TỔ QUỐC
IN MEMORY OF
Lý Quang Diệu
1923-2015

26 March 2015

Tin vui Canada:. Hủy bỏ “ văn nghệ Hành trình đi tìm tự do” kết hợp với các hội đoàn làm Lễ Tưởng Niệm 40 năm ngày Quốc Hận tại thủ đô Ottawa

LIÊN HỘI NGƯỜI VIỆT CANADA
Suite 1 885 Somerset St. West Ottawa, ON KIR 6R6
Tel. (613) 230-8282, Email: VCFOttawa@...

Thông Báo Hủy bỏ
“Đêm Hội Ngộ 25/4/2015”

Kính thưa quý vị trong Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn cộng sản,

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2015, Liên Hội Người Việt Canada có gởi “thông báo về buổi dạ tiệc Hội Ngộ & Cám ơn Canada và chương trình văn nghệ Hành trình đi tìm tự do”. Trướcđây chúng tôi dự định tổ chức một “Đêm hội ngộ” thay vì “Đêm không ngủ” để chúng ta cùng nhau hát lên những bài ca tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam, trước khi chúng tôi kết hợp với các hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng người Việt tỵnạn cộng sản tại Canada để cùng nhau làm Lễ Tưởng Niệm 40 năm ngày Quốc Hận 30/4/1975 – 30/4/2015 tại thủ đô Ottawa.

Liên Hội Người Việt Canada xin thông báo đến quý vị việc hủy bỏ “Đêm Hội Ngộ 25/4/2015” và xin rút lại “thông báo về buổi dạ tiệc Hội Ngộ& cảm ơn Canada và chương trình văn nghệ Hành trình đi tìm tự do” cùng tờ bích chương với hai lý do sau đây:

1. Sự sai sót trong thông báo chương trình đã gây ra những phản đối.

2. Chúng tôi muốn tập trung lực lượng nhân sự để kết hợp với các hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Canada để cùng nhau làm Lễ Tưởng Niệm 40 năm ngày Quốc Hận 30/4/1975 –30/4/2015
trai_tu_cai_tao
Chúng tôi rất mong được sự thông cảm của toàn thể người Việt tỵ nạn cộng sản tại Canada nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.

TM Ban Chấp Hành
Liên Hội Người Việt Canada
Trần Văn Đông
Tổng Thư Ký

Liên Hội Người Việt Canada. Vietnamese Canadian Federation..Suite 1 - 885 Somerset St. West, Ottawa, ON K1R 6R6 CANADA....Tel.: (613) 230-8282, Fax: (613) 230-8281, Email: VCFOttawa@... 

 http://www.diendannguoidanvietnam.com/index.php?option=com_content&view=article&id=5583:2015-03-25-03-35-15&catid=30:thong-bao&Itemid=2

25 March 2015

Gia Đình Bác Tám : Chuyện ông Lê Duy Cấn, bảo vệ ngày Quốc Hận 30.4.

Gia Đình Bác Tám

G-8: Ngô Thanh Hải hãy noi gương TS Lê Duy Cấn!

LGT: Vượt biển tìm tự do, luôn sống xứng đáng là người Việt yêu nước tỵ nạn CS, Gia Đình Bác Tám thường tranh luận bảo vệ chính nghĩa quốc gia. Sau đây là chuyện G-8 ca ngợi Liên Hội Người Việt Canada và kêu gọi TNS Ngô Thanh Hải noi gương Ông Lê Duy Cấn, bảo vệ ngày Quốc Hận 30.4.


Từ trái: Tiến Sĩ Lê Duy Cấn (Chủ Tịch) và Cô Nguyễn Khuê Tú (Ủy Viên Nhân Quyền) của Liên Hội Người Việt Canada, tại buổi Điều Trần của Liên Hội trước Quốc Hội Canada ngày 29/05/2014 về những Vi Phạm Nhân Quyền của Cộng Sản Việt Nam


​Chưa bước vô nhà, bà Tám đã nghe tiếng chân nhảy thình thịch trên sàn gỗ và tiếng la hét ầm ĩ của ông Tám: "Sung sướng quá! Tuyệt vời quá! Hoan hô ông Lê Duy Cấn! Hoan hô ông Trần Văn Đông! Liên Hội Người Việt Canada muôn năm! Muôn năm!"... 

Đẩy cửa bước vô, thấy ông Tám đang nhảy như con choi choi giữa nhà, bà Tám ngạc nhiên:
- Chèn đét ơi, ông làm cái trò gì vậy? Ông đứng yên coi nào, không thì sập nhà sập cửa bây giờ!
Ông Tám miệng thở hổn hển, muốn nói nhưng không nói được. Để mấy gói đồ xuống bàn, bà Tám hỏi:
- Ông hoan hô ai mà la hét tùm lum thế?
Ông Tám vừa thở vừa nói:
- Ca... na... nada... huỷ... huỷ đêm... đêm dạ... dạ tiệc hội ngộ...
Bà Tám bật cười:
- Tưởng chuyện gì. Có phải ông nói việc Liên Hội Người Việt Canada ra thông báo hủy bỏ dạ tiệc “Đêm Hội Ngộ 25/4/2015” phải không?
Ông Tám gật đầu lia lịa:
- Đúng... đúng vậy! Bà cũng biết chuyện đó sao?
- Thì ở chợ Cabramatta người ta nói ầm cả lên, ai mà không biết. Thời đại điện tử internet và smart phôn mà ông. Tin tức vừa có trên mạng là chạy vòng quanh thế giới bằng tốc độ ánh sáng. Tôi còn biết, LHNV Canada sẽ kết hợp với các hội đoàn, đoàn thể trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Canada để cùng nhau làm Lễ Tưởng Niệm 40 năm ngày Quốc Hận 30/4/1975 tại thủ đô Ottawa. Thiệt nghe tin ấy không có gì vui bằng...
Biết bà Tám đang vui, ông Tám liền nhanh tay mở tủ lạnh lấy chai bia Crown Lager tu ừng ực một hơi thật đã, rồi gật gù:
- BCH Liên Hội Người Việt Canada đã có một quyết định thật sáng suốt, phải không bà?
Bà Tám mở gói đồ lấy ra chiếc giò thủ, nói giọng âu yếm:
- Ông chờ tôi thái cho ông mấy miếng giò rồi hãy nhậu... Giò thủ con mụ Bẩy nó gói chặt tay, ăn ngon đáo để.
Ông Tám nhìn vợ cảm động và bỗng dưng ông thầm biết ơn lão Lê Duy Cấn, ước gì có lão ở đây nhậu một bữa ngoắc cần câu... Bà Tám vừa thái giò vừa nói:
- Ông phải hiểu, BCH/LHNV Canada là những người giầu tâm huyết và có tấm lòng trong sáng, nên khi nghe bà con góp ý là họ hiểu ngay và sửa sai liền.
Ông Tám trợn mắt:
- Bà nói vậy bộ Thượng Nghĩ Sĩ Ngô Thanh Hải không có tấm lòng trong sáng hay sao?
Bà Tám dừng tay dao, nhìn ông Tám:
- Ông đừng có đặt lời vào miệng tôi nghe ông. Cũng như ông, tôi tin TNS Ngô Thanh Hải có tấm lòng trong sáng chứ. Nhưng ông phải hiểu, TNS NTH hiện là chủ tịch đảng Liên Minh Dân Chủ Việt Nam.
- Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do GS Nguyễn Ngọc Huy sáng lập, là người hết lòng vì dân vì nước, chống cộng sản đến cùng mà bà?
- Điều đó ai mà chả biết. Nhưng từ khi GS Huy tạ thế thì nội bộ đảng này chia rẽ thành hai, một do ông Ngô Thanh Hải, Nguyễn Tấn Trí, Lê Phát Minh lãnh đạo.
Ông Tám giật mình, lớn tiếng:
- Lê Phát Minh?! Có phải thằng chả đòi bắt tay với VC...
Bà Tám bực mình:
- Ông lặng im nghe tôi nói xong đã.
Ông Tám dịu giọng:
- Xin lỗi bà. Bà nói đi... tôi nghe.


Bà Tám chậm rãi:
- Cách đây hai năm, tôi nhớ là đầu tháng 4 năm 2013 thì phải, tại Paris, LMDC/VN đã tổ chức một buổi hội thảo về cái gọi là “Hiểm họa phương Bắc” do VC và Trung cộng cùng tung hứng nặn ra. Chủ toạ đoàn hôm đó có ông Ngô Thanh Hải, Chủ Tịch UBCHTU/LMDCVN, ông Nguyễn Tấn Trí, Phó CT UBCHTU/LMDCVN và ông Lê Phát Minh, Cố vấn đến từ Hoa Kỳ. Trong buổi hội thảo, ông Cố vấn Lê Phát Minh đã tuyên bố: “Việt Cộng cũng bảo vệ tổ quốc. Do đó muốn bảo vệ tổ quốc chống Tàu Cộng thì chúng ta phải đứng chung với VC”.
Ông Tám sửng sốt:
- Có chuyện đó nữa sao? Bà có chắc chắn lão Lê Phát Minh tuyên bố dại dột như vậy không? Tôi nghe người ta nói vậy từ lâu, nhưng không tin.
- Sao không chắc? Ông biết tính tôi xưa nay mà. Hễ không hai năm rõ mười thì không bao giờ tôi nói có. Còn nếu nói, bao giờ tôi cũng thận trọng nói tôi nghi ngờ mà thôi.
Ông Tám thở dài lắc đầu:
- Cha chả, sao mấy ổng làm chính trị mà ngu ngốc vậy. VC đã cam tâm làm đầy tớ cho TC thì có bao giờ VC chống Tàu cộng bảo vệ tổ quốc. Họ phải hiểu, VC là lũ cõng rắn cắn gà nhà, là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thời hiện đại, phải không bà? À nhưng đó là lời tuyên bố của Lê Phát Minh, chứ đâu phải của ông Ngô Thanh Hải?
- Sao ông lẩn thẩn vậy? Tôi hỏi ông, có khi nào Cố vấn Lê Phát Minh tuyên bố mà không có sự chấp thuận của Chủ tịch Ngô Thanh Hải? Hơn nữa, ông phải biết, ông Lê Phát Minh là cựu Chủ tịch đảng trước cả ông Ngô Thanh Hải, thì người đi sau phải tiếp bước người đi trước. Nhất là khi ông LPM tuyên bố như vậy thì ông NTH ngồi sờ sờ ra đó. Rồi sau đó, dư luận phản đối ầm ĩ, cũng đâu có thấy ông NTH lên tiếng thanh minh thanh nga gì đâu. Điều đó có nghĩa chủ trương của đảng LMDC/VN bây giờ là núp dưới bình phong "VC cũng bảo vệ tổ quốc" để họ bắt tay với VC. Và một khi đảng đã chủ trương như vậy, thì lẽ đương nhiên chủ tịch đảng Ngô Thanh Hải hơn ai hết cũng phải có chủ trương đó. Và như vậy thì ông NTH phải tìm cách thay ngày Quốc Hận 30.4 bằng "ngày hành trình tìm tự do 30.4" để cho nó trở thành ngày vui mừng, cùng có ý nghĩa nhân quả với ngày ăn mừng "giải phóng 30.4" của VC. Tôi nói vậy ông thấy có phải không nào?
Ông Tám thở dài, trầm tư:
- Xưa nay bà nói lúc nào chả phải, chả đúng. Nhưng tôi khuyên bà... Tốt nhất bà nên keep your mouth shut!
Bà Tám trợn mắt:
- Ông nói cái gì? Ông bảo tôi shut up? Nếu ông bảo tôi nói đúng thì tại sao tôi lại phải shut up? Bộ ông không nghe con Ba nó nói those who have the privilege to know have the duty to act?
- Tôi biết, tôi biết. Nhưng bà phải hiểu, "bệnh tòng khẩu nhập, họa tòng khẩu xuất".
Bà Tám giận dữ:
- Ở xứ sở tự do dân chủ này, tôi chẳng sợ thằng nào, con nào cả. Lòng tôi ngay thẳng, thấy chuyện gì không nên không phải thì tôi nói, sét nổ trên đầu cũng không làm tôi sợ. Con Ba nó nói ông không nhớ sao, a clear conscience sleeps in thunder...
Ông Tám lại thở dài:
- Bà thì lúc nào cũng con Ba nói thế này, con Ba nói thế nọ. Nó làm sao nhiều mồm lắm miệng bằng thiên hạ. Bà hiểu không?
- Thiên hạ ai nói kệ họ, tôi không thèm để ý đến họ. Hừ, if you stop every time a dog barks, your road will never end.
Ông Tám xua tay:
- Sao dạo này tiếng Anh tiếng u của bà nổ như bắp rang vậy...
Bà Tám nguýt ông Tám:
- When in Rome, do as the Romans do mà ông.
Ông Tám cười ha hả:
- Sao bà không nói, nhập gia tuỳ tục, nhập giang tuỳ khúc cho dễ hiểu?
Bà Tám lớn giọng:
- Tôi không đùa cợt với ông nữa đâu. Bây giờ tôi nói câu này câu cuối nè.
Ông Tám gật đầu:
- Thì xưa nay, hễ tôi và bà tranh luận, bao giờ bà cũng là người nói câu cuối cùng mà...
Bà Tám chậm rãi:
- Trước kia và bây giờ, tôi vẫn tin tưởng ông NTH là người có lòng. Nhưng nếu ông NTH là Chủ tịch đảng LMDC/VN; ông Lê Phát Minh cố vấn của đảng đã phát biểu, "muốn bảo vệ tổ quốc chống Tàu Cộng thì đảng LMDC/VN phải đứng chung với VC”; và ông NTH nhất định chọn 30.4 (ngày mà chính ông NTH cũng đồng ý là ngày Quốc Hận đau buồn của dân tộc VN) làm ngày vui mừng "hành trình tới tự do"; thì tôi thành tâm nghi ngờ, cái Dự Luật S-219 chính là món quà Ngô Thanh Hải dâng cho VC để VC cho phép ông ta và LMDC/VN cùng làm đầy tớ cho Trung Cộng. Vì vậy, bây giờ tôi chỉ còn biết hy vọng, ông NTH noi gương TS Lê Duy Cấn, bằng mọi giá bảo vệ Ngày Quốc Hận 30.4 bằng cách chấp thuận đề nghị của Dân Biểu Elizabeth May, chọn ngày 27.7 cho Ngày Hành Trình Tới Tự Do.
Hữu Nguyên

huunguyen@...

Gia Đình Bác Tám : Chuyện Anh Thư Nước Việt tại thủ đô Tiệp Khắc!


G-8: Anh thư nước Việt tại thủ đô Tiệp Khắc!

LGT: Vượt biển tìm tự do, luôn cố gắng sống xứng đáng là người Việt yêu nước tỵ nạn CS, Gia Đình Bác Tám thường tranh luận những chuyện tranh đấu bảo vệ chính nghĩa quốc gia. Sau đây là chuyện G-8 và vị Anh thư nước Việt đã hiên ngang vinh danh Cờ Vàng trước những người mang cờ VC ngay giữa thủ đô Tiệp Khắc.

Hôm nay bà Tám gái đi vắng, nên ông Tám ở nhà sung sướng nằm khểnh, tận hưởng cái thú "vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm". Một mình một thùng bia, uống đến chai bia thứ 9, mà vẫn thấy lòng chưa say, đầu óc còn tỉnh táo... ông cao hứng, vừa mân mê bộ râu quặp vừa ư ử ngâm bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác:

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi:
Trời đất mang mang ai người tri kỷ?
Lại đây cùng ta cạn một hồ trường!
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?...


Ngâm đến đó, bỗng ông Tám giật bắn mình... Tiếng bà Tám gái quang quác như gà mái đẻ ngay sát bên tai.
- Nè nè, ông có biết bây giờ là mấy giờ rồi không, mà cứ nằm đó, hết bia với rượu, thơ với thẩn. Thiệt chồng con gì rõ chán mớ đời. "Gươm của ông" thì đã cong queo, lại còn rỉ sét, mà cũng bầy đặt vỗ gươm mà hát. "Bầu của ông" thì cũng khô cạn, chẳng còn một giọt mà cũng bầy đặt "rót về đâu, về đâu"... Đây này, ông ngồi dậy tôi cho ông coi cái này hay lắm, bảo đảm vừa coi vừa thấy "trời đất mang mang ai người tri kỷ" liền hà...
Lồm cồm bò dậy, ông Tám ngoan ngoãn đi theo bà Tám bước vô phòng làm việc. Cắm chiếc USB vô máy computer đang chạy, bà Tám quay ra nói giọng đắc chí:
- Con Bảy bánh cuốn nó thâu cho tôi đoạn video trên youtube, ghi lại một cảnh hay đáo để... Thằng Hai coi xong nó nói rất đúng: One lady with courage makes a majority!
- Cái gì mà tiếng Anh tiếng U xổ như tôi tu bia vậy bà?
- Sao tôi đang nói mà ông cứ hỏi leo như vậy? Nói bao nhiêu lần cũng vậy...
- Thì...
- Không thì là mà rằng... gì cả. Ông im đi nghe tôi nó có được không?
- Tôi...
- Không tôi tớ gì ở đây hết. Khi tôi nói, ông phải im lặng nghe không tôi quên, ông hiểu chưa?
- ....
Ông Tám mấp máy môi mấy lần định nói, nhưng rồi ông nuốt nước bọt im lặng. Nhìn ông Tám tới mươi mười lăm giây, không thấy ông nói gì, bà Tám mới mỉm cười thỏi mãn, tiếp lời:
- Đây là đoạn băng vedeo chỉ dài có bốn phút thôi, nhưng đúng là bản anh hùng ca của con cháu bà Trưng bà Triệu chúng tôi đó ông... Nè ông coi...

Ngay lúc đó, trên màn ảnh computer xuất hiện đoạn băng video có tên "Anh Thư Nước Việt Giữa Một Bầy Quỷ Đỏ Tại Tiệp Khắc" của Nguyen Bac Ninh (https://www.youtube.com/watch?v=dPRbas4L4YA). Trong khoảng bốn phút đồng hồ, ông bà Tám nín thở coi cảnh một phụ nữ Việt Nam, tay trái dương cao lá Cờ Vàng, tay phải chỉ thẳng vào mặt mấy thanh niên Việt Nam tay cầm cờ VC, miệng lớn tiếng khẳng định Cờ Vàng mới là cờ của tổ quốc Việt Nam, Cờ VC là lá cờ máu gây nên không biết bao nhiêu tang thương cho quê hương, dân tộc VN suốt gần thế kỷ qua. Chung quanh là những cảnh sát Tiệp đứng thụ động quan sát, và những thanh niên nam nữ tay cầm cờ VC, nhưng thái độ rụt rè như gà phải cáo, tay chân quờ quạng, miệng lắp bắp những lời phân bua. Một thanh niên cầm lá cờ VC trên tay thu hết can đảm, làm bộ hùng hổ nói: Đây mới là cờ VN! Chị hét to vào mặt người thanh niên: “Đó là lá cờ máu! Lá cờ máu của các người chỉ là tấm băng vệ sinh của phụ nữ”... Dứt lời, chị giựt lấy lá cờ máu VC trong tay người thanh niên, ném thẳng xuống đất, trước sự ngơ ngác và bàng hoàng của y và đồng bọn. Một người cảnh sát Tiệp cúi đầu mỉm cười thích thú...

Đoạn video vừa dứt, bà Tám nhìn ông Tám tự hào hỏi:
- Ông thấy đàn bà con gái chúng tôi anh hùng chưa? Thật xứng đáng là con cháu của Hai Bà ở giữa nước cộng hoà Tiệp tự do, phải không ông?
Ông Tám cười ha hả:
- Rất anh hùng, rất anh hùng. Và tôi tin là anh linh của Tổng thống Tiệp Khắc Václav Havel ở bên kia thế giới cũng phải tự hào về người phụ nữ Việt Nam dũng cảm này.
Bà Tám mỉm cười hỏi:
- Ông có biết tại sao cả đám thanh niên nam nữ cầm cờ VC lại rụt rè như gà phải cáo, trước mặt người phụ nữ VN Cờ Vàng không?
- Vì chúng dư biết, mấy chục năm trước, người dân Tiệp Khắc đã lật đổ chế độ CS thì chẳng có ai ưa lá cờ máu VC. Ngay cả mấy người cảnh sát Tiệp đứng đó cũng ghét cờ VC ra mặt.
- Ông nói vậy cũng đúng, nhưng chỉ đúng một phần. Điều quan trọng là người phụ nữ VN Cờ Vàng có chính nghĩa. Một người dù tầm thường đến đâu, nhưng khi có chính nghĩa ở trong lòng, và biết theo đuổi một lý tưởng cao đẹp, người đó sẽ trở thành người khổng lồ. Còn mấy thanh niên mang cờ VC, trong thâm tâm đều biết họ đi theo những kẻ phi nghĩa, những kẻ đã nhúng tay vào máu của hàng triệu người dân vô tội, nên họ hoảng hốt lo sợ.
Ông Tám gật gù:
- Bà nói rất đúng. Một người biết theo đuổi lý tưởng cao đẹp, thì dù có bị ai hành hạ đau khổ đến thế nào đi nữa, người đó cũng luôn luôn thấy mình hạnh phúc.




Hữu Nguyênhuunguyen@...

Tội nghiệp cái mác Việt kiều: Những Sự thật đau lòng

Những Sự thật đau lòng-
“Việt kiều” tội nghiệp!

Trước khi CSVN gán cho chúng ta cái mác Việt kiều. Họ đã từng gọi chúng ta là “phản quốc, bọn trộm cắp, đĩ điếm”. Để dụ người VN sống ở nước ngoài mang tiền về VN, đảng CSVN đã ra một chiêu bài “nghị quyết 36”, gọi tất cả người Việt sống ở ngọai quốc là “Việt kiều”.

Chính quyền CSVN kêu gọi hoà hợp, hoà giải với CS, mục đích mang tiền về VN đầu tư. Trong phần dạy lịch sử VN tại các trường học không hề có phần “Tại sao có Việt kiều” , họ chỉ nói Việt kiều là người Việt sống ở nước ngoài. Chiêu bài này rất thành công, đã mang lại cho CSVN hàng chục tỷ MK mỗi năm.

Việt kiều trở thành con bò sữa cho VN vắt, khi hết sữa bò xẻ bị làm thịt. Con bò Việt kiều bị gia đình, làng xóm, xã hội, chính quyền thi nhau vắt sữa, cho nên bò Việt kiều thường kiệt sức sớm.

Người VN có một đặc tính trân qúy: Yêu thương gia đình như chính bản thân mình. Chính cái lòng yêu thương vô bờ bến này đã bị gia đình, bà con bên VN và chính quyền CS lợi dụng. vấn đề Việt Kiều đã được CS VN đưa lên hàng “ Chính Sách”. Khi về VN mình không thể làm ngơ khi nhìn thấy bà con anh chị em mình đói rách, thế là trong túi có bao nhiêu xổ ra hết cho.

Có một chuyện không công bằng : về VN tất cả chi phí cho gia đình như đi du lịch, ăn uống Việt kiều phải lo, khi có cơ hội người VN qua ngoại quốc thì Việt kiều cũng phải bao hết. Ở VN bạn không chỉ bao cho người nhà mà còn bao cho cả bạn bè người nhà nữa. Khi bạn mời tiệc, người nhà dắt cả làng tới tham dự rất tự nhiên như người Hà Nội, có ai thắc mắc, câu trả lời rất đau lòng “ Tiền Việt kiều mà, ngu gì mà không ăn”.

Anh Tấn gửi tiền xây nhà cho mẹ ở miền quê vùng sông Hậu. Nhà xây xong mẹ gửi thư qua xin thêm tiền gắn máy lạnh. Anh thắc mắc tại sao nhà mẹ ở ngay bờ sông quanh năm gió mát trăng thanh, tại sao phải gắn máy lạnh. Anh phôn về hỏi cho ra lẽ. Cô em gái nhanh nhẩu trả lời: Mẹ bị huyết áp cao, và thấp khớp, bác sĩ nói phải ở nhà có máy lạnh thì mới khoẻ. Thương mẹ Tấn lại phải vay mượn để gửi tiền cho mẹ mua máy lạnh. Mẹ và em gái đâu có biết Tấn đang ở ké garage với người bạn. Trời nóng như lửa Tấn chỉ dám xài quạt máy mua từ chợ trời.
Cuối năm Tấn về thăm nhà thấy mẹ mình nằm trên cái giường ngay phòng khách. Còn phòng ngủ có máy lạnh trên lầu vợ chồng cô em gái đã chiếm. Thấy vậy anh hỏi tại sao không để mẹ ở trên lầu. Em gái anh trả lời : mẹ bị huyết áp cao lên xuống nguy hiểm? Tấn tức quá kêu thợ tới đem máy lạnh trên lầu xuống gắn nhà dưới cho mẹ.


Khi về Úc mấy ngày em gái anh gọi qua nói : “Vợ chồng em phải lên thành phố làm ăn, nên không có người chăm sóc mẹ, em đã kiếm người chăm sóc mẹ, mình phải trả cho người ta 100.000 đồng một ngày. Anh có nhiệm vụ gửi tiền về cho mẹ. Mấy tháng sau mẹ anh chết, dĩ nhiên anh phải lo tiền gửi về lo tang lễ cho mẹ. Anh muốn về lắm nhưng không còn chỗ nào cho mượn tiền để mua vé máy bay, căn nhà anh xây cho mẹ bây giờ em gái anh lấy không.


Anh bạn tôi còn bà chị ở VN, muốn tạo công việc cho chị mình làm ăn. Sau khi tìm hiểu kỹ càng anh bạn gửi tiền cho chị mua một xe Mercedes 24 chỗ. Từ ngày có xe bà chị làm ăn khấm khá. Xe chạy có tiền bà chị giữ, chi phí cho xe như tiền bảo hiểm, tiền bảo trì, anh tiếp tục chi viện. Đối với anh, số tiền chi phí ấy coi như quà cho chị hàng năm.

Rồi một hôm vận xui tới, tài xế xe của bà chị gây tai nạn chết người. Bà chị bị CA mời lên làm giấy tờ, bà chị sợ quá khai chiếc xe này của người em bên Úc bỏ tiền mua.. Công an VN nhân cơ hội ghi vào hồ sơ :“Xe Việt kiều gây tai nạn chết người”. Sau đó giữ xe và yêu cầu bà chị mời anh Việt kiều Úc về VN lên CA huyện lãnh xe ra. Bà chị gọi điện thoại qua cho em. Người em vội vã bay về VN lên gặp CA Huyện. CA Huyện niềm nở đón tiếp và cho biết tình trạng xe cộ cũng như tai nạn, CA đề nghị nộp $30.000 gồm tiền bồi thường cho nạn nhân, tiền phạt lái xe gây tai nạn và giữ xe một tháng. CA giữ passport và yêu cầu anh điện về Úc xắp xếp gửi tiền qua để lấy xe. Trong thời gian chờ đợi CA cấp cho anh một giấy đi đường thay passport và visa để anh tiện đi lại ở VN.

Chuyện đến lúc này mới vỡ lẽ: Vì thương bà chị, anh bạn đã giấu vợ rút sổ băng $70.000 gửi cho chị mua xe. Nay không biết lấy đâu ra $30.000, thôi đành liều, anh gọi về vợ và nói rõ sự thật. Sau khi nghe chồng xưng tội. Bà vợ không bắt lỗi nhưng yêu cầu việc đền tội: “Tôi rút tiền gửi cho anh $30.000 để anh lấy xe ra, khi anh về Úc làm thủ tục ly dịvà bán nhà”. Kết quả anh bạn tôi bây giờ “Độc thân tại chỗ” và không có tiền.



Cô Nga người Rạch Giá ra đi tìm tự do bỏ lại người anh trai yêu quý. Sau 6 năm xa quê hương, nay cô về thăm lại mồ mả cha mẹ, ông bà, thăm lại người anh yêu quý. Tình cảm ông anh dành cho cô em qua nhiều lá thư thật là thống thiết. Ông kể lại cái thời còn thơ ấu chính ông là người cõng em mỗi sáng qua cây cầu khỉ tới trường.
 Hàng tháng cô em đều gưỉ tiền về cho anh và các cháu. Người anh trai thư qua lần nào cũng đều nói em đừng gửi tiền về cho anh, hãy lo cho bản thân vì anh không ở gần em để chăm sóc cho em. Nhưng chưa bao giờ cô em thấy tiền gửi đi mà quay lại. Cô biết tính anh mình mà.. thế rồi hôm nay cô khăn gói về VN theo lời mời của ông anh “Em sắp xếp về VN một chuyến, hôm nay nhà nước mở cửa đón Việt kiều, anh em mình lâu lắm không gặp nhau, không biết em gái anh bây giờ tròn hay méo”. Thật là tình cảm thiêng liêng, muốn biết em gái mình bây giờ tròn hay méo thì hỏi thằng em rể thì biết ngay…

Gia đình anh hai lên SG trước một ngày để hôm sau đón em gái. Ngày trở về thăm quê hương của cô em gái được tỗ chức linh đình, giống như đón tiếp một vị nữ hoàng. Cô em gái bẽn lẽn khi ông anh ôm chặt lấy mình rồi hôn má, cử chỉ tây phương không biết ông anh học được lúc nào mà tỏ ra thành thuộc. Qua bao lần ôm các em trong quán ”bia ôm” đã tạo cho ông anh lịch lãm và tự nhiên, nên khi gặp em mình ông càng tự nhiên và chứng tỏ với em gái mình cái văn minh không phải chỉ tây phương mới có.
Cái bẽn lẽn vội qua đi nhường cho sự kiêu hãnh của một Việt kiều về nước khi được đón tiếp long trọng như vậy. Đâu ai biết được cô em gái cũng như bao nhiêu phụ nữ khác ở Úc ngồi may thâm cả đít để có tiền lo cho cuộc sống và giúp đỡ gia đình bên VN.

Hai tuần lễ ông anh đưa em gái đi thăm khắp nơi, giới thiệu em mình với mọi người: “Em gái tôi, bà chủ hãng may thời trang lớn bên Úc”. Cô em gái khi nghe giới thiệu ngượng ngùng muốn đính chính, nhưng ông anh hiểu ý nói đè qua chuyện khác..
Một buổi chiều ông anh nói với em “Chiều nay anh sẽ đưa em đi thăm vùng lấn biển, anh dự trù mua vài lô, chỉ cần 1 năm sau là giá gấp đôi. Thằng bạn anh năm ngoái mượn tiền mua 2 lô, năm nay nó bán một lô, tiền lời đủ chi trả cho cả hai…” ngay chiều hôm đó hai anh em đi thăm đất, và quyết định mua 4 lô. Ông anh tạm thời đứng tên dùm, khi nào nhà nước cho Việt kiều đứng tên thì sẽ sang tên cho em.

Cô em gái về Úc bàn với chồng gom hết vốn liếng gửi về cho anh trai để mua đất. Từ đó mỗi lần cô em gái gọi điện thoại về VN hỏi thăm, ông anh trai đều báo tin vui vì giá đất tăng.

 Một năm sau, cứ theo thông báo gía đất lên của ông anh thì anh em ông ta đã kiếm lới gấp đôi. Cô em bàn với chồngquyết định bán 3 lô để thu tiền về còn một lô thì tặng lại ông anh. Nhưng mua thì dễ, bán thì khó, nhất là người đứng tên sổ đỏ là ông anh chứ không phải cô.. Thấm thoát đã 8 năm tôi gặp lại cô Nga và hỏi thăm về vụ đất đai, được cô ta cho biết: Ông anh đã lừa chiếm đoạt hết bốn lô đất không hoàn trả lại vốn cho cô ta dù chỉ một đồng.


Chuyện cô Nga là một trong muôn vàn câu chuyện đau lòng. Hình như tất cả mọi hoạt động của người trong nước phần lớn là tìm cách làm sao cho tiền trong túi Việt kiều chạy vào túi mình. Người ta không ngại dùng mọi thủ đọan để lừa nhau, người ta không còn phân biệt cha mẹ, anh em, bà con, có cơ hội là ra tay.

Tôi còn nhớ cách đây 8 năm có một lần tôi nhân được thư của mấy cháu con bà chị gửi qua, nội dung như sau:

“ Cậu à, mẹ và tụi con suy nghĩ và quyết định sẽ mua cái nhà của anh Tư, anh Tư sẽ đi Mỹ tháng tới. Anh sẽ không mang tiền đi. Khi anh Tư qua bên đó cậu sẽ trả dùm cho tụi con. Giá nhà anh Tư hiện tại là 120.000 USD, nhưng anh để lại cho tuị con 80.000 USD. Rẻ lắm đó cậu… Cậu giúp mẹ và tụi con nhé..”

Đọc thư, tôi tá hoả tam tinh như người trúng gió. Tôi không biết chị tôi và mấy cháu nó nghĩ sao mà tỉnh bơ viết thư như vậy. Trước nhất mấy người nghĩ là tôi có nhiều tiền lắm, thứ hai tự quyết định và kêu tôi thi hành. Khi nhận được thư tôi trả lời “tụi con lo một nửa còn một nửa cậu sẽ trả góp cho anh Tư mỗi tháng 500 USD cho đến khi hết.”


Thư gửi đi nhưng không có hồi âm và coi như chuyện quyết định mua nhà chìm vào quên lãng. Sau đó cháu tôi có xin tiền mua xe Honda, tôi hỏi giá bao nhiêu, cháu tôi nói giá khoảng $4000. Tôi đã gửi cho nó đủ $4000. Nhưng lần về kế tiếp tôi khám phá ra nó đã nói dối, vì xe Honda nó mua chỉ có $2500 thôi. Bốn ngàn Úc Kim có lẽ nó tính luôn tiền xăng.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từng nói: “đừng tin những gì CS nói, mà hãy nhìn những gì CS làm”.Câu nói bất hủ đi vào lịch sử. Ông đã cảnh cáo chúng ta đừng mắc lừa CS. Nhưng than ôi người Việt chúng ta quên nhanh quá. Ngày nào mới được nhận định cư với tư cách “Tỵ Nạn” hay “ HO” , lòng căm thù CS tàn ác, chúng ta đã từng tuyên bố “không bao giờ thỏa hiệp với CS”, “ chỉ trở về VN khi không còn CS” .

Nhưng rồi có rất nhiều lý do để chúng ta về VN: “Thăm quê hương, thăm gia đình.. đầu tư”. Thực sự chúng ta tự dối lòng. Chúng ta về VN để ăn chơi, về để khoe khoang… Đám đàn ông, thanh niên về VN mục đích duy nhất là “kiếm gái”.. Đám đàn bà về VN, mua sắm, khoe của.. để được tung hô.. Có thăm gia đình chẳng qua cho có lệ.

Anh bạn tôi về VN thăm gia đình, quê hương là chùm khế ngọt, anh về VN ăn bưởi ăn cam chứ không ăn khế. Lúc đầu về thăm gia đình, lần thứ hai về làm ăn, đặt hàng “sản xuất ở VN”, lần thứ ba anh về VN nhập cảng cả cô chủ trẻ, con ông giám đốc hãng đóng bàn ghế. Anh bảo lãnh cô chủ trẻ qua Úc du lịch tham quan..Dĩ nhiên hàng hoá thì anh ta trình làng với vợ, còn hàng “độc” anh cất giữ tại hotel. Xui cho anh, cái hôm anh dắt cô chủ nhỏ tham quan thành phố bị vợ anh bắt gặp. Thế là “tan hàng”. Vợ anh thâu tóm tất cả, còn anh chỉ còn lại những gì mà mẹ anh cho anh khi mới sinh anh ra. Cô chủ nhỏ cũng chia tay anh quên cả bye bye.

Tội nhất một người bạn đang làm ngành “finance”, về VN bị tiếng sét ái tình đánh quá mạnh, đến nỗi trong lúc đang ôm ấp người đẹp, thì xuất hiện một tên đàn ông xưng là chồng cô gái, hắn bắt anh phải biết điều nếu không sẽ giết chết anh. Sau khi trấn lột anh hắn xô anh xuống lầu, anh rơi trúng băng ghế xi măng lề đường bể đầu. Anh được đưa vào nhà thương VN cấp cứu. Kết quả khi anh được chuyển về Úc, anh trở thành “người gỗ” muôn đời.

Có nhiều người khoe “mình có số đào hoa”, về VN có nhiều em theo, thậm chí còn tỏ ra mình thật thà “tôi có nói cho em biết là tôi có gia đình”, nhưng em nói “không sao làm người tình của anh là đủ rồi”. Thật tôi không hiểu sao ông bạn tôi thật thà như vậy. Đàn bà ở VN cần cặp với đàn ông có vợ, chứ đàn ông không vợ, họ không cần. Lý do dễ hiểu “có vợ, ly dị vợ mấy hồi”. Khi cá đã cắn câu rồi, lúc đó mới giựt. “anh à em cần mấy ngàn,..” em cần mua xe máy.. em cần tiền sửa nhà..”, rồi anh ơi em có bầu…thế là xong… còn đàn ông không có vợ hay vợ ly dị là đàn ông có vấn đề, không có tiền, không có tài sản, đàn bà VN không cần loại đàn ông đó. Ông bạn thật thà của tôi chắc sẽ được Chúa ban cho Thánh Giá trong một ngày rất gần..

Hàng năm Việt kiều gưỉ về VN trên 10 tỷ US chính thức, còn số tiền gửi chui chắc chắn còn nhiều hơn. Chúng ta muốn cho CS sụp đổ, nhưng cứ gưỉ tiền về thì bao giờ tụi CS mới tiêu được. Nhớ lại ngày trước VNCH hàng năm nhận viện trợ có 3 tỷ US để sống và chống cộng, cuối cùng chỉ cần một tỷ, rồi 700 triệu ,giờ chót 300 triệu cũng bị cắt nên VNCH mới đầu hàng.

CSVN còn khuyến khích người trong nước, các bậc đại diện tinh thần, các cha, các sư.. nhà thờ, nhà chùa xuất ngọai đi xin tiền về xây nhà thờ, xây chùa, làm từ thiện. CS cố tình đẩy những nạn nhân chế độ cho các hội từ thiện nuôi dưỡng. Các viện trẻ em mồ côi, trại HIV, trại phong cuì…, được giao cho các nhà dòng, nhà chùa chăm sóc. CSVN phủi tay trách nhiệm.

Chúng ta thử coi lại mấy video của các hội làm từ thiện. Những nơi hội tới trao tặng phẩm, tiền bạc giúp đỡ đều là những nơi CS chỉ định và dàn cảnh trước. Ngược lại những thương phế binh VNCH rất khó khăn trong việc nhận trợ giúp. Đôi khi CS còn chặn bắt và tịch thu tiền bạc.. việc xin tiền về xây nhà thờ, xây chùa đều phải đút lót chia phần. Cha nào cũng muốn xây nhà thờ hoành tráng, không cần biết đến giáo dân nghèo hay con em trong xứ khốn khổ thiếu thốn đủ thứ, việc này vô hình chung làm lợi cho CS “VN có tự do tôn giáo”.

Mấy cha, mấy sư đi qua ngọai quốc xin tiền về xây nhà thờ, xây chùa có khi nào nhà thờ mới, chùa mới ấy có bảng ghi tên đóng góp của mạnh thường quân. Thậm chí có những vị đã cho cả trăm ngàn dollars.. nếu có hỏi quý cha, quý sư sẽ nói họ là những ân nhân ẩn danh không muốn ghi tên lên bảng vàng. Thực ra qúy cha, qúy sư chỉ muốn “công lao một mình” mà thôi.. Không bao giờ muốn có bảng vàng. Chúa sinh ra nơi máng cỏ, nghèo hèn chắc chắn Chúa không ở những nơi quá sang trọng và hoành tráng..

Nói tóm lại từ khi CS mở cửa kêu gọi kiều bào về VN, cũng từ đó CSVN ung dung ngồi thụ hưởng mỗi năm 12 tỷ US dollars từ Việt kiều. Chúng ta đang nuôi dưỡng chế độ tàn ác với dân và hèn với giặc ngoại xâm TC. Không những vậy những hậu quả của chế độ CS tạo ra, chúng ta lại chung nhau nuôi nấng.

Xin hãy suy nghĩ những việc chúng ta làm. Đồng tiền chúng ta bỏ ra sao cho xứng đáng.

Mục đích chúng ta là giải thể CS, thì xin đừng giúp đỡ chúng qua bất cứ hình thức nào. Chúng ta không thể là “bò sữa” cho chúng vắt, vì khi bò hết sữa, bò sẽ bị “xẻ thịt”.

40 năm chân tướng xâm lược bị lật ngửa

Ban Tuyên giáo Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động chiến dịch tô hồng điểm phấn cho “Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)”, nhưng lại không giấu được cái đuôi xâm lược miền Nam Việt Nam.
Bằng chứng này ghi trong Nghị quyết 15 xác định “mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam “ tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (khoá II) lần thứ 15 (mở rộng) họp tại Hà Nội từ ngày 12 đến 22-1-1959.
Đề cương tuyên truyền ca ngợi Nghị quyết đã: “Xác định rõ mục tiêu, phương pháp cách mạng miền Nam, mối quan hệ chiến lược của cách mạng hai miền, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới; phản ánh đúng nhu cầu của lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam; định hướng và động viên nhân dân miền Nam vùng lên đấu tranh, tạo ra phong trào Đồng khởi (1959 – 1960), xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam, làm tan rã hàng loạt bộ máy của ngụy quyền ở các thôn, xã.”
Nhưng đâu là lý do khiến miền Bắc Cộng sản (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) có quyết định phải thực hiện cuộc “cách mạng miền Nam”?
Nghị quyết 15 bịa chuyện: “Do lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhân dân ta chỉ mới giải phóng được miền Bắc. Ở miền Nam chưa được giải phóng, đế quốc Mỹ đã lấn dần và hất cẳng thực dân Pháp, tập hợp các thế lực phản động, sử dụng chính quyền Ngô Đình Diệm làm công cụ để khôi phục và duy trì ách thống trị của đế quốc và phong kiến. Nhân dân miền Nam ngày càng lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do. Vì vậy, nhân dân miền Nam còn phải tiếp tục làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đánh đổ ách thống trị đế quốc và phong kiến, chủ yếu là đánh đổ chế độ Mỹ – Diệm.”
Những người Việt Nam của miền Nam đã sống qua giai đọan này và còn sống chắc phải bịt mũi trước luận điệu tuyên truyền gỉa dối này. Nhân dân miền Nam từ 1954 đến thời điểm ra đời của Nghị quyết 15 tháng 01 năm 1959, dù có bị hạn chế một số quyền do tình trạng an ninh, chưa bao giờ “lâm vào cảnh cùng khốn và mất hết quyền tự do” như đồng bào miền Bắc trong thời gian này.
Càng phỉ báng lịch sử hơn khi Nghị quyết viết rằng: “Do sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào miền Nam, nước ta bị tạm thời chia làm hai miền: miền Bắc đã được giải phóng và độc lập hoàn toàn, còn miền Nam vẫn là một thuộc địa (kiểu mới) của đế quốc Mỹ….
Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai chẳng những xâm chiếm miền Nam, ngăn cản sự phát triển của xã hội miền Nam, mà còn ráo riết chuẩn bị chiến tranh hòng xâm chiếm cả nước ta, phá hoại toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.”
Ai xâm chiếm ai thì phương châm đề ra trong Nghị quyết 15 “củng cố miền Bắc, chiếu cố miền Nam” đã lột mặt nạ ông Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ.
Để biện minh cho hành động hiếu chiến, đẩy dân tộc hai miền Bắc-Nam vào nội chiến nồi da xáo thịt, Nghị quyết đã hô hào: “Tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ chế độ đế quốc và nửa phong kiến ở miền Nam để thực hiện thống nhất nước nhà.”
Nhưng gây chiến với miền Nam để làm gì và cho ai thì Nghị quyết 15 đã để lộ chân tướng tay sai khi khẳng định rằng: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á.”
Nghị quyết viết: “Vấn đề thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước ta trước hết là vấn đề đấu tranh giữa dân tộc ta chống đế quốc Mỹ và bọn tay sai, đồng thời cũng là vấn đề đấu tranh giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe đế quốc chủ nghĩa. Phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng tranh thủ giữ vững hoà bình được lâu dài thì càng có điều kiện thuận lợi để tăng cường mau chóng lực lượng của mình về mọi mặt trên toàn thế giới, càng làm suy yếu mau chóng thế lực của chủ nghĩa đế quốc. Chủ trương của Đảng ta giữ vững hoà bình ở Việt Nam, thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình, chủ trương ấy gắn liền với chủ trương chung nói trên của phe xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng miền Bắc không “thực hiện thống nhất nước nhà bằng con đường hoà bình” mà đã nhận lệnh và vũ khí, lương thực của Liên Xô-Trung Cộng để xâm lăng miền Nam Việt Nam.
Thực tế này đã phản ảnh trong câu nói lịch sử ô nhục của Tổng Bí thư Lê Duẩn: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cho cả nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta.” ? (theo Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 422, phần chú thích)
Như vậy đã rõ ràng Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa II, đứng đầu bởi Hồ Chí Minh thời bấy giờ đã ngụy tạo ra đủ điều để xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
Chẳng hạn như họ viết trong Nghị quyết 15 rằng: “Chính quyền Ngô Đình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền Nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối….Chính quyền miền Nam hiện nay là một chính quyền phản bội lợi ích dân tộc; nó đại biểu cho lợi ích của đế quốc Mỹ, của bọn phong kiến và bọn tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất ở miền Nam….Thành phần cốt cán trong chính quyền đó gồm những phần tử phong kiến và tư sản mại bản phản động nhất và những phần tử lưu manh, côn đồ và phản bội, quyết tâm làm tay sai cho đế quốc Mỹ, do gia đình và phe cánh họ Ngô cầm đầu.”

Tưởng bằng đó lời bịa đặt chưa đủ, Nghị quyết 15 còn đặt điều vu khống thêm: “Chính quyền đó là một chính quyền độc tài hiếu chiến. Nó là công cụ xâm lược của đế quốc Mỹ, đế quốc cầm đầu các lực lượng hiếu chiến trên thế giới hiện nay; đồng thời, nó cũng mang nặng tính chất phục thù của giai cấp địa chủ đã bị đánh đổ ở miền Bắc nước ta. Do bản chất phi nghĩa, thế cô lập và chỗ yếu căn bản của nó, nó thực hiện một chế độ độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại.”

MẶT TRẬN TAY SAI
Đáng lẽ ra những chữ “độc tài, hung bạo, dùng chính sách đàn áp bằng vũ lực, và dựa vào bộ máy cảnh sát mật thám để tồn tại” phải dành cho đảng CSVN mới đúng với lịch sử.
Nhưng có bao giờ người Cộng sản Việt Nam dám nhìn thẳng vào mặt dân để thừa nhận họ đã nhân danh người dân miền Nam để giết hại đồng bào từ sau Hiệp định chia đôi đất nước 1954 ?
Bằng chứng là họ đã ghi vào Nghị quyết 15 việc thành lập một “Mặt trận riêng cho miền Nam” do họ chỉ huy để tiến hành cuộc chiến cho ngọai bang Nga-Tầu. Vì vậy mà cái gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã được thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1960 để sau đó bị bức tử không kèn không trống vào ngày 31 tháng 01 năm 1977, hai năm sau kết thúc chiến tranh ngày 30/04/1975.
Nghị quyết 15 biện bạch: “Củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước là nhiệm vụ chung của toàn Đảng và toàn dân ta. Nhưng vì nhiệm vụ cơ bản của mỗi miền khác nhau, cho nên nhiệm vụ, tính chất, thành phần Mặt trận ở mỗi miền có chỗ khác nhau. Vì vậy, cần có Mặt trận riêng cho miền Nam.
Cách mạng Việt Nam ở miền Nam hiện nay là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cho nên Mặt trận ở miền Nam hiện nay có tính chất dân tộc dân chủ, nhằm tập hợp tất cả các lực lượng chống đế quốc và phong kiến. Thành phần của nó bao gồm bốn giai cấp trong nhân dân miền Nam (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản, giai cấp tư sản dân tộc) và những nhân sĩ yêu nước, lấy liên minh công nông làm cơ sở, và do Đảng ta lãnh đạo.”
Bàn tay chủ động gây ra cuộc chiến dài gần 21 năm ở miền Nam Việt Nam của đảng CSVN còn được xác nhận trong phần kết luận của Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Trung ương 15.
Báo cáo viết: “Hội nghị Trung ương lần này quyết định đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam, sẽ soi sáng phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam, tăng thêm tin tưởng và ý chí phấn đấu anh dũng của các đảng bộ miền Nam tiến lên làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của mình.
Toàn Đảng ta sẽ vô cùng phấn khởi, vì Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 14 đã đề ra nhiệm vụ ba năm cho các đảng bộ miền Bắc, và Hội nghị Trung ương mở rộng lần này quyết định về đường lối đấu tranh thống nhất và đường lối cách mạng miền Nam.”

MÁU ĐỔ CHO AI?
Cuộc nội chiến Việt Nam mới do người Cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân miền Nam bắt đầu từ đây.
Nhưng cho đến nay, sau 40 năm kết thúc chiến tranh, không có thống kê nào có thể xác nhận có bao nhiêu quân và dân người Việt của hai miền Nam-Bắc đã chết.
Tài liệu của Bách khoa tòan thư (mở) viết rằng: “Chiến tranh Việt Nam đã gây ra cái chết của từ 2 đến 5 triệu người Việt (tùy từng nguồn khác nhau). Trong số các nước đồng minh của Việt Nam Cộng hòa, người Mỹ có số thương vong cao nhất với hơn 58.000 người chết và hơn 305.000 người bị thương (trong đó 153.000 bị thương nặng hoặc tàn phế). Vào khoảng từ 4.400 đến 5.000 binh sĩ Hàn Quốc bị chết; Úc có khoảng 500 chết và hơn 3.000 bị thương; New Zealand 38 chết và 187 bị thương; Thái Lan 351 chết và bị thương; còn Philippines vẫn chưa có con số thống kê cụ thể.”
“Tổn thất trực tiếp và gián tiếp trong Chiến tranh Việt Nam được chia ra như sau:
Theo tài liệu của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (của CSVN) có:
1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác) ; 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa:
* 250.000-316.000 tử trận hoặc mất tích
* 1.170.000 bị thương
Bấy nhiêu con người, nhưng đã có bao nhiêu ao máu để do lường cho tội ác của chiến tranh do đảng CSVN chủ động bắt nguồn từ Nghị quyết 15 năm 1959?
Tổn thất con người Việt Nam của cuộc nội chiến “ý thức hệ” Cộng sản cuồng tín và vô nghĩa này đã có bao giờ khuấy động được con tim chai đá và những khối óc mù lòa của lãnh đạo CSVN trước lịch sử ?
Đấy là chưa kể đến tổn thất của Quân đội CSVN và thường dân trong 4 cuộc chiến sau ngày 30/04/1975: biên giới phía bắc Việt-Trung 2 lần (1979-1987); Tây Nam Việt-Kampuchea (1975 đến 1978) và Cuộc xâm chiếm Kampuchea của quân Việt Nam (từ 7/1/1979 đến 1989).
Trên 40,000 quân và dân 6 tỉnh biên giới đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công của quân Trung Cộng vào Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.
Riêng tổn thất xung đột với quân Khmer đỏ của Pol Pot từ 1975 đến 1989 được chia ra 2 giai đọan:
Giai đọan 1, từ các cuộc đột kích tấn công qua biên giới của quân Khmer đỏ vào các vùng lãnh thổ Tây nam (Tây Ninh-Châu Đốc-An Giang-Hà Tiên-Phú Quốc) sau 30/04/1975 đến các cuộc giao tranh cấp sư đòan trên lãnh thổ Việt Nam kết thúc tháng 12/1978.
Giai đọan 2, bắt đầu từ cuộc tấn công chiếm đóng Cao Miên của Việt Nam từ tháng 1/1979 đến năm 1989. Lý do Việt Nam phải rút quân theo đòi hỏi của Bắc Kinh để được tái lập quan hệ ngọai giao Việt-Trung sau 11 năm gián đọan vì cuộc tấn công qua biên giới Việt Nam năm 1979 của 600,000 quân Trung Cộng.
Tuy nhiên cái gía máu xương người Việt mà đảng Cộng sản Việt Nam phải trả cho cuộc chiến với người láng giềng Khmer đỏ, một thời là đồng minh trong chiến tranh xâm lăng Việt Nam Cộng hòa, qúa cao.
Tài liệu trên Bách khoa tòan thư (mở) ghi lại như sau:
- Từ 1977 tới trước tháng 12-1978: Khoảng 3.000 chết, 5.500 bị thương.
- Từ tháng 12-1978 tới tháng 1-1979: 8.000 chết hoặc bị thương.
- Toàn cuộc chiến (tới năm 1988, bao gồm cả thời kỳ chiếm đóng Campuchia) : từ 10.000 tới 15.000 quân nhân chết và
30.000 bị thương.
Tính chung ước lượng có 55.300 người chết hoặc bị thương (kể cả dân thường) từ năm 1977 tới tháng 10-1989
Tài liệu cũng ghi lại: Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới.
Việt Nam đã gửi 180.000 quân để hỗ trợ khoảng 20.000 quân KNUFNS ( Kampuchean National United Front for National Salvation, Cộng hòa Nhân dân Kampuchia) để đánh tan quân Khmer đỏ của Pol Pot.
Nhưng thật oái oăm, Vương quốc Kampuchia ngày nay do nhà vua Norodom Sihamoni, con của cựu hoàng Norodom Sihanouk , trị vì nhưng quyền hành nằm trong tay Thủ tướng Hun Sen, một người không giấu diếm là “bạn thân thiết của Trung Quốc” và luôn luôn ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong tranh chấp biển đảo với Việt Nam!

MẮT MÙ LỊCH SỬ
Với bối cảnh lịch sử chiến tranh bắt nguồn từ Nghị quyết 15 của đảng CSVN, cả dân tộc Việt Nam ở hai miền đất nước Bắc-Nam đã chìm đắm trong máu lửa gần 21 năm.
Nhưng đau thương chồng hơn núi cao của dân tộc sau 40 năm vẫn chưa lành thì Đề Cương “kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2015)” của Ban Tuyên giáo Trung Ương lại chỉ muốn “bới đống tro tàn tìm máu đổ”!
Một trong những phô trương khơi dậy hận thù dân tộc của Đề cương viết rằng: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 đã giáng một đòn quyết định vào chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn mới.
Giai đoạn từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975: Tạo thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.”
Ai cũng biết, nhất là nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Khả Phiêu và các Tư lệnh chiến trường Trị-Thiên của Quân đội nhân dân, có trên 5,000 thường dân vô tội đã bị lính Cộng sản giết hay hành quyết, kể cả chôn sống trong các hố tập thể từ đêm Giao thừa Tết Mậu thân (ngày 31 tháng 1 năm 1968).
Trong 28 ngày giao tranh trong thành phố, quân Cộng sản địa phương đã được lực lượng chính quy của miền Bắc yểm trợ ra sao và ai đã nhúng ta vào máu dân lành Huế thì hàng ngàn nhân chứng và thân quyến các nạn nhân đã kể hết với lịch sử. Chỉ có những kẻ không dám đối diện với sự thật đã được phơi bầy mới tìm cách che đậy.
Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh, khi xẩy ra trận Mậu Thân mới có 15 tuổi (Ông sinh ngày 15 tháng 5 năm 1953 tại xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) nên có lẽ ông không thấu được nỗi đau của dân xứ Huế khi bản Đề Cương ca ngợi “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968” là bước ngoặt mở đầu cho chiến thắng cuối cùng ngày 30/04/1975 của đảng CSVN.
Điều thứ hai Đề cương tuyên truyền nói không thật khi viết rằng: “khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; chính trị – xã hội ổn định; độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững…”
Trước hết khi nói về “đại đòan kết dân tộc” thì Ban Tuyên giáo Trung ương có biết nỗ lực “hòa hợp, hòa giải dân tộc” giữa người dân hai miền Nam-Bắc sau 40 năm vẫn chỉ bằng mặt mà chưa bằng lòng?
Trách nhiệm chưa hàn gắn được vết thương chiến tranh phải đến từ hai phiá, nhưng đảng CSVN hãy sờ lên gáy xem đã đòan kết nhân dân được đến đâu hay chỉ gây chia rẽ, hận thù thêm bằng những chủ trương, chính sách kỳ thị, phân biệt “kẻ thắng người thua”?
Đảng cũng cần bình tĩnh dò xét xem những hành động bắt bớ tùy tiện, vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản của người dân, kể cả tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do biểu tình, lập hội và tự do tôn giáo đã được thực thi đúng đắn như quy định trong Hiến pháp chưa?
Thứ hai, xã hội ổn định làm sao khi mỗi ngày Việt Nam có ít nhất 30 người chết vì tai nạn lưu thông và tình hình tội ác xã hội càng ngày càng nhiều, trẻ hoá và tinh vi, luân thường đạo lý bị đảo lộn?
Hãy đọc: “Theo nhiều nghiên cứu và thống kê của cơ quan chức năng, trong hơn 5 năm trở lại đây, mỗi năm nước ta có khoảng 10.000 vụ án, với hơn 15.000 đối tượng phạm tội ở lứa tuổi vị thành niên. Đây thật sự là con số đáng báo động về tình hình trẻ hóa tội phạm. Số vụ vi phạm pháp luật do tội phạm vị thành niên gây ra cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, cũng như bộc lộ sự manh động và liều lĩnh. Không chỉ là những vụ trộm cắp, cướp giật, hành hung mà còn rất nhiều vụ án giết người cướp của, hoặc do thù hằn mâu thuẫn cá nhân. Thậm chí còn có cả những vụ án mà những “cậu nhóc” sử dụng công nghệ cao, mạng Internet, điện thoại di động để lừa đảo, tống tiền nhiều người.” (Trích báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 30/01/2015)
Về chuyện Mại dâm ở Thanh phố Hồ Chí Minh thì Ban Tuyên giáo nên đọc báo Việt Nam Express viết ngày 15/9/2014: “Kết quả điều tra thống kê cho biết ở thành phố lớn nhất nước có khoảng 5.500 tiếp viên nữ bị nghi bán dâm tại cơ sở kinh doanh và 200 người bán dâm nơi công cộng.
Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003 của UBND TP HCM, trong những năm qua, tình hình tệ nạn mại dâm tại địa bàn có nhiều diễn biến phức tạp, biểu hiện dưới nhiều hình thức kinh doanh trá hình, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, gây nhiều bức xúc trong cộng đồng dân cư.
Thành phố cho biết, hoạt động mại dâm diễn ra không chỉ bằng hành vi giao cấu giữa kẻ mua và người bán tại khách sạn hoặc một số nhà hàng, vũ trường, karaoke mà phổ biến là các hành vi khiêu dâm, kích dục tại các điểm kinh doanh cà phê, tiệm hớt tóc, gội đầu, xông hơi, cạo gió, giác hơi, spa…”
Gần đây, thành phố tiếp tục xuất hiện một số đường dây mại dâm “gái gọi hạng sang” với những người xưng danh là diễn viên, người mẫu tham gia bán dâm với giá hàng nghìn USD, đồng thời hoạt động mại dâm nam, mại dâm đồng tính nam, mại dâm có yếu tố nước ngoài và xuất cảnh ra nước ngoài bán dâm ngày càng gia tăng. Cá biệt, tại một số cơ sở spa có biểu hiện hoạt động mại dâm đồng tính của giới “gay”.
Ngày 04-03-2013, mạng báo Zing.VN viết về tệ nạn này ở Hà Nội: “Tại Hà Nội, thời gian gần đây, thành phố đã rất mạnh tay xử lý các tụ điểm “nóng” về hoạt động mại dâm. Tuy nhiên, qua khảo sát ở nhiều tuyến đường, tình trạng gái đứng đường mời gọi khách làng chơi vẫn không giảm. Đoạn đường Phạm Văn Đồng qua xã Cổ Nhuế và xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm chỉ dài khoảng 1km nhưng có hàng chục tụ điểm mại dâm. Các cô gái công khai đứng xếp hàng trước cửa quán, tràn cả ra đường mời gọi, chèo kéo khách làng chơi. Cũng trên đường Phạm Văn Đồng, đoạn gần công viên Hòa Bình, cứ tối đến, gái mại dâm lại tụ tập ở bãi đất trống để chờ khách. Ở khu vực trung tâm thành phố Hà Nội, hoạt động mại dâm tại ngõ 107 Nguyễn Chí Thanh (quận Đống Đa) diễn ra rất tấp nập. Chỉ cần có khách gọi, tài xế xe ôm kiêm bảo kê sẽ kẹp 3 – 4 gái mại dâm, phóng với tốc độ kinh hoàng để đưa “hàng” đến các quán bar, karaoke, vũ trường, nhà nghỉ. Nhiều “phố vẫy” khác ở Hà Nội cũng hoạt động nhộn nhịp, công khai, gây nhức nhối dư luận những năm gần đây, như: đường Nguyễn Trãi gần chợ Phùng Khoang (huyện Từ Liêm), đường Giải Phóng gần bến xe Giáp Bát, khu vực Cố Thổ (xã Hòa Thạch, huyện Quốc Oai), xã Tây Mỗ (Từ Liêm)”
Về tình trạng nghiện ngập, một tài liệu phổ biến ngày 5/11/2014 viết: “Theo đánh giá của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm tình hình sản xuất, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy ở Việt Nam ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ, số lượng, số loại ma túy bị cơ quan chức năng bắt giữ ngày càng tăng. Việc buôn bán ma túy ngày càng tăng kéo theo tình trạng gia tăng số lượng người sử dụng loại chất cấm này.
Đến cuối tháng 9/2014, cả nước có 204.377 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý (trên thực tế số người sử dụng ma túy còn lớn hơn rất nhiều). Kết quả thống kê cho thấy số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm kể từ năm 1994 đến nay (năm 1994 là 55.445 người, trung bình mỗi năm tăng khoảng 7.000 người). Những năm gần đây số người nghiện ma túy của Việt Nam luôn gia tăng, mức tăng trung bình mỗi năm khoảng 6% (Năm 2000, có khoảng 60.000 người nghiện thì năm 2014 có trên 200.000 người nghiện).
Người nghiện ma túy đã có ở 100% các tỉnh, thành phố, gần 90% quận, huyện và khoảng 70% số xã, phường, thị trấn. Người nghiện cũng đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội: học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức, người lao động…
Trong số người nghiện ma túy: 96% là nam giới, 4% là nữ giới, 74% ở độ tuổi 18-35, có 1% dưới 18 tuổi. Người nghiện sử dụng heroin là 72% và có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy tổng hợp nhóm kích thích dạng Amphetamin (ATS) ngày càng gia tăng (2,5% năm 2005, 14,5 % đến tháng 9/2014). Tại một số địa phương, tỷ lệ học viên trong Trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục- Lao động xã hội (Trung tâm) đã từng sử dụng ma túy tổng hợp cao như: Đà Nẵng 74%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%.”
Với một xã hội đen tối như thế thì làm sao mà “ổn định” được? Đấy là chưa kể đến tình trạng suy đồi đạo đức trong giới trẻ và lãnh đạo đang ngày một lên cao trong nhiều lĩnh vực.
Quốc nạn tham nhũng, nặng nhất là tình trạng tham nhũng vặt thì đông hơn dịch cào cào châu chấu từ thành phố về nông thôn. Đảng đã thất bại. Chính Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói ông cũng rất khó chịu khi thấy tham nhũng vặt lộng hành.
Ông nói với cử tri Hà Nội: “Cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi , như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chịu.” (ViệtnamNet, 27/09/2013)
Cuối cùng là câu tuyên truyền “độc lập chủ quyền quốc gia được giữ vững” của Ban Tuyên giáo trong Đề cương kỷ niệm 40 năm ngày “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”.
Độc lập thì có những “chủ quyền quốc gia” ở Biển Đông bây giờ đang do Việt Nam hay Trung Quốc “qủan lý giúp” ở Quần đảo Hòang Sa?
Một vùng biển lớn khác bao quanh 8 bãi đá, quan trọng nhất là Gạc Ma,của quần đảo Trường Sa bị Trung Cộng đánh chiếm ngày 14/03/1988, đã được Bắc Kinh tân tạo thành các căn cứ quân sự ở Trường Sa thì ai đang làm chủ ở đó?
Vậy ông Đinh Thế Huynh và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có thể nói rõ hơn cho dân biết, thay vì chỉ biết tuyên truyền nhảm như viết trong Đề cương mà mang tội với lịch sử.
Nếu không thì dù có tô son điểm phấn bao nhiêu, ý nghĩa của “Kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” cũng vô nghĩa.
Phạm Trần
(03/015)

 

23 March 2015

Vĩnh biệt “người vĩ đại trên sân khấu nhỏ”




Cả nước Singapore treo cờ rủ để tang cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu.
 Đây là một mất mát vô cùng lớn đối với đất nước và người dân Singapore, bởi chính ông – Lý Quang Diệu – là người đã tạo nên “kỳ tích Singapore, biến hòn đảo nhỏ bé không có tài nguyên này thành một quốc gia phát triển thuộc thế giới thứ nhất như ngày nay.
Ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew) sinh ngày 16-9-1923 trong một gia đình gốc Hoa định cư ở Singapore từ cuối thế kỉ XIX. Tốt nghiệp chuyên ngành luật tại Anh, luật sư trẻ Lý Quang Diệu đã tham gia sáng lập Đảng Nhân dân Hành động (PAP) ở Singapore vào năm 1954. Chỉ 5 năm sau đó, PAP dưới sự dẫn dắt của Lý Quang Diệu đã giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử và với vai trò Tổng Thư ký PAP, ông trở thành người Singapore đầu tiên giữ ghế Thủ tướng của nước Singapore độc lập nằm trong Khối liên hiệp Anh.
Văn phòng Thủ tướng Singapore thông báo lễ quốc tang cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu sẽ được tổ chức vào 14 giờ ngày 29-3 (theo giờ địa phương), tại Trung tâm Văn hóa, Đại học Quốc gia Singapore. Linh cữu của cựu Thủ tướng sẽ lưu tại Tòa nhà Quốc hội từ 25 đến 28-3, và tòa nhà mở cửa hàng ngày từ 10-20/giờ để đông đảo  dân chúng viếng thăm. Ngoài ra, Singapore chính thức mở sổ tang tại cổng chính dinh Thủ tướng từ ngày 23 đến 29-3, lập trang web  http://www.rememberingleekuanyew.sg  và một trang chính thức trên mạng xã hội Facebook.
Năm 1963, Singapore tham gia Liên bang Malaysia, nhưng chỉ 2 năm sau, một lần nữa tuyên bố độc lập. Kể từ đó, ông Lý Quang Diệu đã đảm nhiệm cương vị Thủ tướng Singapore trong suốt 31 năm cho đến khi quyết định nghỉ hưu vào năm 1990. Trong hơn ba thập kỉ cầm quyền, Lý Quang Diệu đã đưa Singapore trở thành một trong những nền kinh tế giàu mạnh nhất châu Á, một trung tâm tài chính và công nghệ cao lớn nhất khu vực, một điểm đến an toàn và hấp dẫn với các nhà đầu tư và là một trong những nơi “đáng sống” nhất trên thế giới.
Là một trong những nhà lập quốc, ông Lý Quang Diệu đã lãnh đạo thế hệ tiên phong của Singapore biến Singapore từ “một vùng đầm lầy trở thành siêu đô thị”. Tổng thống Singapore Tony Tan gọi ông Lý Quang Diệu là kiến trúc sư của nền cộng hòa hiện đại. Với tầm nhìn về một nền kinh tế hiện đại, hội nhập hoàn toàn vào hệ thống sản xuất toàn cầu, khai thác vị trí chiến lược và lao động tay nghề cao, đến nay, Singapore về căn bản đã hiện thực hóa thành công tham vọng này. Tổng sản lượng quốc nội (GDP) bình quân đầu người trong năm 2014 của Singapore là 60.410 USD, trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 56,7 tỷ USD.
Ngay khi công cuộc phát triển đô thị của Singapore vẫn còn ở giai đoạn sơ khai, ông Lý Quang Diệu đã có tầm nhìn xây dựng Singapore theo mô hình “Vườn-Thành phố”. Ông đã đề xuất dự án cải tạo sông Singapore và sông Kallang vốn ô nhiễm nghiêm trọng để hình thành nên một phần Vịnh Marina ngày nay, nơi giờ đây không chỉ là một nguồn nước ngọt quý giá cho người dân mà còn là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế. Với tầm nhìn xa đó, Singapore ngày nay được xem là hình mẫu phát triển bền vững và toàn diện nhất để quy hoạch đô thị trên thế giới.
Một dấu ấn thể hiện tầm nhìn đi trước thời đại của Lý Quang Diệu chính là việc ông chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ phổ thông ở Singapore. Các cộng đồng sắc tộc cũng được khuyến khích coi ngôn ngữ mẹ đẻ là ngôn ngữ thứ hai để duy trì bản sắc văn hóa cộng đồng. Có rất nhiều bài báo viết về ông Lý Quang Diệu, nhưng hầu hết tập trung vào chính sách đối nội, vấn đề quản trị trong sự phát triển của Singapore, mà rất ít đề cậpđến  tư tưởng của ông về chính sách đối ngoại. Vì thế, sẽ không ít người ngạc nhiên khi biết rằng các nhà lãnh đạo trên thế giới đều mô tả nhà lãnh đạo xuất chúng của Singapore,  một chính khách có tầm ảnh hưởng có một không hai ở châu Á,  và là một nhà chiến lược kết hợp những giá trị phương Đông với tầm nhìn quốc tế luôn luôn đi trước thời đại. Ông còn là một trong những nhà bình luận thẳng thắn nhất của châu Á về các vấn đề an ninh khu vực. Cựu Tổng thống Mỹ Richard Nixon thậm chí so sánh ông Lý Quang Diệu với cựu Thủ tướng Anh Winston Churchill.
Là nhà lãnh đạo đặt lợi ích của đất nước lên trên lợi ích cá nhân, ông Lý Quang Diệu từ chức Thủ tướng vào năm 1990 sau khi đã xây dựng thế hệ kế cận đủ năng lực. Nhờ tầm nhìn xa của ông, Singapore đã có được sự công nhận quốc tế và thiết lập quan hệ hợp tác với tất cả các cường quốc trên thế giới. Với trí tuệ sâu sắc và quan điểm thẳng thắn, ông Lý Quang Diệu cũng được nhiều nhà lãnh đạo và ngoại giao quốc tế, trong đó có Việt Nam, tham khảo ý kiến về những diễn biến trong khu vực và trên thế giới.
Báo The Economist (Anh) tổng kết: “Nếu muốn tìm kiếm tượng đài về ông, hãy nhìn quanh Singapore. Thịnh vượng, trật tự, sạch sẽ, hiệu quả và được điều hành một cách trung thực”.
Huyền Lan
 -----------
IN MEMORY OF
Lý Quang Diệu
1923-2015

22 March 2015

Là người Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng Tư



Nước đã mất, nhà đã tan , gia đình ly tán ! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rũi may , những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.


Người dân trốn chạy quân Bắc Cộng

Trên đường trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vượt thoát bằng đường bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đã chết đói vì lạc đường, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đình, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng( tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.

Thãm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những ngưòi trốn chạy khỏi quê hường nầy bằng một biệt danh ,mà trong lịch sữ loài người chưa từng có :“BOAT PEOPLE”(Thuyền Nhân).

Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc, đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ gíúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và cưỡng chiếm miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.

Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là NGÀY QUỐC HẬN.

Xe Tăng Bắc Việt cs bị bắn cháy tại Lăng Cha Cả gần sân bay TSN

Không có từ ngữ nào để diễn tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc Hận. Nó diễn tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó , đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ ; từ tương lai trong sáng trở thành tăm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất , căm phẩn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật : ngoan ngoản thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.

Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng Tư, ngày đổi đời đó ?

Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.

Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại "cải tạo". Những rường cột của Quốc Gia đã bi kềm hãm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chữa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm mướn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy. Những người tù "cải tạo" đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chửi bới ,hăm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều trường hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những "bài học chính trị do Bác và Đảng chủ trương" đối với những người sa cơ, thất thế.

Những người tù khốn khổ đó là ai ?

Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam củaTổ Quốc, giữ gìn an ninh cho ngưòi dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp.

Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cường, có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn, Đài Loan...

Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà.

Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.

Những người tù khốn khổ nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã gíup đỡ cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền chống phá lại cách mạng của nhân dân" (sic).

Ngoài những người đã bị bắt đi làm “tù cải tạo”, những người dân thường sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đã bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là "nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa" (hiện giờ là "cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi "vùng kinh tế mới", “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo, đã có công với nhà nước trong viêc cưỡng chiếm miền Nam.

Đám Cán Ngố (Vẹm Rừng) Trước Dinh Độc Lập Ngày QUỐC HẬN 30/4/1975

Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xã“. Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vườn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là "bảng chấm công". Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam: VNCH.

Tóm lại, sau khi bọn cường đạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã xâm lăng và cưỡng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhượng, bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.

Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2014, đã qua 39 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những tên "cán bộ" Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xảo thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn...

Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nổi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẫm ướt máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc , giúp đở họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu (câu nói khinh miệt của dân miền Nam) , họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn Cộng Phỉ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.

Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi uất hận, xót xa cho cả nước, chúng ta hãy tưởng niệm đến quê hương đã mất đi, tưởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hãy tưởng nhớ đến những người tỵ nạn cộng sản kém may mắn đã chết trên đường đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hãy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng , để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.

Lão Ngoan Đồng

TỘI ÁC CỘNG SẢN VN: Người con gái sông Hương,trong thời chinh chiến

Mời xem một câu chuyện thật - Đời người con gái trong thời chinh chiến - rất hay và cảm động !

Người con gái sông Hương

LGT: Sách của W. Nicole Dương (Dương Như Nguyện), cuốn ” Mimi and Her Miror” và “Postcards From Nam”, nữ thẩm phán Hoa Kỳ đầu tiên gốc Việt, vừa đoạt luôn giải nhất và giải nhì của cuộc giải thưởng sách quốc tế, dạng tiểu thuyết đa văn hóa (category: multicultural fiction), được tổ chức bởi JPX Media Group của Los Angeles, tiểu bang California, Hoa Kỳ. Chào đời tại Hội An, Quảng Nam và đến Hoa Kỳ năm 1975, Nicole tốt nghiệp Cử Nhân Báo Chí tại ĐH Southern Illinois, sau đó Tiến Sĩ Luật của DH Houston và LLM của Harvard. Tuổi 24, cô đã làm Tổng Giám Đốc Vụ Bồi Thường Rủi Ro cho Quận Học Chánh Houston, rồi tốt nghiệp luật sư năm 1984. Hành nghề luật được 18 năm thì cô trở thành giáo sư luật thực thụ ở đại học Denver. Cô viết văn từ khi còn ở Việt Nam và là người cuối cùng đoạt giải danh dự cuộc thi Văn Chương Phụ Nữ Toàn Quốc Lễ Hai Bà Trưng của Việt Nam Cộng Hòa. Cuốn “Con gái của sông Hương” xuất bản năm 2005 gây nhiều tiếng vang

Một thời để yêu
Cuộc chiến Việt Nam đã để lại biết bao nhiêu cuộc tình éo le sầu thảm. Một thời để yêu và một thời để chết. Một thời bên nhau, đại bác xa xa vọng về và hỏa châu thắp sáng chân trời. Rồi tù đầy chia cắt. Anh trở về dang dở đời em. Nhiều trường hợp sau hơn 10 năm ngục tù, anh trở về, em đã đem con qua Mỹ và đi xa hơn nữa, em đã sang ngang. Cũng như hàng trăm người khác, chuyện cô gái sông
 

Hương mà tôi kể cho quý vị hôm nay cũng vậy mà thôi.


Nhưng đây là câu chuyện trong gia đình anh chị em cùng khóa của chúng tôi, xin kể lại để quý vị nghĩ rằng đây là khổ đau hay hạnh phúc. Ðặc biệt đây là câu chuyện liên quan đến mặt trận Quảng Trị năm 1972. Chàng là sĩ quan thủy quân lục chiến, tốt nghiệp Ðà Lạt, cùng khóa với chúng tôi. Năm đó đã trên 30 tuổi, ly dị vợ, sống độc thân, đẹp trai và có thể nói là hào hoa phong nhã.Ðời thủy quân lục chiến, 12 tháng anh đi, nay đây mai đó. Còn nhớ bài ca của lính mũ xanh. Tháng hai đem quân ra Huế... và ở đó trung tá Nguyễn đã gặp cô Lan Hương, sinh viên văn khoa, người con gái sông Hương. Lúc đó vào đầu thập niên 70, em mới 20 tuổi. Cô gái Huế cũng có nhiều bạn trai theo đuổi và phần cô cũng rất đào hoa. Ðược coi là người đẹp văn khoa xứ Huế. Gặp chàng sĩ quan Bắc Kỳ, áo mầu lính biển với mũ xanh, mang vóc dáng của người hùng thời chinh chiến, Lan Hương bỏ tất cả để theo chàng.




Nicole và Bà Hoàng Đức Nhã trong buổi trao giải Văn Chương 1975


Cô Lan Hương
Chị cả một gia đình lễ giáo bảo thủ, cha mẹ cô hoàn toàn chống đối cuộc hôn nhân hết sức phiêu lưu. Anh chàng Bắc kỳ hơi lớn tuổi, quá khứ chẳng biết ra sao, đi thứ lính không biết chết ngày nào, không ai lại muốn con gái sớm thành góa phụ.Nhưng cô gái sông Hương bướng bỉnh đã bỏ nhà theo sư đoàn thủy quân lục chiến vào Saigon mất tăm dạng. Nàng chỉ trở về với đứa con trong bụng để rồi gia đình cũng phải đành chấp nhận cho chàng rể bất đắc dĩ ra mắt nhạc gia và chờ đón đứa cháu ra đời.Lúc đó đúng vào giai đoạn trung tá Nguyễn cùng với lữ đoàn đang chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị. Lan Hương đau bụng vào nhà thương khi Bắc quân tấn công thủy quân lục chiến tại Ái Tử.Hương kể rằng đại bác chẳng biết từ đâu vọng về ngày đêm. Rồi bom nổ, tiếng máy bay xé ngang trời. Dân chúng bị thương, bị chết đem vào bệnh viện cho đến ngày 6 tháng 4 năm 1972 đứa con trai đầu lòng của cô gái sông Hương ra đời. Ðặt tên cháu là Vũ.Cũng ngày hôm đó, từ mặt trận trung tá Nguyễn bay trực thăng về hậu cứ, rồi xe nhà binh cùng với binh sĩ ào vào thăm vợ con được ít phút rồi lại ra đi.Lính tráng đi với ông thầy, súng đạn đầy người, áo quần tơi tả, đến rồi đi tưởng như trong phim ảnh.Cô sinh viên nay trở thành bà mẹ trẻ ôm con khóc không biết rồi đây anh có trở về không ? Ðó là những ngày đầu của người con gái nếm mùi đau thương chinh chiến. Mấy năm trước, dù Mậu Thân với bom đạn và xác người chôn ở vườn nhà, tuy có sợ hãi nhưng vẫn còn ở tuổi ngây thơ. Bây giờ chiến tranh mới thâm nhập vào da thịt.

Suốt 6 tháng dài từ tháng 4 tới tháng 9 năm 1972 Lan Hương thực sự sống với chiến trường Quảng Trị. Theo tin chiến sự mỗi ngày. Quân ta quân địch đánh nhau ở đâu. Thủy quân lục chiến rút lui ra sao, rồi đơn vị về Huế dưỡng quân để lên đường vượt Mỹ Chánh thế nào.Người con gái sông Hương cùng thở theo hơi thở của cả đoàn quân mũ xanh. Khi đánh vào Cổ Thành, lính bên ta chết bao nhiêu, xác đem về đầy các xe nhà binh, máy bay chở về Saigon không kịp còn nằm chờ ở phi trường.Cô sống trong những cơn ác mộng ngày đêm, không đêm nào là không có cơn mộng dữ. Ðứa con đầu lòng đã sống trong niềm lo bất tận của mẹ.Tiếp theo là 1 tin vui trong giai đoạn mới của binh nghiệp. Trung tá Nguyễn đổi về Saigon làm trung đoàn trưởng 1 trung đoàn bộ binh. Mặt trận miền Ðông cũng không kém phần ác liệt, tuy nhiên không khí thủ đô làm cho gia đình có được những giây phút tương đối an toàn.Mới đây, từ bên Arizona, đọc những bài viết về trận Quảng Trị và dự trù làm phim, cô Lan Hương đã viết cho gia đình tôi một đoạn email.
“Ðọc những chuyện về trận Quảng trị 37 năm về trước, em hết sức xúc động. Ðó là một phần cuộc đời của em không bao giờ quên được. Cuộc đời làm vợ lính thủy quân lục chiến, làm mẹ lần đầu. Và do những tình cờ em lại quen biết với gia đình anh chị suốt bao năm nay.”

Tháng Tư, ngày định mệnh
Mặc dù là bạn cùng khóa, nhưng tôi không hề biết về gia cảnh của trung tá Nguyễn. Hai tuần trước ngày 30 tháng 4-1975, tôi có dịp đi cùng người anh của Nguyễn lên chiến trường miền Ðông để thăm trung đoàn tại Bến Cát. Anh của Nguyễn là trung tá Tâm, cùng làm việc với chúng tôi tại Tổng Tham Mưu.Xem tình hình tại chỗ, thấy hoàn cảnh của Nguyễn, với trách nhiệm chỉ huy tại chiến trường, rõ ràng là việc di tản hoàn toàn không có điều kiện.Sáng 30 tháng 4-1975, chúng tôi đi bằng tàu quân vận tại Khánh Hội, theo sau đoàn tàu Hải quân. Gia đình anh Tâm chạy theo chúng tôi lại có cả cô em dâu và 1 đứa con 3 tuổi. Cô em dâu lại đang mang bầu, chính là Lan Hương của trung tá Nguyễn. Người con gái sông Hương của thủy quân lục chiến và đứa con trai là thằng bé ra đời trong thời gian mùa hè 72 tại Quảng trị.Mang bầu đứa con thứ hai, với thằng bé 3 tuổi, chạy theo anh chị, xuống tàu ra khơi. Lúc đó, thực sự tất cả chúng tôi cũng mơ hồ không biết đi đâu. Có thể về miền Tây, ra Phú quốc, ra Côn sơn theo Hải quân hay chờ tàu Mỹ vớt. Nhiều gia đình hy vọng thoát cơn hồng thủy, nhưng Lan Hương tan nát trong lòng. Biết thế này em ở lại Saigon chờ anh Nguyễn.Sau cùng, trải qua chuyến hải hành đầy nước mắt, mẹ con theo anh chị đến đảo Guam thì cô quyết định xin ghi danh theo con tàu Việt Nam Thương Tín để trở về. Tuy nhiên vì sắp đến ngày sanh, lại thấy những người xin về có những hoạt động đấu tranh quá dữ dội nên sau cùng cô ở lại. Khóc thì vẫn khóc.Qua đến miền đông nước Mỹ, Lan Hương sanh đứa con trai thứ nhì trong trại tỵ nạn Fort Chaffee đặt tên là thằng Việt.Họ Ðạo miền Trung Mỹ bảo trợ cho Lan Hương nuôi con. Hai đứa bé còn thật nhỏ. Những bà vú Hoa Kỳ tình nguyện thay phiên đến trong nhà trông con để mẹ đi học. Xứ Huế với dòng sông Hương, gia đình cha mẹ, các em vẫn xa tít mù khơi. Không có tin tức gì về anh Nguyễn. Nào biết còn sống hay chết. Ðã đi tù hay mất tích.Những buổi tối mùa đông của miền băng giá, cô vẫn lặn lội đi học. Xa cách những vùng có đông người Việt. Gia đình anh chị bên nhà Nguyễn cũng bận rộn về sinh kế. Những đứa con còn nhỏ dại. Cô sinh viên văn khoa của sông Hương lầm lũi trở thành bà mẹ trẻ học trò tỵ nạn trong kiếp sống cô đơn.

Lỡ bước sang ngang
Trong hoàn cảnh đó, trải qua gần 5 năm hấp thụ nền văn minh Mỹ quốc, Lan Hương gặp ông giáo sư dạy chương trình điện toán. Ông thầy Mỹ cũng đã ly dị vợ từ lâu đem lòng thương yêu cô gái Việt và xin cưới.Trung tá Tâm, anh của Nguyễn, điện thoại cho chúng tôi nói rằng 2 người đến nói chuyện để xin phép được lập gia đình. Tuy là vai anh chồng và là bác của những đứa con nhưng làm sao trả lời được.Ai mà có thể quyết định Yes hay No.Nếu không đồng ý thì cũng không ngăn cản được. Vả lại, nếu cô Hương ở vậy làm sao nuôi con thành người . Những đứa nhỏ sắp sửa vào trường. Rồi trung học, đại học. Tin nhà không có. Biết Nguyễn sống chết ra sao và sẽ chờ đến bao giờ.Hơn nữa cũng chẳng phải thuần túy vì sinh kế. Cô gái sông Hương ngày xưa đã có một thời nhiệt tình để yêu. Ðã có can đảm bỏ nhà đi theo sư đoàn thủy quân lục chiến.Ngày nay nàng đã tìm thấy hơi ấm tình yêu mới bên cạnh ông thầy đại học vào những lớp tối mùa đông. Cô ở vào tuổi 30 khi gặp anh chàng người Mỹ, cũng cao lớn đẹp trai vững vàng như trung tá Thủy quân lục chiến của mùa hè Quảng Trị ngày xưa.Ngày cưới đã ấn định. Tháng 7 năm 1980. Hai đứa con trai nhỏ vô tư vui vẻ làm quen với người cha Hoa Kỳ bao dung và tận tụy.Nhưng số mệnh vẫn còn nhiều cay đắng. Ba ngày trước khi làm đám cưới, Lan Hương nhận được thư nhà từ Huế gửi qua. Kèm theo là mẩu giấy nhỏ nhắn tin của Nguyễn, còn sống, vẫn ở tù, chẳng biết ở đâu. Không biết còn sống được bao lâu. Nhưng còn sống.Lan Hương nhớ lại, những ngày xa xưa của năm 80, gần 30 năm về trước là những giờ phút hết sức trăn trở. Vui mừng cho 2 đứa con vẫn còn bố. Nhưng bẽ bàng cho duyên phận. Sau cùng, đám cưới vẫn tiến hành qua những ngày đầy nước mắt.Rồi ngày tháng trôi qua, cuộc sống trên đất Mỹ với người chồng yêu thương, hết sức quân tử đã tạo thành 1 gia đình kiểu mẩu. Lan Hương có nhiều cơ hội giúp đỡ cha mẹ và các em. Gửi quà về tiếp tế cho Nguyễn trong trong trại tù từ Bắc vào Nam.Từ trong trại, anh Nguyễn mơ hồ biết là vợ con đã qua Mỹ nhưng không có nhiều tin tức. Sau hơn 13 năm “ lao động cải tạo “ người anh hùng TQLC một thời được trở lại Saigon.Biết tin vợ con hạnh phúc trong gia đình mới. Anh tìm lại người vợ cũ, làm hồ sơ HO đưa tất cả qua Hoa Kỳ. Ðịnh cư tại miền Trung Mỹ. Tuy giấy tờ là 1 gia đình nhưng Nguyễn vẫn sống độc thân như thời kỳ trước 75 . Gia đình mới của Lan Hương bây giờ đã dọn qua sống tại miền Tây.



Anh trở về, dang dở đời em...
Mùa xuân năm 1991, cô gái sông Hương giờ đây đã 40 tuổi, đem 2 con qua miền Ðông gặp bố lần đầu tiên. Trước khi đi, người chồng Mỹ cầm tay Hương mà nói rằng: “Em hãy đi và thử hỏi lòng mình 1 lần cho rõ ràng. Nếu đây là lần chúng ta chia tay, anh cũng đành chấp nhận. Chuyện của chúng ta sau 10 năm, đến đây là đoạn cuối. Nhưng nếu em trở lại, thì xin nói lời chia tay rõ ràng với Mr. Nguyễn. Ðối với anh, Nguyễn luôn luôn là 1 người anh hùng. Nếu cần thì anh cũng phải hy sinh. Cảm ơn em đã cho anh một gia đình trong 10 năm hạnh phúc.Tiếp đến cuộc gặp gỡ đầy đau thương của vợ chồng và bố con ông HO. Trời mùa đông Hoa Kỳ hình như có cả cơn gió Lào thổi về Quảng trị. Nguyễn cũng có tâm trạng ước mong đoàn tụ nhưng rồi chợt biết là đã ngàn trùng xa cách. Nàng đã có gia đình mới. Mẹ con thấm nhuần văn hóa Mỹ. Anh không thể và cũng không có khả năng phá vỡ được bức tường ngăn cách đã xây dựng từ 15 năm qua.Ðành để cho định mệnh đóng vai trò quyết định. Dự trù ra đi 1 tuần nhưng 4 ngày sau Lan Hương đã đem con trở về với ông bố Mỹ. Và 1 lần nữa người cha Hoa Kỳ sung sướng đón mẹ con Việt Nam trong vòng tay mở rộng. Gia đình Lan Hương sống tại San Francisco nên có cơ hội gần gia đình chúng tôi như cô em gái. Chúng tôi biết hết gia cảnh, và cô cũng vui lòng kể hết chuyện đời.


Cay đắng nở hoa...
Tháng 5 năm 2002, chúng tôi nhận được thiếp mời đi dự đám cưới cháu Việt tại Arizona. Bác sĩ Việt 27 tuổi lấy cô vợ Mỹ, bạn học thời sinh viên tại nơi tiểu bang đồng khô cỏ cháy nhưng mang đầy truyền thống hết sức Hoa Kỳ.Gia đình nhà vợ giàu có và bề thế. Bạn bè anh chị em nhà cô dâu Mỹ rất khích động ồn ào khi đón được chú rể bác sĩ Việt Nam đẹp trai độc đáo như tài tử Kong Fu Bruce Lee.Lễ cưới cử hành long trọng tại nhà thờ. Ông bố vợ đại diện gia đình nhà gái chào mừng nhà trai và quan khách. Nhà trai của bác sĩ Việt gồm cả 2 quốc gia Hoa Kỳ-Việt Nam từ bốn phương kéo về.Ông bố chồng Hoa Kỳ đứng lên giới thiệu ông bố chồng Việt Nam là trung tá Nguyễn của chúng ta. Vị giáo sư điện toán của đại học nói rằng đây là người anh hùng Thủy quân lục chiến Việt Nam, đã chiến đấu 20 năm cho miền Nam tự do từ Tết Offensive 68 cho đến Easter Offensive 72. Ðã trải qua hơn 13 năm làm tù binh trong trại tù cộng sản. Mr. Nguyễn là anh hùng của ngày xưa và là anh hùng của ngày hôm nay

Với tư cách là bạn bè và là khách của nhà trai, tôi có dịp lên tiếng nhắc lại những ngày Nguyễn chiến đấu tại Quảng Trị, những ngày anh ở lại Bến Cát cho đến khi Tư lệnh sư đoàn tự vẫn và ông bị bắt vào tù. Mrs. Nguyễn mang bầu đi cùng chúng tôi ra khơi, được tàu Mỹ vớt, sanh cháu Việt trong trại tỵ nạn. Ðặt tên Việt để nhớ mãi về quê hương. Và hôm nay... Không khí cảm động và hơi căng thẳng, nên chúng tôi tìm cách kết luận nhẹ nhàng,... và hôm nay, Dr.Việt bỏ người cha Marin Corp Việt Nam và cả người cha giáo sư đại học Hoa Kỳ để về ở rể với người cha vợ Arizona chỉ vì cậu bác sĩ của chúng tôi đi theo tiếng gọi của ái tình...Tiếp theo, MC là em gái của cô dâu giới thiệu bà mẹ Lan Hương đi lên chứng kiến lễ cưới của con trai. Ông chồng cũ Việt Nam đi 1 bên, ông chồng hiện tại Hoa Kỳ đi 1 bên. Cô gái sông Hương khoác tay cả 2 chàng đi lên bàn thờ. Quan khách vỗ tay tán thưởng còn nhiều hơn là dành cho cô dâu chú rể.Trong đời chúng tôi, chưa từng dự 1 đám cưới nào như vậy. Chú rể mới chụp hình kỷ niệm với 3 ông bố. Bức hình là một di tích lịch sử của gia đình.

Họp khóa mùa Xuân

Tháng 3 năm 2004, kỷ niệm 50 năm của 1 khóa quân trường. Anh em chúng tôi vào trường Ðà lạt tháng 3 năm 1954. 50 năm sau anh em gặp lại tại Orange County, điểm danh xem ai còn ai mất.Cô Lan Hương đến dự đi cùng gia đình chúng tôi. Anh Nguyễn độc thân từ miền Ðông về gặp anh em. Ði cùng gia đình trung tá Tâm, chúng tôi đều là những ông già 70 tuổi.Riêng cô gái sông Hương vẫn còn trẻ như ngày xưa. Anh em họp mặt hết sức cảm động. Giới thiệu từng trung đội của năm 1954 xa xôi. Thời gian đó chúng tôi xa Hà Nội năm lên 18 chưa từng biết yêu. Ðến năm 1975 thì bao nhiêu mộng đẹp bay ra thành khói tan theo mây chiều.Từ Vũ thế Quang, Nguyễn hữu Luyện và anh Nguyễn của đại đội 5, cho đến các bạn của đại đội 6 như Lại Thọ, Trần quốc Lịch, Lê xuân Ðịnh.Tiết mục sau cùng là người đẹp trao vòng hoa chiến thắng một đời cho các chiến sĩ cao niên. Chị Thiều, nữ sinh Sài Gòn trao vòng hoa cho nhẩy dù Ngô quang Thiều như chuyện tình năm xưa của thời chiến dịch Hoàng Diệu. Lan Hương của xứ Huế trao hoa cho anh Nguyễn, thủy quân lục chiến.Bây giờ anh Thiều và một số bạn khác đã ra đi, nhưng Nguyễn và Lan Hương vẫn còn đây. Vẫn là cha mẹ của những đứa con, là ông bà của các cháu, nhưng chàng trai Hà Nội và cô gái xứ Huế chỉ còn biết nhau trong tình bạn.Vì đây là chuyện thật nên vào tháng 10 năm nay 2009, nếu các bạn tò mò muốn biết mặt những nhân vật từ trong tiểu thuyết bước ra cuộc đời, thì xin đến San Jose. Khóa chúng tôi họp mặt lần cuối, kỷ niệm 55 năm kể từ khi ra trường tháng 10 năm 1954.Sau này, có lẽ lực bất tòng tâm. Năm 2014 kỷ niệm 60 năm nhập ngũ, anh em chúng tôi sẽ tổ chức tại gia. Nhà ai nấy làm. Chỉ có thể mời cô Lan Hương đến dự. Vì cô gái sông Hương mãi mãi tuổi 20.

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |