TỔ QUỐC

2 August 2015

Lữ Giang: Nói với Hoàng Phủ Ngọc Tường


LƯU Ý: đ xem các videos trên youtube, xin quí v, quí bn vào google hay google chrome đánh ch ” trách nhim” trang web trachnhiem s hin ra, tđó chúng ta xem bài, xem videos trên youtube! Yahoo không xem phim đưc!!!
***


Lữ Giang
Nói với Hoàng Phủ Ngọc Tường
Hôm 26.7.2015, một độc giả có email là dien.nguyen44@… đã đưa lên diễn đàn hình Hoàng Phủ Ngọc Tường với lời ghi chú vắn gọn:
Giờ đây HP Ngọc Tường bị bại liệt. Y phải ngồi xe lăn, và cõi chết đã gần kề, Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể chối tội y đã giết đồng bào với chính lương tâm của y, y cũng không thể quên được những hình ảnh bi thảm của cuộc tàn sát ghê rợn, đẫm máu do chính y gây ra cho đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Trong phần đời ngắn còn lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường phải sống những ngày đêm u ám, sợ hãi, y sợ hồn ma, bóng quỉ, y sợ oan hồn của những kẻ đã bị y thảm sát gần 40 năm trước.”
Ảnh Hoàng Phủ Ngọc Tường – bại liệt –đến dự đám tang bà mẹ vợ.(Ảnh lấy trên Facebook)
Email vắn gọn này lại bắt chúng ta nhớ đến những thảm cảnh mà đồng bào ở Đà Nẵng và Huế đã phải chịu trong các cuộc bạo loạn tại miền Trung trước 1975, nhất là trong Tết Mậu Thân. Để đối phó với công luận, nhóm người gây ra những tai họa này thường dùng Vọng Ngữ để chạy tội, coi Vọng Ngữ như một pháp môn của đạo Phật, có thể đưa tới “giải thoát”! Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng tin như vậy, nhưng chạy trời không khỏi nắng.
BỊ CIA ĐẨY VÀO CON ĐƯỜNG CÙNG
Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh ngày 9.9.1937 tại Huế, nhưng quê ở Triệu Phong, Quảng Trị. Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ban Việt – Hán) năm 1960, về dạy ở trường Quốc Học Huế từ 1960 đến 1966. Khi CIA phát động phong trào Phật Giáo để lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm và đưa quân vào miền Nam, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những người đã tham gia rất tích cực.
Sau khi ông Diệm bị giết, một số các nhà lãnh đạo Phật Giáo tưởng rằng thời vận của Phật Giáo đã đến, nên đã phát động một phong trào đấu tranh bạo động để cướp chính quyền và hình thành một chính phủ do Phật giáo lãnh đạo, trong đó Phât giáo là quốc giáo và các tăng sĩ là quốc sư, gióng như dưới thời Lý Trần. Phong trào này đã lên tới cao điểm vào năm 1966 khi Phật Giáo đã cướp được chính quyền tại Đà Nẵng và Huế. Nhưng thực tế không dễ dàng như vậy.
Phong trào Phật Giáo tuy được trang bị bằng lòng cuồng tín tôn giáo và sự hận thù Thiên Chúa Giáo rất cao, nhưng lại thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo và thiếu kinh nghiệm… nên đã trúng kế của CIA!
Đọc lại các tài liệu ghi lại các biến loạn do các phong trào Phật Giáo gây ra lúc đó ở Sài Gòn, Đà Nẵng và Huế (trong đó có Bạch Thư của Hòa Thượng Tâm Châu), ai cũng thấy kinh hoàng. Đợi khi lòng cuồng tín tôn giáo lên đến cao độ và đưa tới biến loạn, và khi các đặc công cộng sản nằm vùng ẩn nấp trong các chùa ở Đà Nẵng như chùa An Long do Thích Minh Tuấn trụ trì và chùa Phổ Quang của Thích Từ Mẫn.., xuất đầu lộ diện dưới danh nghĩa “Lực Lượng Thanh Niên Phật Tử Cứu Quốc” và «Đoàn Thanh niên Phật tử Quyết tử»…, Mỹ mới bật đèn xanh cho hai Tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Ngọc Loan dẹp tan.
Ngày 20.5.1966, từ Huế Thượng Tọa Thích Trí Quang lên tiếng kêu gọi Tổng Thống Johnson can thiệp và đòi Tướng Kỳ phải từ chức ngay lập tức. “Lực Lượng Tranh Thủ Cách Mạng” yêu cầu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ ra tay, nếu không họ sẽ phá phi trường Đà Nẵng. «Quân đoàn Cách mạng Vạn Hạnh» đã được thành lập do Thích Minh Chiếu làm Tư lệnh và đặt Tổng hành dinh tại chùa Phổ Đà ở số 340 đường Phan Châu Trinh Đà Nẵng. Nơi đây đã trở thành nhà tù giam giữ, tra tấn và thủ tiêu những viên chức chính quyền, quân đội, công giáo, VNQDĐ… không theo “Cách Mạng”. Trưa 26.5.1966 đoàn biểu tình đã đốt cơ quan USIS, Phòng Thông tin và Thư viện Hoa Kỳ tại Huế, tiêu hủy khoảng 5.000 quyển sách. Ngày 1.6.1966, đoàn biểu tình đập phá Tòa Lãnh sự Mỹ tại Huế. Họ rãi truyền đơn đòi đưa Thích Trí Quang lên làm quốc trưởng và Trần Quang Thuận làm thủ tướng. Nhưng Tổng Thống Johnson tuyên bố ủng hộ Quân Lực VNCH và yêu cầu chính phủ và các tổ chức đấu tranh chấm dứt các cuộc xô xát “để chống Cộng và thực hiện dân chủ.”
Ngày 23.5.1966, khi Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân ly khai do Ðại Úy Nguyễn Thừa Du chỉ huy, rút ra khỏi Chùa Tỉnh Hội ở Đà Nẵng và trở về với QLVNCH, phong trào Phật Giáo đấu tranh cướp chính quyền bắt đầu suy yếu rồi tan rã dần.
Hiện nay, đã có hàng trăn bài và tài liệu ghi lại các biến cố nói trên, nhưng nhìn chung, chúng ta thấy vụ Đại tá Đàm Quang Yêu, Tư lệnh Biệt khu Quảng-Đà và Trung Đoàn Trưởng Trung đoàn 51 Bộ binh tuyên bố ly khai khỏi chính quyền trung ương và cho Ðại Úy Nguyễn Thừa Du dẫn Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng vào đóng ở Chùa Tỉnh Hội Đà Nẵng để bảo vệ Phật Giáo, vụ một số đơn vị thuộc Sư Đoàm 1 và Sư Đoàn 2 tuyên bố ly khai, vụ tướng Lewis Walt, Tư lệnh TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I, ngăn chận không cho không quân VNCH oanh kích quân ly khai ở Đà Nẵng… đều là những hành động có tính toán.
Khi tình hình đã chín muồi, Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch UBHPTƯ, lên các đài truyền thanh và truyền hình tuyên bố rằng cộng sản đã xâm nhập vào các phong trào tranh đấu ở miền Trung và cho biết sẽ dùng võ lực để tái lập an ninh tại Đà Nẵng. Ngày 14.5.1966, các tàu vận tải của Hoa Kỳ đã đưa 40 xe tăng và thiết vận xa đến Đà Nẵng. Ngày 15.5.1966, chính phủ gởi 5 tiểu đoàn Nhảy dù đến Quân đoàn I tăng cường cho Thủy Quân Lục Chiến. Chỉ trong một giờ, quân Nhảy dù đã tái chiếm Đài phát thanh Đà Nẵng...
Tất cả những biến cố nói trên đều do Tướng Lewis Walt, Tư lệnh TQLC Hoa Kỳ tại Vùng I đạo diễn. Mục tiêu của kịch bản này là biến phong trào đấu tranh Phật Giáo thành một phong trào bạo loạn và khủng bố, rồi viện lý do đó dẹp tan mà không bị dư luận quốc nội và quốc tế phản đối. Nói cách khác, CIA đã bày mưu để đẩy Phật Giáo Ấn Quang vào con đường cùng.
Bị thất bại một cách thê thảm, Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đã công khai đi theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Các cán bộ nồng cốt của nhóm này đã bỏ thành phố đi vào chiến khu theo Việt Cộng, chẳng hạn như Hoàng Phủ Ngọc Tường (dạy học), Hoàng Phủ Ngọc Phan(SV Y Khoa), Nguyễn Đắc Xuân (SV Đại Học Sư Phạm), Trần Quang Long (SV Đại Học Sư Phạm), Lê Minh Trường (Sinh Viên Mỹ Thuật), Huỳnh Sơn Trà (SV Y Khoa), Nguyễn Văn Sơ (SV Đại Học Sư Phạm), Ngô Yên Thi (SV Văn Khoa), Trần Bá Chữ (SV Đại Học Sư Phạm), Nguyễn Thị Đoan Trinh (sinh viên Dược)… v.v. Đa số còn lại bị cơ quan an ninh VNCH bắt giữ, một số ẩn trốn trong quần chúng.
TỪ TỘI ÁC NÀY ĐẾN TỘI ÁC KHÁC
Báo chí và sách vở đã viết quá nhiều về những tội ác mà đảng CSVN đã gây ra trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968, đặc biệt là các thành phần thuộc Giáo Hội Ấn Quang đã bỏ vào chiến khu năm 1966 nay trở lại để sát hại đồng bào, trong đó có 4 tên được chú ý nhất là Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân vàNguyễn Thị Đoan Trinh.
Có lẽ cuốn sách tóm lược đầy đủ hơn cả về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế là cuốn “The Vietcong Massacre at Hue” (Cuộc thảm sát của Việt Cộng ở Huế) của bà Bác Sĩ Elje Vannema xuất bản năm 1976. Bà là người có mặt ở Huế khi biến cố xẩy ra. Lời tường thuật của các nhân chứng khác, Việt Nam cũng như ngoại quốc, cũng đã giúp chúng ta thấy rõ hơn sự dã man của cuộc thàm sát này.
Theo tài liệu, khi Cộng quân tấn công vào Huế, có đem các đại đội đặc công, võ tranh tuyên truyền và các toán an ninh. Hoạt động về an ninh được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Minh, Phụ tá Bộ Tư Lệnh Quân Khu kiêm Trưởng Ban An Ninh Quân Khu. Trụ sở chính của Ban An Ninh được đặt tại Chùa Từ Đàm. Chỉ huy các toán an ninh là Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy (tự là Bảy Khiêm) thuộc Khu Ủy Trị Thiên. Tồng Hoàng Nguyên đã giao cho Nguyễn Đắc Xuân và Hoàng Phủ Ngọc Tường phụ trách khu Gia Hội.
Nguyễn Đắc Xuân thành lập “Đoàn Quân Nhân Sư Đoàn 1 ly khai” và “Đoàn Nghĩa Binh Cảnh Sát” để dụ các quân nhân và cảnh sát VNCH ra trình diện, rồi sau đó đưa đi thủ tiêu.
Trường Trung Học Gia Hội của Dòng Mai Khôi (Phú Xuân) được dùng làm nơi giam giữ và xét xử các thành phần bị coi là Việt gian hay phản động. Theo bà Bác sĩ Elje Vannema, các phiên tòa ở đây đều do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa.
Bà Elje Vannema là người Hà Lan, sinh năm 1932 và tốt nghiệp y khoa tại trường McGill University Medical School ở Canada năm 1962. Bà đã dến hoạt động y tế ở Huế từ 1965 đến 1968, có mặt tại Huế trong biến cố Tết Mậu Thân, nên đã tường thuật khá đầy đủ trong cuốn “The Viet Cong Massacre at Hue” dày 212 trang, xuất bản năm 1976. Bà đã ghi lại các việc làm của Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân như sau:
"Dân chúng hiện diện khá đông tại các phiên tòa ở Tu viện, ở Gia Hội bên kia cầu và ở trong thành. Tòa án ở Tu viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ trì. Anh này tốt nghiệp đại học Huế và là cựu lãnh tụ sinh viên trong Ủy Ban Phật Giáo chống chính quyền trước đây.Cầm đầu ở Gia Hội là Nguyễn Ðắc Xuân, trước kia là một liên lạc viên cộng sản nay đột nhiên lại xuất hiện. Tòa trong thành do hai sinh viên Nguyễn Ðọc và Nguyễn Thị Ðoan (Trang) điều khiển. Các phiên tòa vang lên những lời đe dọa với khẩu hiệu tuyên truyền, kết tội, qui chụp. Hầu hết những người bị lôi ra tòa chẳng biết lý do mình bị bắt. Nhưng tất cả đều bị kết tội, một số bị tử hình tức khắc…”
Bà Elje Vannema cho biết đã kiểm kê được qua 22 mồ tập thể với số nạn nhân bị Cộng quân giết là 2.326 người. Riêng tại trường Gia Hội, nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân điều hành, có 203 người bị giết. Người đi bắt và bắn chết là tên Linh (Diệu Linh), người Quảng Ngãi làm nghề thầy bói, khoác áo Việt Nam Quốc Dân Đảng Thừa Thiên.
THẦN KHẨU BUỘC XÁC PHÀM!
Từ 1963 đến nay, những người thuộc giáo phái Phật Giáo Ấn Quang, dù theo Việt Cộng hay chống Cộng, dù ở trong hay ngoài nước, cũng thường coi VỌNG NGỮ như con đường giải thoát. Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng thế.
Nguyễn Đắc Xuân khẳng định rằng trong suốt thời gian xảy ra biến cố Mậu Thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở chiến khu tại địa đạo Khe Trái trong vùng núi phía tây huyện Hương Trà để làm công việc của Mặt Trận Giải Phóng, cho nên chuyện Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia tàn sát là điều bịa đặt. Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường nói:
"Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào "vụ" Mậu Thân Huế. Đúng Mậu Thân đã trở thành một bi kịch đời tôi! Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu, thế thôi!"
(Báo Công An Nhân Dân online: Sự thật về 3 nhân vật bị kẻ thù gọi là "đồ tể khát máu")
Nhưng tục ngữ Việt Nam có câu “Thần khẩu buộc xác phàm”, chính lời tuyên bố của chính Hoàng Phủ Ngọc Tường sau đó lại trở thành bằng chứng buộc tội anh ta. Trong cuộc phỏng vấn của đài PBS năm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói:
Nói riêng về những người bị giết thì trong số đó tất nhiên có một số là do du kích cách mạng. Khi chúng tôi vào nhà để gọi họ ra thì họ bắn trả đến cùng; họ bắn đến độ có những chiến sĩ của chúng tôi đã bị thương; khi đó chúng tôi phải bắn trả khiến những người đó bị chết tại chỗ. Trong trường hợp đó có một viên Phó tỉnh trưởng của Huế...
Trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Burchett và đoàn làm phim Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình tại Huế năm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường xác nhận chính mình là chứng nhân của biến cố Tết Mậu Thân tại Huế 1968, nhưng cho rằng thủ phạm vụ tàn sát đó là Mỹ - Ngụy chứ không phải Đảng CSVN! Xin mời quý vị lắng nghe:

Hung Thần HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG Dối Trá Về Vụ Thảm Sát Huế Mậu Thân 1968.FLV

Hỏi: Ông có thể mô tả biến cố nổi dậy ở Huế, đặc biệt liên quan đến vụ thảm sát. Ở đây. Xin đề nghị ông trả lời cho biết những gì xảy ra bấy giờ ở Huế, có những vụ trả thù, đàn áp?
Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Ông muốn nói đến vụ thảm sát Mậu Thân ở Huế? Đó là một chiến công vĩ đại của nhân dân Huế. Nhưng nhân dân Huế đã phải trả một giá đắt cho chiến thắng này. Đó là là một sự trả thù chưa từng thấy của Mỹ và ngụy sau đó. Vì thế nhân dân Huế đã phải trả giá đắt nhất so với các thành phố khác của chúng tôi. Cũng chỉ vì ở đây người Mỹ đã chịu sự tổn thất nặng nề về sinh mạng, về vật chất và chính trị tại Huế…
Bởi vì tội ác do Mỹ tạo ra được toàn thể thế giới bên ngoài quan tâm, chúng chuyển tất cả tội ác của chúng và đổ lỗi cho những người làm cách mạng chống lại nhân dân của họ. Tôi ám chỉ việc chúng đã dùng vụ thảm sát như một bửu bối đặc biệt để bôi nhọ cách mạng Việt Nam trong cuộc hòa đàm Paris.
Đây là điều tôi muốn nêu rõ vì tôi biết như là một chứng nhân.”
Những lời tuyên bố này cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt tại Huế trong Tết Mậu Thân, nhưng cũng như các thành phần đấu tranh khác của Giáo Hội Ấn Quang, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đổ tội cho Mỹ - Ngụy để “giải thoát” cho mình. Nhưng Kinh Pháp Cú có dạy: “Khi nghiệp ác chưa thành thục, kẻ ác cho là vui, đến khi nghiệp ác thành thục rồi kẻ ác mới hay là ác.
Có lẽ lúc này “nghiệp ác thành thục rồi”, nên người ta đã tìm thấy trong thơ của Hoàng Phủ Ngọc Tường những câu:
Những chiều Bến Ngự giăng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang
(Địa chỉ buồn)
Hay:
Nợ người một khối u sầu
Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi
(Về chơi với cỏ).
Không phải đợi đến "ngày sau luân hồi" đâu, chính trong kiếp này, Hoàng Phủ Ngọc Tường, những kẻ tôn thờ Vọng Ngữ trong Giáo Hội Ấn Quang và chính Giáo Hội này cũng đã phải trả rồi.
Ngày 30.7.2015
Lữ Giang



1 August 2015

Tướng chán đời:Tìm người đi lạc

Tìm người đi lạc

Đây là một đoạn nhắn tin tìm người đi lạc đọc được trên một tờ báo trong nước hồi tuần trước. Những dòng chữ này làm người ta nhớ ngay tới những đoạn nhắn tin tìm trẻ lạc trên báo chí Sài Gòn hồi trước năm 1975. Đại khái là sau mấy dòng mô tả người muốn tìm như vóc dáng, dung mạo với những nét đặc biệt, tuổi tác, quần áo mặc lúc ra đi, đoạn cuối bao giờ cũng là một hai lời hứa là muốn gì, gia đình cũng chiều theo, ai gặp, xin dẫn về địa chỉ nhà đương sự sẽ được hậu tạ, cam đoan không làm khó dễ, hệt như chủ của những con chó bị trộm sẵn sàng trả tiền chuộc “no question asked.”
Đoạn nhắn tin tìm người đi lạc đó nguyên văn như thế này:
Đàn ông, dáng người hơi lùn, mặt giống mặt lợn, 66 tuổi. Bị bệnh tâm thần, nên tin chắc mình là Chệt, xưng tên là FENG GUANG SHENG, chỉ nói tiếng Tầu tuy là người Việt 100%, luôn luôn nhận cha là Mao Ze Tung.
Khi đi lạc mặc quần áo kiểu hát bộ Hồ Quảng, trong túi có một số tiền nhân dân tệ nhờ bán được một ít nước. Lạc ở Paris, thủ đô Pháp từ hơn một tháng nay không tin tức gì, có tin nói là đã chết.
Anh FENG GUANG SHENG ơi, anh ở đâu về ngay, cả nhà rất tâm tư (chữ của anh đấy). Gia đình rất cần anh. Thằng Hải (Feng Guang Hai) con chúng ta đớp chưa đủ no. Anh không về, tài sản tham nhũng mà nó vồ được chắc khó mà giữ được. Chắc em phải đi bán bánh bò bánh tiêu để sống quá. Thà trốn sang Trung quốc làm ăn mày chó còn đỡ khổ hơn.
Anh sống khôn thì tìm đường về nhà còn nếu chết thiêng thì cũng báo mộng cho em và con.
Ông bà ai thấy chồng cha, anh của chúng tôi ở đâu thì đưa giúp về nhà, chúng tôi xin đền ơn một bữa cơm lạ (cơm Tầu). Xin đừng giết, để lò heo Chánh Hưng giết đẹp hơn.
Anh FENG GUANG SHENG, anh về nhà ngay, anh muốn gì cũng được. Muốn là Chệt cũng được, cụ Xi Jiinping (Tập Cận Bình) sắp sang chơi, anh nên về đón cụ cho phải phép lại thuận lợi cho việc bán nước của anh.
Vợ anh: Roan Si Lu (Nguyễn Thị Lộc).
Con trai: Feng Guang Hai (Phùng Quang Hải) đại tá, bí thư đảng ủy, chủ tịch HĐTV Tổng Công Ty 319 bộ Quốc Phòng Việt Nam.
Em gái: Fen Shui Lian (Phùng Thùy Liên) Phó Tổng Biên Tập báo Công An Nhân Dân.
Tôi đọc đi đọc lại mấy lần mà không sao đoán ra tên Việt Nam của đương sự là thằng chó gì. Chán thật.
 Bùi Bảo Trúc
--

Phùng Quang Thanh qui cố
Babui
Vùng hạ cánh an toàn của đồng rận và đồng  chí Thanh heo
Đảng sắp xếp Thanh qui cố quốc

                                             sau chuyện dài nhiều tập đi Tây

                                                mổ khối u, thực hư ai biết?

                                            chuyện thâm cung bí sử ba đình 


                                             Nội bài đón chẳng cờ chẳng quạt

                                             áo mão đâu rồi? đại tướng quân

                                            ngựa, xe, pháo, chốt, nào ai thấy!
                                                 chỉ tiếng vo ve của nhặng ruồi 


                                               Đâu rồi cảnh ôm hôn thắm thiết
                                           cùng muỗi mòng báo chí lăng quăng
                                                  may mà có thằng photoshop
                                                làm thiên lôi tay búa, tay liềm

                                                   Ba hồn chín vía Phùng Tượng Đái
                                                     hú to lên đã mất hay còn
                                               để Tàu cúng xiêm y vàng mã
                                                  tha hồ xài nơi cõi âm ty!

Khi bọn đầy tớ bức xúc


Niềm Uất Hận của Đại Tướng Phùng “Tâm Tư”
Phùng Trư thôi đã thôi rồi,


Thân bại, danh liệt bồi hồi ngẩn ngơ.


Lên voi, xuống chó như mơ,


Cơ trời thoắt đổi,… ầu ơ… đắng lòng?!
Phùng Trư quê ở Mê Linh,


Anh hùng quân đội tuổi vừa đôi mươi.


Nghĩ Trư đã chuyển kiếp người,


Than ôi, vẫn nết đười ươi vốn là.
Càng già nét lợn càng sâu,
Mặt phì, môi vẩu, mắt heo lõa lồ.
Mong Trư làm tướng hộ dân,
Nào ngờ Trư cúi luồn trôn, hại nhà!
Phùng Trư lạy Khựa làm cha,
Thờ Tàu làm bố, nhận Trung Hoa làm thầy?!?
Tiếng dân ai oán lên mây,
Hai lằn chớp giật giáng đày Phùng Trư.
Ngỡ rằng lên… Tổng Bí thư???
Hận rằng nay đã làm Trư ăn mày!
Ngỡ ngôi cửu phẩm trong tay?
Hận rằng nay bãi… tha ma gần kề!
Lòng dân, sĩ khí hả hê,
Hận nay hứng chịu ê chề mỉa mai!
Phùng Trư mắt lệ lăn dài,
Hận này mang xuống tuyền đài không tan!!!
Thương thay, Phùng Trư Hán nô,… (Fú Trọng Lú)

-----
 

Nguyễn Phú Trọng đi Mĩ: Đồng sàng dị mộng, mượn gió bẻ măng

Nguyễn Phú Trọng đi Mĩ: Đồng sàng dị mộng, mượn gió bẻ măng
Con đường của chúng ta, những người dân chủ vững bước tiến lên

* Tương quan mật thiết giữa ngoại giao với nội trị
* Tại sao chỉ chống hậu quả nhưng vẫn muốn giữ nguyên nhân?
* Chủ thuyết đối ngoại của Thổng thống Obama ở châu Á-Thái bình dương
* Vì sao hiện nay Nguyễn Phú Trọng phải đề ra sách lược “hòa với Mĩ” để cứu phe bảo    
  thủ giáo điều ?
* Đồng sàng dị mộng và mượn gió bẻ măng!
* Những sự kiện đáng chú ý sau chuyến đi Hoa kì của Nguyễn Phú Trọng
* Con đường của chúng ta, những người dân chủ hãy vững bước tiến lên!

TS.Âu Dương Thệ

“Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích, làm sáng tỏ thêm một số diễn biến cơ bản của tình hình trong nước và thế giới; khẳng định đây là một Hội nghị rất quan trọng và cần thiết, được tổ chức do đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ công tác bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới. Vấn đề mấu chốt là phải quán triệt sâu sắc và chỉ đạo tổ chức thực hiện quyết liệt những nhiệm vụ, giải pháp mà Chỉ thị của Bộ Chính trị đã đề ra. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt các bộ, ban, ngành, địa phương, trước hết là người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Chỉ thị, tạo chuyển biến thực sự về nhận thức và hành động trong công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, chuẩn bị và tiến hành thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội lần thứ XII của Đảng./.”
Trên đây là chỉ thị của Nguyễn Phú Trọng tại „ Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới“ được tổ chức rất vội vã sau chuyến đi Mĩ. Ngoài ông Trọng chỉ có Trương Tấn Sang và Lê Hồng Anh, nhưng vắng Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Sinh Hùng.   
***
Tương quan mật thiết giữa ngoại giao với nội trị
Khi hoạch định chiến lược đối ngoại có những khác biệt căn bản giữa một chính quyền dân chủ văn minh với chính quyền một chế độ độc đảng toàn trị. Vì mục tiêu chính sách đối ngoại của hai chế độ này hoàn toàn khác với nhau. Chế độ dân chủ đa nguyên đặt ưu tiên bảo vệ quyền lợi quốc gia và các lợi ích căn bản của nhân dân. Trong khi đó chế độ toàn trị đặt thượng tôn cho quyền lợi của đảng, làm sao để đảng có thể vượt qua các khó khăn để độc quyền cai trị tiếp. Nhiều khi nếu sự kình chống nhau giữa các phe phái trong đảng quá lớn thì các phe nhóm sẵn sàng chuyển hướng ngoại giao để bảo vệ quyền lợi riêng của từng phe.
Lịch sử hai ĐCSVN và ĐCS Trung quốc đã chứng minh điều này. Sau khi  Mao Trạch Đông mất (1976) hai phe Đặng Tiểu Bình và “Tứ nhân bang” (bè lũ bốn tên) do vợ Mao, Giang Thanh và vây cánh giành giựt quyền lực quyết liệt, gây phân hóa trầm trọng trong ĐCS Trung quốc. Để củng cố quyền lực Đặng Tiểu Bình đã tìm cách ngả theo Mĩ và từng tuyên bố Trung quốc sẽ làm NATO ở phương Đông chống Liên xô, rồi đánh VN đang là đồng minh của Liên xô ở phương Đông. Khi ấy TT Mĩ Carter đã trải thảm đỏ tiếp họ Đặng mặc dầu ông chỉ là Phó Thủ tướng.
Còn tại VN vào thời kì cuối thập niên 50 của Thế kỉ trước phe Lê Duẩn quyết dùng võ lực để chiếm miền Nam thay vì “Chung sống hòa bình” với Hoa kì như Chrutschew, thủ lãnh Liên xô và lãnh tụ thế giới CS. Nên Lê Duẩn đã quay đầu về Bắc kinh, ca ngợi Mao là Lenin của phương Đông, đồng thời cô lập Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và dựng lên vụ án chống “Nhóm xét lại trong đảng”.
Những người làm công tác trong khoa học chính trị, đặc biệt những nhà hoạt động chính trị, cần phải nắm vững sự khác biệt quan trọng này và những mưu đồ quyền lực của các phe phái trong ĐCSVN hiện nay để nhận rõ đâu là hình hài thực sự và đâu chỉ là bóng dài trước ánh đèn của sân khấu tuyên truyền.
Một kế hoạch đối ngoại có khi chỉ để phục vụ mục tiêu đoản kì trước mắt, nhưng cũng có thể là mục tiêu trung hạn và đài hạn. Tuy nhiên nhiều khi lúc đầu một kế hoạch đối ngoại chỉ tính đoản kì, nhưng do những biến động lớn cả trong lẫn ngoài nước làm thay đổi cơ bản tương quan lực lượng, khiến cho mục tiêu đối ngoại đoản kì có thể trở thành dài hạn. Lịch sử chính trị cận đại cũng đã từng diễn ra nhiều lần các khả năng này. Sau Thế chiến thứ hai Đức và Nhật đã bắt buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại, từ là những tử thù trở thành thân Hoa kì. Tiếp đó trước sự đe dọa trực tiếp của Liên xô, các lực lượng dân chủ ở Đức và Nhật đã nắm được đa số chuyển hai nước thành chế độ dân chủ đa nguyên như ở Mĩ và nhiều nước Tây Âu. Nhờ thế các xã hội Hoa kì, Đức và Nhật đã có những tương đồng giá trị lớn về hệ thống tư tưởng và cấu trúc xã hội, từ đó các quốc gia này trở thành bạn và đồng minh chiến lược từ 70 năm qua. 30 năm trước đây khi Gorbatschow thay đổi sách lược đối ngoại với Mĩ và Tây Âu, đặc biệt với nhiều nước chư hầu ở Đông Âu qua việc từ bỏ chủ thuyết của Breschnew can thiệp bằng võ lực vào các nước này. Sau đó khi Liên xô rơi vào khủng hoảng nội bộ trầm trọng, nên nhân dân nhiều nước Đông Âu biết lợi dụng thời cơ, đứng lên đấu tranh tách nhanh ra khỏi khu vực ảnh hưởng của Liên xô và trở thành những nước Dân chủ đa nguyên.
Nhưng cũng có những kế hoạch ngoại giao bề ngoài tưởng như có thay đổi lớn và toàn diện, nhưng thực sự chỉ là mưu kế dương đông đánh tây, hòa hoãn tạm thời đối với bên ngoài cũng như trong nước. Như hai trùm độc tài Hitler và Stalin đã kí Thỏa hiệp mật Bất can thiệp (1939), nhưng chỉ ít năm sau Hitler đã cho mấy trăm ngàn quân tính xâm chiếm Liên xô.
Lịch sử cận đại VN cũng đã diễn ra một số lần tương tự. Gần cuối Thế chiến thứ hai Nhật chiếm Đông dương của thực dân Pháp, nhưng sau đó thua trận, VN rơi vào khoảng trống chính trị. Nhóm CS của Hồ Chí Minh đã biết lợi dụng tình thế tổ chức biểu tình mở ra „Cách mạng tháng 8“ để „cướp chính quyền“ cuối tháng 8 đầu tháng 9. 1945. Nhưng chính quyền non trẻ của Hồ Chí Minh phải đối diện với 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch tiến vào Bắc VN để giải giới quân Nhật và các chính đảng không CS đang hoạt động trở lại. Trước tình thế lưỡng nan này Hồ Chí Minh đã đưa ra sách lược ngoại giao „Hòa với Tưởng“ để giệt đối thủ chính trị trong nước bằng các thủ đoạn mua chuộc các tướng Tầu tham nhũng, kể cả biếu nhiều kí vàng sau “tuần lễ quyên vàng“  để các tướng Tầu như Lư Hán, Tiêu văn, Trương Phát Khuê… nhắm mắt làm ngơ cho Hồ Chí Minh thẳng tay đàn áp các chính đảng và chính trị gia không CS.
Tiếp đó trước khi sang Pháp đàm phán để tìm cách hòa hoãn với Pháp ở Đông dương Hồ Chí Minh đã căn dặn các đồng chí thân cận nhất phải nắm vững sách lược ngoại giao „Dĩ bất biến, ứng vạn biến“ [mọi thay đổi phải phục vụ mục tiêu duy nhất là giữ vững chính quyền cho đảng]. Cho nên trong thời gian Hồ Chí Minh đàm phán ở Pháp các đồng chí của ông đã thẳng tay  đàn áp các chính đảng và sát hại các chính trị gia không CS. Tàn bạo nhất là vụ bắt giam và thủ tiêu nhiều lãnh tụ và cán bộ nhiều chính đảng tại phố Ôn Như Hầu ở Hà nội (ngay là phố Nguyễn Gia Thiều) 7.1946.  Từ đó đến nay suốt trên 70 năm những người cầm đầu CSVN qua nhiều thế hệ vẫn ca tụng các thủ đoạn và quỉ kế hòa với ngoại thù để giệt nội thù „Dĩ bất biến, ứng vạn biến“  là sách lược ngoại giao khôn ngoan, là bửu bối hay đũa thần và được dùng lại mỗi khi gặp tình thế ngặt nghèo!
Vì vậy những nhà hoạt động chính trị dân chủ cần nắm vững thông tin, phân tích sâu sắc và nhận thức rõ ràng để biết ý định thực sự, các ý đồ thầm kín trước những thay đổi sách lược đối ngoại của các phe nhóm trong Bộ chính trị và Trung ương đảng chế độ toàn trị….Có nắm vững được như vậy thì mới biết rõ thời cơ, triển khai những thuận lợi và ngăn ngừa những khó khăn…

Chủ thuyết đối ngoại của Tổng thống Obama ở châu Á-Thái bình dương
Sách lược vung tay quá trán của TT Bush (Bush con), chỉ dùng quân sự mở các cuộc chiến tranh ở Irak và Afghanistan đã khiến Mĩ bị sa lầy ở Trung đông, tổn phí hàng vạn sinh mạng và hàng ngàn tỉ Mĩ kim. Khiến cho vị thế siêu cường cả về quân sự lẫn kinh tế của Hoa kì chỉ trong vòng một thập niên bị lung lay.
Trong khi ấy lợi dụng sự sa lầy ở Trung đông, suy thoái kinh tế trầm trọng và mất uy tín trên thế giới của Hoa kì, Bắc kinh đã vươn lên rất nhanh trở thành cường quốc kinh tế thứ hai chỉ sau Mĩ. Hàng hóa Trung quốc tràn ngập thị trường Mĩ và thế giới, đồng thời Mĩ còn trở thành con nợ lớn của Trung quốc! Nhóm cầm đầu Bắc kinh không thỏa mãn mà còn nuôi mộng bá quyền mở rộng ảnh hưởng trên toàn thế giới, đặc biệt ở Đông á, Đông nam á và Á châu, bằng các sức mạnh mềm kinh tế, tài chánh, điệp viên và bằng cả quân sự, như tăng cường không quân và hải quân biến các đảo ở biển Đông thành cái ao của Trung quốc. Chính sách này đe dọa không chỉ trước mắt mà còn dài hạn cho vai trò siêu cường của Mĩ và các đồng minh của Mĩ ở châu Á.
Các nhà lập chiến lược đối ngoại và an ninh của chính phủ Mĩ thời Obama đã nhìn thấy rõ các nguy cơ cực kì nguy hiểm đe dọa quyền lợi sinh tử trước mắt cho Mĩ. Cho nên sau khi rút quân khỏi các chiến trường Trung đông. Từ đầu thập niên thứ hai của Thế kỉ này TT Obama và cựu ngoại trưởng bà Clinton đã đưa ra học thuyết „Quay trục sang châu Á-Thái bình dương“.
Do vị trí địa lí chiến lược đặc biệt nên VN với bờ biển dài 3000 cây số, hai quần đảo Hoàng sa và Trường gia nằm trực diện và không xa trên biển Đông dọc theo bờ biển của VN đang bị Bắc kinh chiếm đóng biến thành các căn cứ quân sự đe dọa trực tiếp đường hàng hải quốc tế rất quan trọng. Nên trong sách lược mới „Quay trục sang châu Á-Thái bình dương” của Hoa kì VN trở thành một trọng điểm chiến lược.
Trung quốc với trên 1.300 triệu dân, theo chế độ CS và lại nuôi tham vọng bành trướng với khẩu hiệu „Thực hiện giấc mơ vĩ đại của Trung quốc“ do chính Tập Cận Bình đề ra. Điều này giống như Liên xô sau Thế chiến thứ hai và còn nguy hiểm hơn Liên xô cũ vì Trung quốc có dân số đông nhất thế giới. Vì vậy Obama muốn thực hiện sách lược bao vây và ngăn đe Trung quốc như chủ thuyết Containment policy của TT Mĩ Truman, bao vây và ngăn đe Liên xô sau Thế chiến thứ 2. Điểm mấu chốt trong sách lược „Quay trục sang châu Á-Thái bình dương“ là Hoa kì không làm thay những gì các nước châu Á có thể tự làm được. Hoa kì chỉ giữ vai trò chiến lược là phối hợp, ủng hộ chính trị, kinh tế, quân sự và dùng cái dù nguyên tử để bảo vệ các đồng minh và các nước thân hữu ngăn chặn những chủ trương phiêu lưu của Bắc kinh.

Vì sao lúc này Nguyễn Phú Trọng phải đề ra sách lược “hòa với Mĩ”
để cứu phe bảo thủ giáo điều ?
Muốn hiểu lí do này cần nắm vững các biến chuyển chính của chế độ toàn trị từ sau 1975. Từ khi nạn đói khủng khiếp kéo dài, lại phải đương đầu cuộc chiến ở phía Bắc và sa lầy ở Kambodscha, tiếp đến sự tan dã của Liên xô, chế độ toàn trị của CSVN rơi vào hoàn cảnh cực kì hiểm nghèo như sợi chỉ treo ngàn cân. Vì thế để cứu đảng nên từ cuối thập niên 80 họ bề ngoài phải đưa ra chiêu bài “đổi mới”, nhưng vẫn giữ đất đai là tài sản của nhà nước, đồng thời lại vội vàng đưa ra chủ trương Kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó các Doanh nghiệp nhà nước nắm vai trò chủ đạo. Với mục tiêu là sử dụng khu vực Kinh tế nhà nước làm phương tiện kiểm soát toàn bộ nền kinh tế tài chánh và qua đó chỉ huy và kiểm soát tất cả các lãnh vực đời sống của nhân dân và nhờ thế vẫn giữ được độc quyền cho đảng. Nghĩa là đảng vẫn nắm độc quyền phần chính các sinh hoạt kinh tế-tài chính. Các Doanh nghiệp nhà nước không chỉ được ưu đãi tiền bạc của nhà nước, đất đai, nhà cửa mà còn giành độc quyền sử dụng các công trình ODA với nhiều tỉ Mĩ kim viện trợ và vay với lãi suất rất thấp của các nước ngoài. Các cán bộ có quyền lực, tuy không có khả năng chuyên môn, được cất nhắc vào các ban điều hành và giám đốc các Doanh nghiệp nhà nước và được hưởng lương bổng cao cùng các đặc quyền đặc lợi.
Dưới chế độ độc đảng lại không có cơ chế kiểm soát độc lập, nên không bao lâu các tổng công ti của Doanh nghiệp nhà nước dưới chế độ toàn trị đã trở thành ổ nuôi tham nhũng cho các cán bộ cho chức quyền từ trung ương tới địa phương. Dưới nhiệm kì thứ hai làm Tổng bí thư của Nông Đức Mạnh nhiều Ban Trung ương của đảng đã bị giải tán, trong đó có cả Ban Kinh tế trung ương, giao cho Chính phủ. Đúng vào lúc này Nguyễn Tấn Dũng trở thành Thủ tướng (2006) và thực hiện chủ trương mở rộng các Tổng công ti thành các Tập đoàn kinh tế nhà nước và hô hoán sẽ biến các Tập đoàn kinh tế thành những “quả đấm thép” cho chế độ toàn trị!
Nhưng hiện nay chỉ trong vòng gần một thập niên, thay vì là những quả đấm thép bảo vệ chế độ toàn trị, các Tập đoàn kinh tế nhà nước trở thành quả đấm thép của riêng Nguyễn Tấn Dũng và các bộ trong chính phủ, cũng như các cơ quan nắm kinh tế, tài chánh ở các thành phố và tỉnh trong toàn quốc.  Các cán bộ có chức quyền đã lợi dụng độc quyền để lộng quyền tham nhũng, làm giầu bất chính rất nhanh và rất lớn. Điển hình như các vụ Vinashin, Vinalines, PMU 18…. làm thất thoát và phí phạm tài sản của nhà nước hàng trăm ngàn tỉ đồng. Các đại quan đỏ từ Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh……đã lợi dụng quyền lực thu vén cho bản thân, gia đình và vây cánh. Vì thế một số người khi về hưu sống trong những biệt thự nội thất trang trí nguy nga như thời vua chúa.
Hiện nay hệ thống của bọn quan tham nhũng từ trung ương tới địa phương đã kết nối với nhau thành những nhóm lợi ích, đang dùng sức mạnh của đồng tiền và quyền lực thành những quả đấm thép đánh phá ngay trong nội bộ đảng, những ai không theo vây cánh hay chống lại họ. Chính Nguyễn Phú Trọng cũng đã phải chẩy nước mắt mấy lần!
Trước và trong khi đi Hoa kì ông Trọng đã để cho ban Tuyên giáo dưới quyền ủy viên Bộ chính trị Đinh Thế Huynh –ngôi sao chính trị lớn- mở mặt trận tuyên truyền hạch tội các Nhóm lợi ích.  Ủy viên Trung ương đảng kiêm Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo trung ương Vũ Ngọc Hoàng đã viết liên tiếp nhiều bài tố cáo nghiêm khắc tư duy ích kỉ “lợi ích nhóm” của các “nhóm lợi ích” đang lộng hành bòn rút tài sản quốc gia và phá hoại đảng. Các bài này đã được các tờ điện tử CS, Tạp chí CS, Tuổi trẻ và nhiều cơ quan báo chí khác phổ biến rộng rãi. Tuy không trực tiếp nêu tên Nguyễn Tấn Dũng, nhưng lời chỉ trích của ông lại chĩa chính vào người cầm đầu chính phủ …
“Người có tiền sẽ có quyền lực và người có quyền lực sẽ có tiền. Họ cùng nhau hành động để có quyền lực và có tiền ngày càng nhiều hơn. Đồng tiền cộng với quyền lực tạo thành sức mạnh khống chế, lũng đoạn tổ chức và xã hội. Nhận thức sự quan trọng của thông tin, “nhóm lợi ích” còn móc nối, “kết nạp”, kết hợp với một số nhóm truyền thông không lành mạnh để tác động chi phối dư luận theo hướng có lợi cho “nhóm lợi ích” và xuyên tạc vu cáo những người, những doanh nghiệp không cùng nhóm để tranh quyền lực và lợi ích. “Lợi ích nhóm” sẽ kéo theo và song hành với tham vọng quyền lực cùng với tham vọng tiền bạc.”
Đoạn trên đây Vũ Ngọc Hoàng đã ám chỉ dư luận cho là Blog Chân dung quyền lực do cánh Nguyễn Tấn Dũng đứng đằng sau, trước và trong Hội nghị trung ương 10 (1.15) đã đăng hàng loạt bài bôi xấu Nguyễn Phú Trọng và nhiều ủy viên Bộ chính trị,  vì thế đã gây tác động làm điêu đứng và tê liệt cho phe Nguyễn Phú Trọng tại cuộc bỏ phiếu tín nhiệm trong Hội nghị trung ương 10. Trong khi Nguyễn Tấn Dũng về đầu thì Nguyễn Phú Trọng lẹt đẹt gần đội sổ!  
Theo Vũ Ngọc Hoàng, cách làm ăn và mưu đồ của các Nhóm lợi ích trong đảng hiện nay chính là “CNTB thân hữu còn có các cách gọi khác nhau, là “CNTB lợi ích”, “CNTB bè phái”, “CNTB bè cánh”, “CNTB lũng đoạn”.  Từ đó Vũ Ngọc Hoàng đã kết án là hoạt động của các “nhóm lợi ích” nhất định sẽ dẫn tới làm „chệch hướng khỏi mục tiêu xã hội chủ nghĩa chân chính”!
Mặc dầu sự hình thành và ngày càng lộng quyền của các nhóm lợi ích ngay trong đảng đã được Nguyễn Phú Trọng nhìn nhận và tố cáo công khai  trong nhiều Hội nghị trung ương từ khi lên làm Tổng bí thư đầu 2011. Nhưng ông Trọng đã tránh né không dám nói tới nguyên nhân dẫn tới tình trạng này. Là người cực kì bảo thủ giáo điều, dù không biết thế kỉ này có đưa đất nước tiến vào XHCS hay không, nhưng cả trong Cương lĩnh chính trị 2011 và Hiến pháp 2013 ông vẫn ngang ngạnh giữ nguyên Điều 4 giành độc quyền cho ĐCS, giữ nguyên “đất đai là thuộc công hữu” và duy trì hệ thống Kinh tế nhà nước. Nghĩa là ông Trọng không dám nhìn thẳng vào sự thật: Sự tham nhũng và thoái hóa đạo đức của  cán bộ và sự bùng nổ của các „Nhóm lợi ích“ là do độc quyền của đảng!

Không những thế, Nguyễn Phú Trọng còn tăng cường gắn bó với Bắc kinh, từng tuyên bố “tình hình biển Đông không có gì mới”, mặc dù Bắc kinh đã chiếm đóng các đảo của VN và đang biến biển Đông thành cái hồ của Trung quốc. Ông Trọng còn mở rộng hợp tác chiến lược với Trung quốc kể cả quốc phòng và an ninh, cũng như chỉ đàm phán song phương với Trung quốc và chống lại quốc tế hóa tranh chấp biển Đông. Thanh niên, nhân sĩ biểu tình chống Bắc kinh bành trướng bị đàn áp.  Trí thức, chuyên viên và đảng viên tiến bộ gởi kiến nghị cảnh báo các chính sách sai lầm trong đối nội và chủ trương phiêu lưu với Trung quốc thì bị Nguyễn Phú Trọng kết tội là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức“.
Chính vì các lí do nêu trên, nên trong suốt trên 4 năm làm Tổng bí thư, tất cả các kế hoạch chỉnh đảng, thanh lọc hàng ngũ và chống tham nhũng của Nguyễn Phú Trọng đều thất bại. Nguyễn Tấn Dũng –với bí danh “đồng chí X” do Trương Tấn Sang đặt cho- không bị cách chức. Ngược lại, vây cánh của ông ta trong Trung ương đảng và cả trong Quốc hội ngày càng lấn áp phe bảo thủ đứng đầu là Nguyễn Phú Trọng. Thậm chí các quyết định nhân sự quan trọng trong Bộ chính trị của phe Nguyễn Phú Trọng bị phe các nhóm lợi ích đứng đầu là Nguyễn Tấn Dũng đánh thảm bại nhiều lần.
Quyền-tiền đã trở thành sức mạnh áp đảo và thay thế ý thức hệ Marx-Lenin ngay trong Trung ương đảng. Sự thất bại nhiều lần và kéo dài của Nguyễn Phú Trọng đã làm cho ông ta mất uy tín ngay trong đảng và trong nhân dân và còn dẫn tới hoang mang, phân hóa ngay trong nội bộ của phe bảo thủ giáo điều.  Sự thất bại mới đây nhất đã diễn ngay trong Hội nghị trung ương 10 (đầu tháng 1.15). Mặc dù đã phải hoãn đi hoãn lại nhiều tháng, nhưng kết quả bỏ phiếu trong Trung ương đảng thì Nguyễn Tấn Dũng vẫn dẫn đầu còn Nguyễn Phú Trọng và vây cánh cứ lẹt đẹt về hậu.
Hiện nay sự tung hoành công khai của phe lợi ích nhóm đã trở thành tình trạng “một quốc gia trong một quốc gia” ở ngay trong đảng. Họ sẵn sàng ăn miếng trả miếng với phe bảo thủ, điển hình như trong khi phe bảo thủ thất bại trong việc hạ Nguyễn Tấn Dũng thì phe của ông ta đánh quật lại làm hoang mang và tê liệt phe Nguyễn Phú Trọng. Sự tàn bạo cùng tận giữa các “đồng chí” với nhau đến nỗi khai thác cả cái chết của ủy viên Trung ương đảng kiêm Trưởng ban Nội chính trung ương Nguyễn Bá Thanh và cánh tay mặt của Nguyễn Phú Trọng trong Ban chỉ đạo trung ương phòng chống tham nhũng giữa lúc Hội nghị trung ương 10 họp đầu 1.15!
***
Phe Nguyễn Phú Trọng đã thấy rõ nỗi nguy hiểm là có thế mất tất cả trong Đại hội 12 chỉ còn vài tháng.  Vì thế sau Hội nghị trung ương 10 phe Nguyễn Phú Trọng đã phải ra  tay triển khai một sách lược mới cả trong đảng lẫn đối ngoại, với mục tiêu là chặn lại ảnh hưởng của phe Nguyễn Tấn Dũng, rửa lại bộ mặt dơ dáy trước nhân dân và quốc tế, cải thiện uy tín đang đi xuống; từ đó tìm cách tái tập hợp lực lượng của phe bảo thủ giáo điều mong giành lại quyền chủ động đang bị mất về phe nhóm lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng tại Đại hội 12 vào đầu 2016.
Vì thế tại Hội nghị trung ương 11 (đầu tháng 5.15), để thỏa mãn những yêu sách của ngay trong phe cánh mình, đặc biệt nhiều tướng lãnh trong quân đội, Nguyễn Phú Trọng đã phải chiều họ, đưa Dự án xây dựng sân bay Long thành trên 18 tỉ USD vào chương trình làm việc của Hội nghị này, bất kể tới tình trạng nợ công đang gia tăng tới mức báo động. Nếu không làm thế thì không thể cột quân đội hậu thuẫn cho phe mình.
Đối với nội bộ đảng, tại Hội nghị trung ương 11 phe Nguyễn Phú Trọng đặt ra những tiêu chuẩn rất cao trong việc chọn người vào Bộ chính trị và Ban bí thư của Đại hội 12 nhằm chĩa mũi dùi tấn công vào phe nhóm lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng, dù ông Trọng thừa biết là các tiêu chuẩn này ngay cả các thân tín của ông cũng chẳng có người nào hội đủ:
“Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là những đồng chí thật tiêu biểu của Ban Chấp hành Trung ương về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ, ý chí chiến đấu, năng lực lãnh đạo quản lý, có tầm nhìn và tư duy chiến lược, có khả năng phân tích, dự báo, tổng hợp, đề xuất những vấn đề mới một cách đúng đắn; có trình độ hiểu biết sâu sắc về lý luận chính trị, biết phát hiện và sử dụng người có đức có tài; đã tham gia Ban Chấp hành Trung ương, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong độ tuổi theo quy định và đủ sức khỏe để đảm đương nhiệm vụ.
Kiên quyết không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương những người có một trong các khuyết điểm, như: Bản lĩnh chính trị không vững vàng, không kiên định đường lối, quan điểm của Đảng, có biểu hiện cơ hội chính trị, nói và làm trái Cương lĩnh, đường lối, nguyên tắc của Đảng; tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, vận động cá nhân, tư tưởng cục bộ, phe cánh, lợi ích nhóm, không dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán, trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để xảy ra tình trạng mất đoàn kết nội bộ nghiêm trọng, tham nhũng, tiêu cực lớn ở địa phương, đơn vị; không chịu nghiên cứu học hỏi, bảo thủ, trì trệ, làm việc kém hiệu quả, nói không đi đôi với làm; ý thức kỷ luật kém, không chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức; kê khai tài sản không trung thực, có biểu hiện giàu nhanh, nhiều nhà, nhiều đất, nhiều tài sản khác mà không giải trình rõ được nguồn gốc; bản thân và vợ, chồng, con có lối sống thiếu gương mẫu, lợi dụng chức quyền để thu lợi bất chính; có vấn đề về lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay.”
Các tiêu chuẩn vào Bộ chính trị và Trung ương đảng trong Đại hội 12 tới trên đây không có gì mới, chỉ lập lại các Đại hội trước. Nó chỉ là con hổ giấy không thể hù dọa bọn tham quan mọc lên như rươi thuộc phe các nhóm lợi ích ở trong đảng. Có chăng chỉ là để ru ngủ đảng viên nhẹ dạ và tạo ra một dư luận hồ hổi mới giả tạo để đánh lừa nhân dân!
Sau đó Tô Huy Rứa, ủy viên Bộ chính trị kiêm Trưởng ban Tổ chức trung ương –cơ quan phụ trách tuyển chọn nhân sự ở cấp cao- vây cánh của ông Trọng, đã thay đổi hàng loạt nhiều ủy viên Trung ương đảng là Bí thư tỉnh ủy và đứng đầu các ban trung ương. Mục đích là đưa vây cánh vào để chặt bớt ảnh hưởng của phe Nguyễn Tấn Dũng trong Trung ương đảng. Song song với việc chặt vây cánh các đối thủ ở trung ương, Nguyễn Phú Trọng còn để báo chí lề đảng đăng loạt bài của Vũ Ngọc Hoàng, người thứ hai trong Ban Tuyên giáo Trung ương, đánh trực diện bằng cách tố sát ván để làm mất uy tín phe các „nhóm lợi ích“ của ông Dũng, như đã trình bầy trên đây.

Mũi tấn công thứ ba và cũng là trọng tâm để phá phe Nguyễn Tấn Dũng, đồng thời thuyết phục các đảng viên và vỗ về nhân dân nằm trên mặt trận đối ngoại. Trong đó phải vận động để TT Obama mời Nguyễn Phú Trọng thăm Hoa kì. Chỉ khi nào Nguyễn Phú Trọng thân hành sang Mĩ thì mới mong giải tỏa được dư luận vô cùng bất lợi cả trong đảng lẫm ngoài xã hội từ khi phe bảo thủ giáo điều cúi đầu trước nhóm cầm đầu Bắc kinh tại Thành đô đầu tháng 9.1990.

Kính gởi Quý Vị

Như đã thông báo trước đây, hôm nay Vietnam Film Club chính thức phổ biến trên Youtube toàn bộ cuốn phim Thảm Hoạ Bắc Thuộc theo Link dưới đây:

Kính mong Quý Vị giúp phổ biến rộng rãi cuốn phim tài liệu này đến mọi người, nhất là những người trong nước.

Xin cảm tạ và kính chúc Qúy Vị mọi sự an lành

Trân trọng

Chu Lynh
Editor, Vietnam Film Club
www.vietnamfilmclub.org
vietnamfilmclub@aol.com
Để xem Video với hình ảnh rõ nét HD, hãy chọn góc phải dưới màn hình, Click Settings chọn 720p60HD

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |