còn lại không giấy tờ nhập cảnh, nhưng các quan chức địa phương không được phép vào kiểm tra). Đấy chủ quyền đất nước duới tay cộng sản là thế đấy! Còn nói chi đên Hoàng Sa Trường Sa ớ tút mút ngoài biển làm gì?

Trở lại câu chuyện của dàn ngựa Tàu và cái Đèn Cù. Trước hết, HCM đã được xếp hạng siêu nô lệ cho Liên sô từ lâu. Hơn thế, còn được coi là con đẻ của Tàu. Chủ nhân Tàu đã che chắn cho Y từng bước. Từ việc y mang tên Lý Thuỵ rồi cho lấy Tằng tuyết Minh do Dĩnh Siêu, vợ của Chu ân Lai làm mai mối. Lại đặt cho cái tên là Hồ Quang, đóng vai Thiếu tá trong Bát Lộ Quân của Chu Đức. Ít lâu sau, Hồ Quang được hộ tống vào Việt Nam dưới sự chỉ đạo, phụ trách của Lê qúy Ba, Trần Canh, được đôn lên làm chủ tịch đảng rồi chủ tịch nưóc. Được chủ nhân Tàu cung cấp toàn bộ, từ vũ khí lương thực cho dến quân trang, quân dụng để gọi là chống Pháp, mở cuộc đấu tố, giết hại cho hết những người Quốc Gia. Rồi đánh trống thổi kèn theo chiêu bài giải phóng dân tộc, cướp lấy chính quyền, đẩy chiến tranh ra khỏi đất Trung cộng. Nhưng trên hết, từ Hoa Nam, HCM được huấn luyện, được đưa vào Việt Nam với chủ trương Hán hóa Việt Nam, đẩy Việt Nam vào làm chư hầu cho Trung cộng. Công trạng ấy, ai sánh bằng?

Đến cái gai trong mắt. Nếu có phải nhường bước cho HCM, có lẽ Duẩn cũng cam lòng vì số phận. Phiền vì cái gai Trường Chinh còn kia, Duẩn ăn ngủ sao yên. Duẩn mất ăn mất ngủ vì Chinh đã khôn ngoan khi biết ruột dạ của Hồ là rắp tâm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Tàu, Khu đã nhanh tay, nhanh chân mà thảo ra cái văn thư với bảng hiệu “ Ủy Ban Kháng Chiến” và kêu gọi ngưòi Việt Nam “bỏ học chữ Quốc Ngữ mà học tiếng Tàu” để xin làm chư hầu cho Trung cộng. Việc thì không chắc thành, nhưng cái văn thư ấy, cái ruột dạ ấy đã làm mát lòng mát dạ quan thầy bánh trưóng phương Bắc. Nay nhất thới vì vụ đấu tố, uy tín trong nội bộ của Khu có bị giảm xút đôi chút. Nhưng nếu sau này, Tàu cộng muốn thực hiện sách lược kéo Việt Nam vào làm vùng tự trị như nội Mông thì Trường Chinh còn trẻ hơn Hồ, chắc chắn phải có ngày chủ nhân lại đưa y trở lại cái vị thế số một chư hầu ở nam bang. Khi đó Duẫn ra sao? Đây chính là cái lo trong gan phổi của Duẩn, Y không tranh thắng với Khu trong phương cách xin làm nô lệ cho Tàu cũng không được.

Ấy là chưa kể đến Phạm văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, cả hai đã từng sang theo hầu HCM ở Côn Minh. Người thì theo lệnh của Hồ đã nhanh tay ký phăng cái công hàm, công nhận chủ quyền của Trung Cộng ở Hoàng Sa và Trưòng Sa, mà theo những văn bản và lịch sử được quốc tế công nhân là của Việt Nam và đang ở dưói sự kiểm soát của chính phủ miền nam. Kẻ thì theo kế của Trần Canh cố vấn, sẵn sàng đánh Pháp rồi đánh Mỹ đến ngưòi Viêt Nam cuối cùng cũng đánh. Đánh xong là nhà hoang, đất Việt Nam bỏ trống. Nhìn mảnh đất màu mỡ này thì còn hạnh phúc nào lớn hơn cho người anh em Trung cộng. Từng đoàn từng lũ kéo sang mà đóng cọc, làm nhà rồi bỏ phiếu xin làm chư hầu cho Trung cộng. Kế ấy mà thành thì ai dám tranh công với Đồng với Giáp? Chinh, Đồng, Giáp đều theo gương Hồ để được bụng Tàu, có lẽ nào Duẩn không theo? Nay đang ngồi ở trên cái ghế TBT mà được Tàu cộng đóng giây cương vào cổ, đặt vòng xích vào chân thì vai trò siêu nô lệ của Duẩn có ai dám vào đó mà tranh?

Theo đó, Duẩn cũng chỉ là một hạng mục trong cái tập đoàn CS VN có cơ hội đi chầu và tỏ lòng tùng phục chủ nhân Tàu cộng mà thôi. Nhưng người phóng viên của tờ báo gọi là “ sự thật” của cộng sản từ những năm 49-50 ở Atêka khi mới 19 tuổi, nay đầu đã bạc lại nhìn không ra. Lại bảo Hồ, Chinh, Giáp không theo Mao tham chiến là sai. Qúa Sai. Sai vì hai lý do: Việc riêng là vì “ còn yêu Chinh và ghét Duẩn”. Và về việc công, có lẽ người phóng viên ở trong rừng năm xưa cho rằng người Việt Nam chưa bị giải phóng, chưa từng thấm thiên đường CS. Cũng chẳng có mấy người biết đọc biết viết như ở trong Atêka, nên tác giả áp dụng sách tuyên truyền của đảng. Cứ viết bừa, viết cho lấy được bất chấp hậu quả, chẳng biết đúng sai. Và cũng không biết, cái lối viết ấy là hại người hại mình. Nó là một sai lầm lớn. Sai không thuốc chữa nếu như không muốn nói là gian! Trước hết, nó chẳng lừa được ai, còn cho mọi ngưòi thấy là hình như tác giả đang viết cho thời 1949-50, hoặc chưa bước chân vào thành phố. Bênh HCM, TC, VNG bằng luận điệu này thà lấy lửa đốt chính mình đi còn hơn!



I I. Chuyện xin làm chư hầu và công hàm bán nước Đèn Cù .
Bảo Giang

Thursday

Hà Nội Tin Khẩn Cấp: Văn Thư Cha Giám Tỉnh Kêu Gọi Cầu Nguyện Đặc Biệt Cho DCCT Hà Nội

Văn Thư Cha Giám Tỉnh Kêu Gọi Cầu Nguyện Đặc Biệt Cho DCCT Hà Nội

VRNs (23.10.2014) – Sài Gòn- Như VRNs chúng tôi đã đưa tin khẩn cấp , nhà cầm quyền Hà Nội tự ý triển khai dự án xây dựng ngay trên đất Hồ Ba Giang là tài sản hợp pháp của DCCT Việt Nam do tu viện Thái Hà quản lý.

Trong một lá thư gởi đến các tu sĩ DCCT VN, ngày 22.10.2014, cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, Phó bề trên Chánh xứ đã thay mặt Thái Hà viết như sau:

“Trọng kính cha Giám Tỉnh,

Kính thưa Quý Cha Bề Trên, Quý Cha và Quý Thầy,

Trong những ngày qua, chính quyền quận Đống Đa, Tp hà Nội đã ngang nhiên, đơn phương đưa công nhân và các máy móc đến xây dựng trên phần đất Hồ Ba Giang thuộc quyền sở hữu của DCCT Hà Nội và giáo xứ Thái Hà.

Ngay sau đó cha Giám tỉnh DCCT Vinhsơn Phạm Trung Thành soạn thảo văn thư kêu gọi cầu nguyện đặc biệt cho DCCT Hà Nội.

Sau đây là nội dung văn thư:


Pv.VRNs

Hình ảnh Hồ Ba Giang bị chiếm dụng và đang xây dựng công trình bởi nhà cầm quyền Hà Nội


 http://thanhnienconggiao.blogspot.co.uk/2014/10/van-thu-cha-giam-tinh-keu-goi-cau.html#sthash.zjNcTl66.dpuf

Văn Thư Cha Giám Tỉnh Kêu Gọi Cầu Nguyện Đặc Biệt Cho DCCT Hà Nội

VRNs (23.10.2014) – Sài Gòn- Như VRNs chúng tôi đã đưa tin khẩn cấp , nhà cầm quyền Hà Nội tự ý triển khai dự án xây dựng ngay trên đất Hồ Ba Giang là tài sản hợp pháp của DCCT Việt Nam do tu viện Thái Hà quản lý.

Trong một lá thư gởi đến các tu sĩ DCCT VN, ngày 22.10.2014, cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, Phó bề trên Chánh xứ đã thay mặt Thái Hà viết như sau:

“Trọng kính cha Giám Tỉnh,

Kính thưa Quý Cha Bề Trên, Quý Cha và Quý Thầy,

Trong những ngày qua, chính quyền quận Đống Đa, Tp hà Nội đã ngang nhiên, đơn phương đưa công nhân và các máy móc đến xây dựng trên phần đất Hồ Ba Giang thuộc quyền sở hữu của DCCT Hà Nội và giáo xứ Thái Hà.

Ngay sau đó cha Giám tỉnh DCCT Vinhsơn Phạm Trung Thành soạn thảo văn thư kêu gọi cầu nguyện đặc biệt cho DCCT Hà Nội.

Sau đây là nội dung văn thư:


Pv.VRNs

Hình ảnh Hồ Ba Giang bị chiếm dụng và đang xây dựng công trình bởi nhà cầm quyền Hà Nội


 
- See more at: http://thanhnienconggiao.blogspot.co.uk/2014/10/van-thu-cha-giam-tinh-keu-goi-cau.html#sthash.zjNcTl66.dpuf

Văn Thư Cha Giám Tỉnh Kêu Gọi Cầu Nguyện Đặc Biệt Cho DCCT Hà Nội

VRNs (23.10.2014) – Sài Gòn- Như VRNs chúng tôi đã đưa tin khẩn cấp , nhà cầm quyền Hà Nội tự ý triển khai dự án xây dựng ngay trên đất Hồ Ba Giang là tài sản hợp pháp của DCCT Việt Nam do tu viện Thái Hà quản lý.

Trong một lá thư gởi đến các tu sĩ DCCT VN, ngày 22.10.2014, cha Giuse Nguyễn Văn Phượng, Phó bề trên Chánh xứ đã thay mặt Thái Hà viết như sau:

“Trọng kính cha Giám Tỉnh,

Kính thưa Quý Cha Bề Trên, Quý Cha và Quý Thầy,

Trong những ngày qua, chính quyền quận Đống Đa, Tp hà Nội đã ngang nhiên, đơn phương đưa công nhân và các máy móc đến xây dựng trên phần đất Hồ Ba Giang thuộc quyền sở hữu của DCCT Hà Nội và giáo xứ Thái Hà.

Ngay sau đó cha Giám tỉnh DCCT Vinhsơn Phạm Trung Thành soạn thảo văn thư kêu gọi cầu nguyện đặc biệt cho DCCT Hà Nội.

Sau đây là nội dung văn thư:


Pv.VRNs

Hình ảnh Hồ Ba Giang bị chiếm dụng và đang xây dựng công trình bởi nhà cầm quyền Hà Nội


 
- See more at: http://thanhnienconggiao.blogspot.co.uk/2014/10/van-thu-cha-giam-tinh-keu-goi-cau.html#sthash.zjNcTl66.dpuf

Ai muốn đánh cắp "Nỗi Lòng Người Đi" của Anh Bằng?





Vấn đề suy thoái đạo đức, ăn gian nói dối, mua bán bằng cấp và chạy chức chạy quyền trong xã hội thời Cộng sản không còn ngạc nhiên mà là thói quen của một bộ phận cán bộ, đảng viên, ngay cả trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ. Lãnh đạo đảng và nhà nước đã nhiều lần nhìn nhận như thế nhưng không sao cải thiện được.


Giáo sư Hoàng Tụy, nhà toán học nổi tiếng của Việt Nam từng nói: “Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối. Thế nhưng đã có hơn một nhà khoa học nước ngoài nói thẳng với tôi rằng, điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở các tầng nấc.” (trích Phỏng vấn của báo Dân Trí)

Giáo sư Hoàng Tụy
Ông Hoàng Tụy, người có Anh hùng Hoàng Diệu là Bác ruột còn nói với báo điện tử Việt Nam Quality (VieQ.VN) ngày 03/03/2014: "Việc sử dụng bằng giả, bằng thật mà chất lượng dỏm có hại trực tiếp đến cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống của chúng ta. Muốn nâng cao chất lượng bộ máy nhà nước, không có cách nào khác phải chống bằng giả, phải bảo đảm giá trị thật của bằng cấp. Tình trạng bằng giả chỉ chui được vào cơ quan nhà nước theo cách nói của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận không phải là khám phá gì mới mẻ, chẳng qua quan chức nói ra thì nghe... lạ tai, chứ dân chúng thì biết rõ điều này. “Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tuệ” là câu vè nghe chướng tai nhưng lại rất thực tế."

Thực tế đã chứng minh số người có bằng giả đã hoặc đang làm việc trong các cơ quan nhà nước không hiếm ở Việt Nam. Người nổi tiếng trong vụ khai gian bằng Tiến sĩ là Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang nay đã bị sa thải. Ông Quang khai đã có bằng Tiến sĩ tại Đại học Uppsala, Thụy Điển, nhưng sự thật thì trường này, theo báo chí Việt Nam, chỉ cấp chứng chỉ về nghiên cứu Khoa học Dược phẩm tự nhiên cho ông Cao Minh Quang, chứ không phải văn bằng.

Báo VnExpress viết ngày 16/9/2011: “ĐH Uppsala xác nhận: "Ông Cao Minh Quang, sinh ngày 6/6/1953, đạt chứng chỉ "Licentiatexamen" về nghiên cứu khoa học dược phẩm tự nhiên vào ngày 26/10/1994. Đây là chứng chỉ chứ không phải văn bằng. Theo quy định của trường Uppsala chứng chỉ nói trên cần phải đạt được để tham dự khóa học tiến sĩ".

Bằng chứng này đã xác nhận một thực trạng ai cũng biết đang diễn ra trong xã hội Việt Nam: Ở bất kỳ địa vị nào trong xã hội, nhất là những kẻ có chức có quyền, cũng có thể gian dối để đạt lợi ích cá nhân mà không cần phải hổ thẹn với lương tâm.

Trường hợp của "Nỗi Lòng Người Đi"

Vì vậy khi đem bi kịch gian dối lồng vào sự bất lực của nhà nước trong cuộc chiến phòng, chống tham nhũng từ bao nhiêu năm mà nay vẫn còn “nghiêm trọng” cũng không phải là một ngoại lệ. Nếu sự dối gian này cũng đã lan sang lĩnh vực Văn nghệ trong thời gian 2 năm qua đối với Tác phẩm Âm Nhạc nổi tiếng “Nỗi lòng người đi” của Nhạc sĩ Anh Bằng thì cũng không ai ngạc nhiên.

Tuy chuyện “tranh quyền Tác giả” bài ca lịch sử này đã râm ran từ lâu nhưng không mấy người quan tâm cho đến khi Đài Truyền hình VTV1 loan báo có chương trình Giai điệu tự hào mang chủ đề Người Hà Nội lúc 20h ngày 24/10 (2014), và Ca khúc Nỗi lòng người đi - của nhạc sĩ hải ngoại Anh Bằng sẽ lên sóng VTV1.

Vì vậy ông Khúc Ngọc Chân - nguyên nhạc công cello Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam đã làm to chuyện rằng chính ông ta mới là Tác giả của “Nỗi Lòng Người Đi”, có tên gốc là “Tôi Xa Hà Nội” viết năm 1954!

Câu chuyện bắt đầu như thế này:

Nhạc sĩ Anh Bằng, người có tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1926 tại Nga Điền, Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa cùng quê với Nhà thơ Hữu Loan, Tác giả của Bài Thơ bất tử “Mầu tím hoa sim”. 

Khi bước sang tuổi 88 năm 2014, Nhạc sĩ Anh Bằng đã có một gia tài gần 700 ca khúc nhạc tình, nhạc dân tộc và nhạc trẻ nổi tiếng, trong đó có “Nỗi lòng người đi” ra đời ngày 15/04/1967.

Khi Tác phẩm này in ra, ai cũng thấy chỉ có một mình tên Tác giả Anh Bằng in trên Bản nhạc.


Và trong suốt 47 năm qua, qua trình diễn của nhiều thế hệ ca sĩ từ trong nước ra hải ngoại, không có bất cứ một ai dám “cả gan” tranh chấp chủ quyền với ông.

Tại sao? Bởi vì ông đã viết ra “Nỗi Lòng Người Đi” cho cả một thế hệ người Bắc di cư vào Nam năm 1954, trong đó có gia đình ông, sau khi Việt Nam phải chia đôi đất nước tại Hội nghị Geneve tháng 07/1954.
Nội dung bài hát nói lên tâm trạng rời bỏ quê hương Hà Nội của một Thanh niên đã phải bỏ lại người yêu đi tìm tự do vì không thể nào có thể ở lại miền Bắc sống chung với quân Việt Minh thời ấy.

Lý do dễ hiểu vì Anh Bằng thuộc một gia đình chống Cộng sản như Tiểu sử ông đã cho biết: “Năm 1935 ông xa gia đình để học Tiểu chủng viện Ba Làng tại huyện Tĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hóa, sau đó ông lại tiếp tục theo học trung học ở Hà Nội. Vì gia đình anh em ông chống Việt Minh, vào thời kỳ Kháng Pháp, ông bị Việt Minh bắt giam ở trại Lý Bá Sơ. Các anh em ông bị tuyên án tử hình nhưng sau được thả, riêng người anh Trần An Lạc bị Việt Minh thủ tiêu. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở khu Bà Chiểu, Sài Gòn cho đến năm 1975.”

Chuyến ra đi lịch sử của Anh Bằng năm 1954 và cuộc di cư vào Nam trong thời gian 300 ngày của trên 1 triệu người dân miền Bắc đã in đậm trong tâm khảm người Việt Nam thời ấy. Vì vậy, mỗi khi nghe ai hát “Nỗi lòng người đi” là người dân gốc Bắc, dù ở trong nước hay hải ngoại suốt 60 năm qua (20/7/1954 – 20/07/2014), cũng phải rưng rưng nước mắt!

Thế nhưng, tuy đã gần đến tuổi 50 kể từ ngày ra đời 1967, “Nỗi lòng người đi” vẫn không thoát khỏi một tai nạn không ai có thể ngờ tới xẩy đến năm 2012 qua “một việc làm chung” của 2 người ở Hà Nội, Nhà báo phê bình ân nhạc Nguyễn Thụy Kha và Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân, người tự nhận chính ông mới là “tác giả thật” của “Nỗi Lòng Người đi” đã được ông Anh Bằng đặt thay cho “tên nguyên thủy” là “Tôi Xa Hà Nội”.

Nguyễn Thụy Kha - Khúc Ngọc Chân

Lập luận của 2 ông Kha và Chân có một số điểm “rất nên thơ” nhưng họ lại không chứng minh được:

Thứ nhất, hãy nghe ông Nguyễn Thụy Kha kể: "Một buổi sáng cuối thu Hà Nội, có một người nhỏ thó đến văn phòng tôi làm việc ở 59 Tràng Thi - Hà Nội. Ông tự giới thiệu là Khúc Ngọc Chân.

Tôi nhìn mãi mới nhận ra ông đã từng là nghệ sĩ đàn cello ngồi ở Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam từ những năm mới thành lập. Các anh em của ông là Khúc Phác và Khúc Ka Hoàng cũng đều là dân nhạc nổi tiếng từ lâu. Ông Chân họ Khúc, đích thị là con cháu Khúc Thừa Dụ ở Ninh Giang - Hải Dương rồi. Ông nói rằng ông có bài thơ về tổ tiên được khắc trên bia đá tại đền thờ họ Khúc ở quê. Dần dà, ông bắt đầu kể cho tôi nghe về hoàn cảnh ra đời của ca khúc “Nỗi lòng người đi” mà chính ông là tác giả với cái tên đầu tiên là “Tôi xa Hà Nội.”

Thế rồi chuyện tình của Tác giả Tôi Xa Hà Nội Khúc Ngọc Chân được ông Kha kể: “Vốn yêu âm nhạc, ông Chân tìm đến học đàn với thầy Wiliam Chấn ở gần Hồ Tây. Lúc ấy, cả nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Tạ Tấn cũng đều đến học thầy Chấn nổi tiếng. Qua học thầy mà ông Chân quen với một thiếu nữ Hà Nội tên là Nguyễn Thu Hằng, kém ông hai tuổi. Rồi tình yêu nhen lửa. Họ đã có những ngày đầu yêu thương thật thơ mộng bên bờ Hồ Gươm. Không thể quên những chiều ngồi bên bờ hồ té nước đùa vui với nhau.

Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ký hiệp định Genève. Ông Chân phải theo gia đình về quê. Nỗi nhớ nhung người yêu khiến cho ông cảm xúc bâng khuâng.

Khi trở về Hà Nội, ông Chân mới biết gia đình người yêu đã xuống Hải Phòng, ở khách sạn Cầu Đất chờ di cư vào Nam. Ông tìm xuống Hải Phòng để sống cùng người yêu, chờ tiễn nàng xuống tàu. Những ngày đó, với cây guitar luôn mang theo bên mình, Khúc Ngọc Chân viết Tôi xa Hà Nội tại khách sạn Cầu Đất – Hải Phòng, viết lại những gì đã bâng khuâng trong suốt những ngày tháng qua, những ngày tháng xa Hà Nội:

(1) "Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói bay theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai bên hồ
Khua nước chơi như ngày xưa.”

Trong khi Anh Bằng viết: 

“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa.”

Bài của Nguyễn Thụy Kha viết tiếp như ông viết Truyện tình thơ mộng của Khúc Ngọc Chân: “Chàng tròn 18 tuổi. Nàng tròn 16 tuổi. Khi ấy, tuổi ấy yêu đương là bình thường. Nếu nỗi nhớ thương người yêu ngày đó đã khiến cho Hoàng Dương viết ra Hướng về Hà Nội nổi tiếng, thì Khúc Ngọc Chân cũng viết Tôi xa Hà Nội nổi tiếng không kém. Chàng lại tiếp tục dào dạt trở lại cái cảm xúc ấy, cái giai điệu ấy nhịp 3/8 hát chậm và tình cảm (Lento - Espressivo):

(2)“Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Thuở ấy tôi mang cây đàn
Quen sống ca vui bên nàng
Nàng khóc tơ duyên lìa xa…”

Nhạc Anh Bằng:

“Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian, tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên lìa tan.”

Nguyễn Thụy Kha còn bi thảm hóa cuộc gặp của đôi tình nhân Nguyễn Thu Hằng-Khúc Ngọc Chân với những dòng: "Không biết trong những ngày ngắn ngủi bên nhau ở Hải Phòng, nàng đã khóc bên chàng bao lần. Chỉ biết rằng họ vẫn an ủi nhau, nàng cứ vào trước, chàng hứa hẹn rằng sẽ vào sau, sẽ tìm nàng ở Sài Gòn. Nàng hãy gắng chờ đợi giữa đô hội phồn hoa:

(3)“Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa dòng đời
Ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ.”

Nhưng đoạn này lại giống hệt như lời của Anh Bằng:

“Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ.”

Nhưng đến đoạn chót của Bài hát thì ông Khúc Ngọc Chân thay đổi:

(4)“Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu não đi trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Ai nhắn thay tôi đôi lời, chỉ ước mơ mong đẹp đôi.”

Trong khi Anh Bằng đã viết:

“Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi
trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi.”

Những mặt trái bị lộ

Đến đây thì chân tướng không thật bắt đầu lộ ra với giọng văn tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Kha: "Ca khúc được viết xong, Khúc Ngọc Chân đã tập cho nàng hát thuộc lòng, hát đi hát lại đến chan chứa cảm xúc. Khi ấy đã là cuối tháng 11.1954.

Ngày đưa tiễn nàng và gia đình xuống tàu há mồm di cư vào Nam, chàng và nàng cùng xuống một chiếc thuyền con ở bến Bính để đi ra nơi tàu đậu ngoài cửa biển. Thuyền cứ trôi, còn chàng thì cứ bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe. Nàng thì vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền. Một cảnh tượng chia tay thật lãng mạn như trong tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn. Và rồi con tàu đã rời xa đất liền, trôi mãi vào biển cả mênh mang, mang theo nàng và mối tình đầu day dứt cùng giai điệu đượm buồn kia. Còn chàng thì quay về, rồi trở lại Hà Nội. Nhưng nỗi nhớ nàng thì cứ thắp sáng trong những đêm trường cô đơn.”

Lối “tả chân” của Nhà văn Nguyễn Thụy Kha chất chứa đầy đủ những hoạt cảnh cần thiết cho một khúc phim tình cảm của thời bình trên chiếc du thuyền, nhưng chắc chắn không thể có “trong chuyến đò” di cư của người miền Bắc vào Nam của thời 1954. Tất nhiên vào khi ấy, không người di cư tất tưởi nào lại còn đủ bản lãnh để thư thái mà “bập bùng guitar và hát Tôi xa Hà Nội cho nàng nghe” , và nàng cũng “ung dung”, chả quan tâm gì đến bố mẹ và gia đình ngồi quanh để “vừa nghe vừa đập nhịp bằng tay lên mạn thuyền”!

Về trường hợp của cô Nguyễn Thu Hằng, qua ngòi bút điêu luyện không cần có chứng minh, ông Nguyễn Thụy Kha viết: “Còn nàng, khi vào Sài Gòn, vì mưu sinh, với khả năng văn nghệ và vẻ đẹp của mình, nàng đã đến đầu quân cho một quán bar. Ở đó, nàng vừa làm việc, vừa nhớ người yêu. Ca khúc của chàng đã được nàng tự hát trong những đêm thương nhớ. Hát để nhớ chàng, hát để chia sẻ với bao người khác có tâm trạng nhớ nhung như nàng. Và đương nhiên, một ca khúc hay như thế đã lọt vào thẩm âm của nhiều nhạc sĩ lúc đó cũng đã lìa xa Hà Nội. Chắc chắn trong đó có nhạc sĩ Anh Bằng. Ca khúc đã có một số phận khác khi được nhạc sĩ nhận thức và tìm cách xử lý. Còn ở Hà Nội, Khúc Ngọc Chân đâu ngờ gia đình ông bao đời không chịu làm cho Tây đã không theo dòng người di cư mà ở lại Hà Nội vừa giải phóng. Vậy là lời hứa với nàng đành lỡ dở theo thời gian.”

Đến đây thì “mùi sắc” chính trị “làm cho Tây” và “Hà Nội vừa giải phóng” đã được Nguyễn Thụy Kha lồng vào âm nhạc. Chả lẽ Nguyễn Thụy Kha không biết đâu phải hơn 1 triệu người bỏ miền Bắc di cư xuống Nam là vì đã “làm cho Tây” nên đã đi theo Tây vào Nam?

Cũng chẳng lẽ ông Kha không biết lực lượng Việt Minh đã “tiếp quản” thành phố Hà Nội từ tay quân đội Pháp sáng ngày 10/10/1954 chứ đâu có đánh đấm gì mà bảo là “giải phóng” như Ban Tuyên giáo đảng CSVN đã viết tài liệu tuyên truyền trong dịp kỷ niệm 60 năm mới đây (10/10/1954 – 10/10/2014)?

Không dừng ơ đây mà Tác giả Nguyễn Thụy Kha đã cùng với Khúc Ngọc Chân đong đưa tiếp với nhiều huyền thoại:

Nhà báo này viết: “Ở lại Hà Nội, năm 1956, ông Chân vào học đàn cello ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Khi tốt nghiệp thì về công tác tại Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam. Ngày thống nhất đất nước, khi Dàn nhạc Giao hưởng vào biểu diễn ở Sài Gòn vừa giải phóng, ông Chân đi tìm người yêu qua họ hàng thân thiết thì biết tin người yêu vò võ đợi chờ ngày gặp lại đã mất vì mắc bệnh hiểm nghèo năm 1969, khi mới vào tuổi “tam thập nhi lập”. Theo người thân của người yêu, ông đã tìm đến mộ nàng và thắp hương, thầm khóc cho cuộc tình chia phôi bất hạnh. Chính vì người yêu đã mất, nên ông không sao hiểu nổi bằng cách gì mà ca khúc Tôi xa Hà Nội của ông lại lọt vào tay nhạc sĩ Anh Bằng, được ông sửa thành nhịp 4/4 theo điệu Slow và phổ biến “quá trời” tại Sài Gòn.”

Rồi ông Kha và ông Chân kể tiếp như người chết đuối vớ được phao giữa dòng nước xoáy: "Ông Chân nói rằng đó là điều may mắn. Khi ấy, nếu ca khúc lan ra mà lại ghi tên ông là tác giả, chắc ông khó mà ngồi yên ở Dàn nhạc Giao hưởng cho đến khi về hưu. Nhưng vì ca khúc ghi là của tác giả Anh Bằng, nên những ca từ rất thực của ông diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm lại trở thành một vệt đen mang đậm nỗi ấm ức của bao người di cư ở bên kia chiến tuyến. Lại nữa, vì Anh Bằng đổi tên ca khúc thành Nỗi lòng người đi nên vệt đen kia hóa thành có thực khi đất nước bị chia cắt. Cũng chính vì thế mà cho đến nay Nỗi lòng người đi (vốn là Tôi xa Hà Nội) vẫn chưa được cho phép hát lại.”

Nhưng làm sao mà ông Chân có thể “hát lại” được, bởi vì Trung tâm bảo vệ quyền Tác giả Âm Nhạc Việt Nam ở Hà Nội (Vietnam Center for Protection of Music Copyright , VCPMC) đã bác lời xin bảo vệ quyền lợi cho ông vì ông “đã không chứng minh được quyền Tác giả” của mình.

Nguyên văn điện thư của Bà Đinh Thị Thu Phương, Phó quản lý, đặc trách ngoại vụ của Trung Tâm gửi Nhạc sĩ Anh Bằng về tác quyền như sau:

From: "Dinh Thu Phuong" <phuong.dtt@...>
Date: September 24, 2014 at 1:08:06 AM PDT
Subject: Fwd: NOI LONG NGUOI DI

Kính gửi Nhạc sĩ Anh Bằng,

Cháu nhận được email kèm theo bản nhạc của bác đã lâu, nhưng phải chờ thẩm định, rồi lại vì bận nhiều việc quá nên hôm nay cháu mới hồi âm tới bác được, mong bác thứ lỗi.

Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân ủy quyền cho VCPMC ca khúc Tôi xa Hà Nội từ ngày 24.4.2014, tuy nhiên sau đó phát hiện có sự song trùng với ca khúc Nỗi lòng người đi của bác. VCPMC đã yêu cầu 2 bên cung cấp chứng cứ bằng văn bản, nhưng ông Khúc Ngọc Chân không có, vì vậy VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi xa Hà Nội. Điều đó có nghĩa VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng. Cháu xin chúc mừng bác ạ. 

Đây là việc thường xuyên phải giải quyết của VCPMC, mong bác giải thích với mọi người rằng chỉ thuần túy là việc tranh chấp dân sự bình thường, ai không đủ chứng cứ là thua, có thế thôi, không phải là âm mưu chính trị gì đâu (như có bài viết ở hải ngoại phỏng đoán) vì sự việc nó quá tầm thường không đáng để suy diễn làm ảnh hưởng đến chính sách đại đoàn kết dân tộc của Nhà nước Việt Nam.

Để thực hiện khoản 1, 2 Điều 3 của Hợp đồng ủy quyền (mà cô Trương Mỹ Dung – học trò của bác ở Việt Nam đã thay mặt bác ký với VCPMC) một lần nữa cháu đề nghị bác vui lòng gửi qua email cho cháu toàn bộ ca khúc của bác mà bác đang có, nếu đã là xuất bản phẩm trước 1975 tại Sài Gòn thì bác scan cho cả mặt ngoài và mặt trong của bản nhạc khổ giấy A3, ca khúc nào chưa xuất bản hoặc viết sau 1975 chưa in thì bác gửi cho cháu bản chép tay cũng được. Cháu cảm ơn bác trước.

Cháu xin gửi kèm theo đây 1 quyết định của Giám đốc VCPMC và 1 mẫu Hợp đồng ủy quyền để bác tham khảo.

Trân trọng kính chào bác – người nhạc sĩ tài danh mà tác phẩm luôn hướng tới và dành cho tình yêu con người cùng quê hương đất nước Việt Nam. Chúc bác vui khỏe và dồi dào sức sáng tạo.

Kính thư,
--
Dinh Thi Thu Phuong (Ms)
Deputy Manager of External Relations Divison,
Cellphone: +84 91 660 5156
Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC)
66 Nguyen Van Huyen Str, Cau Giay District., Hanoi, Vietnam
Phone: +844 3762 4718 (ext: 268) / Fax: +844 37624717
Office hour: 8am - 5pm GMT+7, Mon-Fri

Ngoài ra, Giám đốc Trung Tâm, Nhạc sĩ Phó Đức Phương cũng ra Quyết định ngày 12 tháng 09 năm 2014 có 3 điểm, nguyên văn như sau:

Điều 1: Ngừng bảo vệ quản lý và khai thác 1 ca khúc “Tôi xa Hà Nội” của Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân.

Điều 2: Những ca khúc khác của Nhạc sĩ Khúc Ngọc Chân vẫn được bảo vệ, quản lý và khai thác bình thường.

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký. Các phóng ban chức năng của Trung tâm chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

(Phó Đức Phương-Ký tên và đóng dấu).

Tiếp tục sai lầm

Bài viết của Nhà báo phê bình âm nhạc Nguyễn Thụy Kha xuất hiện trong Tạp chí Kiến Thức Ngày Nay số 804 và được Website Giai Điệu Xanh đăng lại ngày 21/12/2012 còn tiếp tục sai lầm rằng: “Tìm hiểu về nhạc sĩ Anh Bằng qua nhiều luồng thông tin, qua trang mạng Google thì thấy rằng điều ông Chân thổ lộ rất có cơ sở. Nhạc sĩ Anh Bằng tên khai sinh là Trần An Bường. Ông sinh năm 1925 tại thị trấn Bỉm Sơn thuộc Ninh Bình. Ông học trung học tại Hà Nội trước khi di cư vào Nam. Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas . Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston.”

Ngay trong đoạn này, ông Kha đã “khẳng định chuyện kể của ông Chấn “rất có cơ sở”, căn cứ theo những gì ông Kha tìm được trên mạng điện tử Google, nhưng ông lại nói sai “Sau ngày 30.4.1975, Anh Bằng sang Mỹ, cư trú tại Houston, bang Texas . Ông vẫn hoạt động văn nghệ trong cộng đồng người Việt và hiện là cố vấn Trung tâm Asia Entertainment tại Houston”, trong khi gia đình Nhạc sỹ Anh Bằng và Trung tâm Asia chưa bao giờ sinh sống hay xây dựng sự nghiệp âm nhạc ở Houston, Texas.

Tuy vậy, tác giả Nguyễn Thụy Kha cứ “đong đưa” với chữ nghĩa để tiếp tục thêu dệt rằng: “Ngày ấy, khi vào Sài Gòn, theo thiển nghĩ của tôi, Anh Bằng chưa được biết đến như Chung Quân, Cung Tiến. Nghe được ca khúc Tôi xa Hà Nội do một thiếu nữ làm ở quán bar hát những khi chia sẻ mà lại không biết xuất xứ. Với khả năng âm nhạc của mình, Anh Bằng đã thuộc được giai điệu này. Ông thấy rất hợp tâm trạng của ít nhất là những thanh niên vừa phải xa Hà Nội di cư vào Sài Gòn. Vậy là cuộc sử dụng một giai điệu mang tâm trạng của thanh niên xa Hà Nội, nhưng để hợp thời thế, Anh Bằng đã chuyển nhịp 3/8 gốc của ca khúc Tôi xa Hà Nội thành nhịp 4/4 dùng tiết điệu Slow.”

Tệ hại hơn, Thụy Kha còn dựa vào lời nói của người duy nhất tự nhận là Tác giả “Tôi xa Hà Nội” Khúc Ngọc Chân để bịa ra rằng: “Còn về ca từ, Anh Bằng đã khéo léo gắn vào đó tên của một nhà thơ tình nổi tiếng là Nguyễn Bính.

Nguyễn Bính là nhà thơ đã từng tham gia chiến tranh tại Nam bộ và có bài thơ Tiểu đoàn 307 được Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc rất hoành tráng. Nhưng sau Hiệp định Genève, ông đã ra tập kết ở miền Bắc. Có lẽ thông tin này, Anh Bằng không biết, nên ông đã tự “vu” cho Nguyễn Bính chịu trách nhiệm ca từ này.”

Nhưng Nhạc sĩ Anh Bằng, đã trả lời câu hỏi của tôi (Phạm Trần) về chuyện Nguyễn Bính như sau:

“Cảm ơn Anh đã tỏ ra rất quan tâm đến ca khúc NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI của tôi đang bị cướp đoạt một cách trắng trợn.

Anh đã xem Bản nhạc được in và phát hành năm 1967 tại Sài Gòn chỉ có tên Tác giả là ANH BẰNG trong ca khúc NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI. Tuyệt đối không có tên Thi sĩ Nguyễn Bính in bên cạnh như kẻ gian manh, xáo quyệt, vô lương tâm, vô liêm sỉ bịa đặt.

ANH BẰNG xin minh xác như vậy để Anh yên tâm.”



Nhạc sĩ Lê Dinh, người bạn tâm giao của Anh Bằng trong nhóm 3 Nhạc sĩ Lê Minh Bằng (Lê Dinh-Minh Kỳ-Anh Bằng) phản ứng về chuyện này:

“Bài viết này, của báo trong nước, tôi cũng đã đọc cách nay một tuần. Đây chỉ là một bài viết lập lại những lý luận mà họ đã lải nhải như trong nhiều bài trước, không có gì mới lạ.

Nhưng họ không đá động gì tới việc cô Đinh thị Thu Phương, Vietnam Center for Protection of Music Copyright (VCPMC / thuộc Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả) đã xác nhận với Anh Bằng, qua thư đề ngày 24-09-14, rằng: “Sau khi thẩm định, VCPMC đã quyết định ngừng bảo vệ, quản lý và khai thác ca khúc Tôi xa Hà Nội (của Khúc Ngọc Chân vì không cung cấp chứng cứ bằng văn bản). Và VCPMC chỉ công nhận tính hợp pháp của ca khúc Nỗi lòng người đi của nhạc sĩ Anh Bằng”.

Như vậy, chúng ta xem như việc này đã kết thúc qua lá thư của cô Đinh thi Thu Phương (CVPMC) gửi cho Anh Bằng ngày 24-09-14 (được trích trên đây)

“…Việc lên tiếng của VCPMC là một tiếng chuông cảnh cáo những kẻ giả mạo để ăn cướp công lao của những nhạc sĩ sáng tác, vì không gì dễ bằng, cứ lấy một tác phẩm cũ nổi tiếng nào đó, của một nhạc sĩ nổi tiếng nào đó, chép bằng máy vi tính, sửa lại vài chữ và nói đây là bài nhạc của tôi sáng tác năm đó, năm đó… ông nhạc sĩ này lấy bài nhạc của tôi làm và nói là của ổng. Chủ nhà trở thành kẻ cướp và kẻ cướp trở thành chủ nhà, quá dễ.

May mà có sự quyết định sáng suốt của Trung Tâm Bảo Vệ Quyền Tác Giả, nếu không thì sẽ có loạn trong làng âm nhạc Việt Nam, chứ chẳng không.”

Tại sao đến 2012 mới biết?

Về chủ quyền bài hát, ông Khúc Ngọc Chân tỏ ra lúng túng khi phóng viên báo Thể thao- Văn hóa Việt Nam (Thethaovanhoa.vn) hỏi ngày 15/10/2014 rằng: “Tại sao đến tận bận bây giờ ông mới nhận Nỗi lòng người đi là của mình. Ông có bằng chứng gì thuyết phục rằng đó chính thức là ca khúc của mình không? Ông đã sáng tác ca khúc đó trong hoàn cảnh nào và liệu ông có còn nhạc bản ngày xưa hay không?”

Ông Chân đáp gọn: “Bản nhạc ngày xưa sao mà giữ được. Ca khúc của tôi sáng tác hồi đó chính ra chỉ có 2 người biết với nhau là tôi và cô người yêu thôi.”

Về chuyện bảo Anh Bằng ghi tên Nhà thơ Nguyễn Bính vào bản nhạc, ông Chân lại ú ớ khi được báo Thanh niên-Văn hóa (TTVH) hỏi: “Sau này rồi có ai biết có bài nào nhác nhác như thế của ông Nguyễn Bính không?

Khúc Ngọc Chân: “Không có. Gia đình Nguyễn Bính ở Nam Định cũng không còn ai, con cháu đi hết rồi. Tất cả các tuyển tập thơ Nguyễn Bính không có bài nào như thế.

May cho tôi là khi kể chuyện này với nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha và một số người bạn, có người lên mạng đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác đề rằng Nỗi lòng người đi, nhạc Anh Bằng, thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, sau bài viết đầu tiên của Nguyễn Thụy Kha được đưa lên mạng thì đến ngay cả Thụy Kha đi tìm bản đề thơ Nguyễn Bính cũng không có nữa mà chỉ đề là tác giả Anh Bằng thôi, bỏ phần thơ đi. Nếu mà sự thực phổ thơ Nguyễn Bính thì vẫn để nguyên chứ. Giả dụ là thơ của Nguyễn Bính thật thì không sao, không thì tôi phải là Nguyễn Bính chứ không phải Anh Bằng, bởi Anh Bằng chỉ phổ nhạc thôi mà.”

Nhưng tại sao ông Khúc Ngọc Chân (KNC) không yêu cầu ông Nguyễn Thụy Kha và “một số người bạn” trưng ra bằng cớ về chuyện “đã copy được bản nhạc Anh Bằng sáng tác” có tên Nguyễn Bính trên đó?

Báo TTVH: “Ông nói rằng Nỗi lòng người đi không phải của Anh Bằng, vậy chỉ cần ông đưa ra bằng chứng xác đáng đó là của ông và nếu thực sự là của ông thì dù cho nhiều người chưa biết thì sẽ biết đến ca khúc này là của ông?

KNC: "Người yêu của tôi đã mất, do vậy tôi không tranh chấp quyền tác giả. Tôi chỉ muốn nói về một số phận khác khi ca khúc được một nhạc sĩ nhận thức và xử lý và đã thành một ca khúc hay, đó là điều may mắn. Khi xưa, lúc tôi biết Anh Bằng phổ nhạc, tôi cũng không dám nói ra, bởi Tôi xa Hà Nội với những ca từ rất thực diễn tả nỗi phấp phỏng trong lòng Hà Nội tạm bị chiếm của tôi lại trở thành một vệt đen thì sao?"

Chân trái đá chân phải

Trong ki đó, Nguyễn Mạnh Hà (báo Tiến Phong, 11-10-2014) viết: “Khúc Ngọc Chân khẳng định, mãi tới năm kia (2012) ông mới biết đến sự tồn tại của Nỗi lòng người đi. Bởi ông không thích và rất ít nghe nhạc hải ngoại.
Qua lời kể của ông Chân thì thậm chí Nguyễn Thụy Kha cũng biết đến “nghi án” Nỗi lòng người đi. Ông Chân thuật lại lời ông Kha trong cuộc gặp lần đầu tiên của hai người: “Anh có cái bài Nỗi lòng người đi bên kia người ta nói là bài của anh?!” Nhưng Nguyễn Thụy Kha lại khẳng định không hề biết đến nghi án này cho tới khi Khúc Ngọc Chân kể ra. Tuy nhiên, ông Kha vẫn cảm thông với cách trình bày hơi khó hiểu của ông Chân: “Người ta không phải người ăn nói với công chúng. Nhưng mình biết được cái lõi của vấn đề. Tôi bằng trực giác biết chắc chắn bài này của ông ấy rồi!”. 

“Phổ thơ cũng được nhưng đấy là cái sai lầm nhất của Anh Bằng. Toàn bộ gia tài Nguyễn Bính không có bài thơ nào như lời bài “Nỗi lòng người đi”. Mà lúc đấy Nguyễn Bính tập kết ra Bắc ra Hà Nội rồi, không dính dáng đến miền Nam nữa mà viết cái đó. Đấy là kẽ hở của câu chuyện.

Thế rồi Nguyễn Mạnh Hà nhận xét: "Sự vô danh của Khúc Ngọc Chân là một điều bất lợi khi đặt cạnh Anh Bằng- tác giả của hàng trăm bài hát trong đó có Khúc thụy du, Nếu vắng anh, Anh còn nợ em, Tình là sợi tơ… Một điểm yếu nữa trong câu chuyện của Khúc Ngọc Chân mà những người đứng về phía Anh Bằng xoáy vào là có nhiều hình ảnh tư liệu cho thấy tàu há mồm đưa người vào Nam cập sát cảng Hải Phòng. Trong khi ông Chân kể, ông vẫn còn hát Tôi xa Hà Nội cùng người yêu trên thuyền từ bến Bính ra “phao số không” để tiễn nàng lên tàu há mồm. Nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha, người gốc Hải Phòng, cho hay Thu Hằng vào Nam là đợt đầu tiên, tháng 11/1954. Lúc đó tàu há mồm chưa cập vào cảng Hải Phòng."

Với những gì chúng ta đọc được quanh vụ án Nỗi Lòng Người Đi của Nhạc sĩ Anh Bằng cho thấy đã có những thay đổi nguy hiểm trong tâm tư của cả giới làm văn nghệ ở Việt Nam trong thời đại “gian dối đã ngự trị trên, không những con người mà cả nền tảng văn hóa truyền thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của dân tộc làm kim chỉ nam cho đời sống hàng ngày.”

Một nền văn hóa loạn xạ như thế phải là mối lo nhức nhối của mọi người, vì như Giáo sư Hoàng Tụy đã báo động: “Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối.” -/-


(10/014)


Phạm Trần

-------------

 
Design by Hận Ly Hương |FreePolitic - |
Site Meter