Gia chánh

Giao thừa tôi đốt cờ sao

Giao thừa tôi đốt cờ sao.Không thèm đốt pháo, không thèm vui xuân.Xuân nay có cũng bằng không.Quê hương mất biển, xuâ...

Posted by Dzung Nguyen on Friday, 5 February 2016

Tôi sẽ thu thập video đốt cờ của mọi người và làm thành một video ngắn để coi đêm giao thừa thay tiếng pháo. Xin cả nhà...

Posted by Quoc Thieu on Wednesday, 3 February 2016

Saturday, 13 February 2016

La Dalat: Chiếc xe hơi made in Vietnam vang danh một thời

Xe VNCH ngày xưa là vậy còn lũ bò CSVN bây giờ sản xuất xe gì?

-----------------
La Dalat: Chiếc xe hơi made in Vietnam vang danh một thời
Từ năm 1970 cho đến 30/4/1975, Công Ty Xe Hơi Sài Gòn đã sản xuất hơn năm ngàn chiếc xe hơi dân dụng La Dalat tại Việt Nam với mức độ nội địa hóa lên đến 40%.

Vào năm 1936, hãng chế tạo xe của Pháp Citroën đã thiết lập xưởng sản xuất đầu tiên ở Đông Dương với trụ sở ban đầu tại góc đường Lê Lợi - Nguyễn Huệ, ngày nay đã trở thành Caféteria Rex ở Sài Gòn. Sang đến thời Việt Nam Cộng hòa xưởng sản xuất được dời đi và đổi tên thành Công ty Xe hơi Citroën, tiếp đến là Công ty Xe hơi Saigon.

Sau Thế chiến thứ 2, để đáp ứng nhu cầu về phương tiện di chuyển của dân Pháp đương thời, hãng chế tạo xe Citroën đã tung ra thị trường chiếc xe 2CV. Sau đó hãng này tiếp tục cho ra đời loại xe Citroën Dyane 6 và Méhari lần lượt vào cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60. Xe Citroën La Dalat sản xuất ở Việt Nam là loại xe dựa trên kiểu Citroën Méhari.

Vào giữa thập niên 60, trước sức ép cạnh tranh từ các loại xe gắn máy 2 bánh: Honda, Suzuki, Yamaha, Kawasaki, Bridgestone.... cũng như các loại ô tô Toyota, Mazda, Mitsubishi, Nissan, Daihatsu… nhập khẩu từ Nhật Bản, hãng Citroën quyết định tung ra thị trường một loại xe thực dụng và rẻ tiền, loại xe mà các công ty sản xuất xe Nhật Bản không thể cạnh tranh được. Chiếc xe được đặt tên là La Dalat.

Năm 1969, công ty Citroën mua bản quyền thiết kế của chiếc Baby Brousse từ công ty Ateliers et Forges de l’Ebrié.

Tiếp đó, các kỹ sư của chi nhánh Société Automobile d’Extrême-Orient tại Sài Gòn bắt tay vào sản xuất và lắp ráp ngay tại Việt Nam một chiếc xe tuy không sang trọng và mạnh như xe Mỹ, nhưng giá thành và chất lượng ăn đứt tất cả các loại xe của Nhật.

Và chiếc La Dalat ra đời với 4 kiểu dáng khác nhau có phần máy và hệ thống tay lái, bộ nhún, bộ thắng... nhập cảng từ Pháp, trong khi, các bộ phận như đèn, kén báo hiệu, ghế nệm, dàn đồng đóng bằng tôn, mui xe bằng lá thép uốn hoặc vải,... được thiết kế và sản xuất ngay tại Sài Gòn.

Tuy dựa theo thiết kế của chiếc Baby Brousse, nhưng La Dalat được cải tiến để có thể sản xuất hàng loạt mà không đến cần máy ép thép công nghiệp hạng nặng như Baby Brousse.
Lúc tung ra thị trường vào năm 1970, tỷ lệ bộ phận nhập cảng so với bộ phận nội địa là 75/25 và đến năm 1975 khi hãng Citroën ngừng hoạt động, tỷ lệ này là 60/40. Có tất cả là 4 kiểu La Dalat: loại 4 chỗ ngồi hoặc 2 chỗ ngồi với thùng chở hàng.

Ước tính từ năm 1970 cho đến 30/4/1975, Công ty Xe hơi Sài Gòn sản xuất hơn năm ngàn chiếc La Dalat, tức là hơn một ngàn chiếc mỗi năm!

Theo thiết kế, chiếc xe này sở hữu động cơ 4 thì, 602 phân khối, 2 xi-lanh đối ở 2 đầu nằm dẹp (flat twin), hộp số gồm 4 số tay, chuyền động ở trục bánh trước. Chiếc xe có chiều dài 3,5m; rộng 1,53m; cao 1,54m; nặng khoảng từ 480-590 kg tùy theo kiểu.

La Dalat được đánh giá là chiếc xe ít tốn xăng, dễ sửa chữa, dễ thay thế các bộ phận hỏng hóc, đặc biệt các bộ phận như cánh cửa, kính xe đều có thể "tự chế", dễ làm hơn các loại xe Nhật và rẻ tiền. Các bộ phận rời được bán với giá phải chăng vì hoàn toàn được chế tạo tại Việt Nam.

Tiền thân là gốc Pháp nhưng La Dalat đã để lại dấu ấn không hề nhỏ mang tên Việt Nam. Năm 1973, ngạc nhiên và hài lòng với thành công đáng ngờ của Công ty Xe hơi Sài Gòn, Citroën đã sang Việt Nam lấy 3 chiếc La Dalat về Pháp để mổ xẻ phân tích thiết kế, từ đó họ cho ra đời kiểu khung xe dễ sản xuất mà không đòi hỏi đầu tư nhiều công nghệ như chiếc Baby Brousse mui trần thế hệ thứ hai hay chiếc FAF.

KIỀU CHÂU

Theo BizLive
Clip: ZINGTV

(Fb Cafe Ku Búa)


[La Dalat: Chiếc xe hơi made in Vietnam vang danh một thời]Từ năm 1970 cho đến 30/4/1975, Công Ty Xe Hơi Sài Gòn đã sả...
Posted by Nhật ký yêu nước on Sunday, 31 January 2016

Thursday, 11 February 2016

TUYỆT VỌNG VÀ BẤT LỰC


Việt Tân's photo.
Tuần rồi, tôi gặp một số người quen từ Việt Nam sang Úc chơi. Hầu hết đều là người miền Nam và thuộc giới khoa bảng, có bằng cấp cao và hiện giảng dạy tại các trường đại học lớn ở Việt Nam. Lúc chuyện trò, chẳng hiểu sao, câu chuyện lại hướng về Đại hội đảng lần thứ XII vừa mới kết thúc.

Điều khiến tôi ngạc nhiên vô cùng là không ai có vẻ hiểu biết gì về đại hội ấy. Người ta biết rất lờ mờ về kết quả bầu cử; về chuyện ai đi ai ở lại; về chuyện trong Bộ Chính trị hay Ban Chấp hành Trung ương có bao nhiêu người; và hoàn toàn không biết gì về những cuộc đấu đá giữa Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng. Với chút ngượng nghịu, họ thú nhận là họ không biết gì nhiều. Rồi, cũng với chút ngượng nghịu, họ phân bua: Họ không để ý theo dõi. Không đợi tôi hỏi, họ phân bua tiếp: Ông nào lên, ông nào xuống thì Việt Nam cũng vẫn thế. Không có gì thay đổi cả. Biết vậy thì quan tâm để làm gì? Thì giờ, người ta để dành cho việc kiếm sống. Rảnh, thì rủ bạn bè ra quán, nhậu. Vậy thôi.

Chưa hết, người ta còn thanh minh thêm: Không phải chỉ có họ, mà ngay cả các đảng viên ở Sài Gòn cũng vậy, cũng chả tha thiết gì đến chuyện chính trị. Rồi họ đọc cho tôi nghe một câu ca dao mới nói về tính cách của người “Nam kỳ”:

Nam kỳ ăn nhậu lai rai

Nghị quyết đọc hoài chẳng nhớ một câu.

Thú thực, tôi đã nghe những lời phân trần như vậy khá nhiều lần. Và lần nào cũng ngạc nhiên. Bởi nó khác hẳn kinh nghiệm thường ngày của tôi tại Úc. Ở Tây phương, người ta hay khuyên không nên nói đến chuyện chính trị vốn là yếu tố rất dễ gây ra bất đồng. Nhưng đó là lời khuyên giành cho những người lạ, ở chỗ sơ giao. Trên thực tế, trong khoa tôi dạy, giữa các đồng nghiệp, chúng tôi vẫn rất hay nói đến chuyện chính trị. Người ta ít khi trình bày lộ liễu chủ kiến của mình nhưng qua sự phân tích, hầu như ai cũng chứng tỏ là họ rất hiểu biết về các biến động trong sinh hoạt chính trị tại Úc cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt tại Mỹ. Sự hiểu biết ấy trở thành một dấu chỉ của khái niệm trí thức.

Sẽ rất đơn giản nếu chúng ta quy việc thiếu quan tâm đến chính trị của người Việt Nam như một biểu hiện của chứng vô cảm. Đành là đúng. Sống trong một quốc gia mà người ta không hề để ý đến các biến cố quan trọng có sức ảnh hưởng đến vận mệnh đất nước và tương lai của dân tộc, nếu không gọi là vô cảm thì là cái gì? Nhưng vấn đề là: tại sao người ta vô cảm như vậy? Câu trả lời đầu tiên là chính sách tuyên truyền cho tất cả hãy để cho “nhà nước lo” ở Việt Nam. Hậu quả của chính sách tuyên truyền ấy là mọi người xem chuyện đất nước thuộc trách nhiệm của ai đó, không dính líu gì đến mình. Không quan tâm đến đất nước, người ta cũng chả thèm để ý đến các sinh hoạt chính trị như đại hội đảng hay các cuộc hội nghị trung ương.

Tuy nhiên, bên cạnh sự vô cảm ấy, tôi nghĩ còn có một tâm lý khác: tuyệt vọng.

Đảng cộng sản, trong giai đoạn giành chính quyền, để thu phục nhân tâm, lúc nào cũng vẽ ra bao nhiêu hy vọng cho dân chúng, từ hy vọng về độc lập cho đất nước đến hy vọng về tự do và no ấm, hay xa và lớn hơn nữa, về một thiên đường xã hội chủ nghĩa, nơi mọi người đều bình đẳng với nhau. Giành được chính quyền rồi, trong những giai đoạn chiến tranh hay kinh tế khó khăn, người ta lại vẽ nên những hy vọng khác, về thống nhất và về thịnh vượng. Tuy nhiên, sau năm 1975, tất cả những gì người dân chứng kiến và kinh nghiệm đều chỉ là sự áp bức và sự khốn cùng. Chỉ có giai đoạn gọi là đổi mới, những tia hy vọng ấy mới sáng lên trong lòng dân chúng. Nhưng chỉ được vài năm. Sau đó, tuy đời sống của người dân khá lên một chút, nhưng kinh tế đất nước vẫn ì ạch trì trệ với số các đại công ty bị phá sản càng lúc càng nhiều và đặc biệt, nợ công càng lúc càng chồng chất.  Giáo dục và đạo đức càng ngày càng suy đồi. Cán bộ thì tham nhũng. Đi đâu cũng gặp tham nhũng. Những lời hứa hẹn diệt trừ tham nhũng cứ như những lời nói đùa. Những lời hứa hẹn cải cách này nọ chỉ là những lời hứa hẹn hão. Dân chúng, từ lâu, biết rõ điều đó, nên họ đúc kết thành ca dao: “Sửa sai thì lại sửa sai / Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai.” Sống trong hoàn cảnh như thế, kéo dài cả hơn nửa thế kỷ, dần dần người ta đâm ra tuyệt vọng. Không ai còn tin là đảng cầm quyền sẽ thực sự thay đổi hoặc có một chính sách nào thực sự có hiệu quả để đất nước được phú cường và dân chủ cũng như nhân quyền được tôn trọng.

Bên cạnh sự tuyệt vọng ấy là cảm giác bất lực.

Ở đâu quyền lực chính trị cũng chỉ nằm trong tay một số người. Tuy nhiên, ở các quốc gia dân chủ, những người bị trị ít nhất cũng có một số quyền lực nhất định. Ở việc bầu cử. Ở việc lên tiếng phê phán hoặc thậm chí, xuống đường phản đối một số chính sách họ cho là sai lầm. Giới lãnh đạo không thể không quan tâm trước những sự phê phán và những sự phản đối ấy bởi, nếu không, họ có thể bị thất cử ở kỳ bỏ phiếu kế tiếp. Ở Việt Nam, ngược lại. Dân chúng hoàn toàn không có quyền bỏ phiếu cho những người lãnh đạo đất nước: Đó là công việc trong nội bộ đảng của họ. Dân chúng chỉ được quyền bầu các đại biểu Quốc hội, tuy nhiên, ở đây lại có hai điều đáng chú ý: Một, tất cả những đại biểu ấy đều do đảng lựa chọn và đề cử; hai, thắng cử rồi, các đại biểu ấy đều làm việc và bỏ phiếu theo chỉ thị của đảng chứ không phải theo nguyện vọng của cử tri. Còn việc phê phán và phản đối của dân chúng đối với các chính sách của đảng và của chính phủ thì hoàn toàn bị cấm đoán. Dân chúng, do đó, dù biết các chính sách của nhà nước là sai lầm và nguy hại, cũng không có cách gì ngăn chận được. Họ hoàn toàn bị bất lực.

Cảm giác tuyệt vọng và bất lực ấy được thấy rõ nhất trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ai cũng biết Trung Quốc đã từng chiếm hải đảo Việt Nam và đang âm mưu lấn chiếm cả vùng biển của Việt Nam. Và ai cũng biết, trước các nguy cơ lấn chiếm ấy của Trung Quốc, phản ứng của chính quyền Việt Nam rất yếu ớt và không có hiệu quả. Biết vậy, nhưng người ta không làm gì được. Xuống đường biểu tình chống đối Trung Quốc thì bị đánh đập, bắt bớ, tù đày. Sợ hãi và mệt mỏi, người ta đành buông xuôi.

Sự tuyệt vọng, bất lực và buông xuôi ấy rõ ràng là một tai hoạ cho đất nước. Việt Nam không thể thay đổi, không thể mạnh hơn và không thể bảo vệ được chủ quyền của mình trên biển đảo nếu dân chúng đều mặc kệ như thế.

Tuy nhiên, oái oăm là chính quyền lại muốn nuôi dưỡng cái tinh thần mặc kệ ấy .

Blog / Nguyễn Hưng Quốc

CÙ HUY HÀ VŨ: MỌI NGƯỜI NGHĨ SAO VỀ CON NGƯỜI NÀY?

 Tôi biết đến CHHV cách đây hơn 2 năm, khi anh này chưa được “phóng thích” qua Mỹ, tất nhiên là chỉ biết một ít qua cái đài radio củ mèm nghe lén được của một ông già khác khi đi làm thuê trên rẩy. Lúc này Tôi không có điều kiện gì, cái di động để nghe gọi cũng không có nữa mà? Lúc đầu thì thực sự rất ngưỡng mộ, không riêng gì CHHV mà Tôi ngưỡng mộ bất kỳ người nào bất đồng chính kiến với lũ mọi rợ cộng sản!

Vì khi đó CHHV đang còn ở trong tù nên thông tin chỉ được nghe lại, hoàn toàn chưa biết được con người này như thế nào? Nhưng từ khi anh ta qua Mỹ, Tôi có tìm hiểu về anh này chút ít. Nhưng than ôi, Tôi hoàn toàn thất vọng về con người này hoàn toàn. Tuy nhiên, Tôi không bao giờ đánh phá, nghĩ xấu người nào bất đồng chính kiến với Đảng Cộng Sản. Tôi quan niệm: Phe ta đã ít, thế mà còn đánh phá nhau thì chỉ cộng sản là mừng thôi, nếu đúng thì không nói, nhỡ với kỷ năng kém cỏi của mình mà đánh giá sai, nghĩ không đúng để họ bị oan mình lại mang tiếng ác, đôi khi còn bị nghi ngờ mình là Việt cộng trá hình phá hoại phong trào và đánh phá uy tín của anh em đấu tranh. Nghĩ vậy nên Tôi cứ im lặng, thầm nghĩ: “Có thể mình chưa có cảm tình với CHHV thôi, chứ toàn người tranh đấu cả, ai cũng đáng quý và đáng để trân trọng vì những sự hy sinh của bản thân và gia đình họ. Mình không thích không có nghĩa là họ đáng bị ghét”, Tôi im lặng!.

Nhưng giờ đây, sau khi đọc được một bài phỏng vấn của y. Tôi hoàn toàn mất hết sự kiên nhẫn: Y công khai tuyên bố ủng hộ Nguyễn Phú Trọng, nói tốt về Trọng và tin tưởng vào Trọng! Cho rằng Trọng là một người liêm khiết và yêu Tổ Quốc, chống Trung Quốc?....Hết thuốc chữa? Ủng hộ ai Tôi còn suy nghĩ lại, chứ ủng hộ Trọng lú: Một tay chúa lưu manh, sảo quyệt, điếm đàng, tham lam, giáo điều cổ hủ, …hai tay dâng trọn nước Việt cho Tàu,…mà ủng hộ thì với Tôi, CHHV đã không còn đáng 1 xu. CHHV nói được những câu đó: Một là đệ tử ruột của Trọng, Hai là thần kinh khốn nạn, đầu óc ngu xuẩn! Xem vài video của y chỉ thấy một điều rằng: Y ăn nói thì lắp ba lắp bắp, câu từ chẳng rỏ ràng, mà toàn là nói phét nói dóc là chính! Mà thú thật, hắn nói phét thì phét kinh, tự đề cao mình kinh khủng nhưng độ nói phét trơn tru, mặt tỉnh thì còn lâu mới bằng LPY này!. Còn nữa, ở tù nghe "tuyệt thực" kiểu gì mà bụng phì ra, mặt cứ ú na ú nần cả lên? Đáng suy nghĩ????

Trước đây, CHHV đối lập Nguyễn Tấn Dũng Tôi cứ nghĩ tay này cũng dũng cảm, không ngờ hắn chỉ là làm theo lời của thằng già mafia đỏ Trọng lú. Công nhận LPY tôi cũng nhiều lúc ngớ ngẩn thật?

Bà con ở Mỹ xin hãy xác nhận và cho thêm tin về tay này? Tôi tin rằng tay này chỉ là chiêu cài người của Việt Cộng! Đối với Cộng sản: Đi tù xong nhận huy chương, đi tù xong để qua Mỹ là bình thường! Nên CHHV qua Mỹ là một sự sắp xếp hoàn toàn có khả năng xảy ra, mà có thể đến 90% luôn ấy chứ?

Minh Pham's photo.

Tôi không chủ trương đả kích, nói xấu một ai. Tôi nói ra những điều này là Tôi đã suy tính kỷ. Tôi sẽ chịu trách nhiệm khi Tôi vu oan cho CHHV. Nhưng tôi tin rằng: Tôi không nói oan cho y!

Lê Phú Yên
******

Dưới đây xin trích lại bài phỏng vấn của y để bà con được rỏ về con người này, chứ Tôi nếu ở Mỹ thì đã cho tay này ăn dép vào mặt và tống cổ về Việt Nam cho sống với Trọng lú rồi:

…..”" Ts. Cù Huy Hà Vũ: Trong các bài viết và trả lời phỏng vấn của tôi trước và trong khi diễn ra Đại hội XII Đảng cộng sản Việt Nam, tôi luôn khẳng định ông Nguyễn Phú Trọng sẽ được bầu lại làm Tổng bí thư Đảng vì ông Nguyễn Phú Trọng là người có tinh thần dân tộc, yêu nước, kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam trước xâm lược và đe dọa xâm lược từ phía Trung Quốc cũng như có quyết tâm chống tham nhũng đến cùng, ngược hẳn với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là kẻ tham nhũng nhất nước và nghiêm trọng hơn cả, là bán nước cho Trung Quốc với tư cách điệp viên chiến lược của Trung Quốc như tôi đã chứng minh trong bài “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong ván bài thôn tính Việt Nam của Trung Quốc” đăng trên Đài tiếng nói Hoa Kỳ ngày 15/1/2016.

Có một nguyên lý là chỉ những kẻ tham lam, tham nhũng thì mới có thể bị mua chuộc. Cho nên Nguyễn Tấn Dũng tham lam, tham nhũng thì mới bị Trung Quốc mua dẫn đến Nguyễn Tấn Dũng đã bán nước cho Trung Quốc trên thực tế. Ngược lại, những người không tham lam, tham nhũng thì không ai có thể mua được dù đó là Trung Quốc. Mà không bán nước cho Trung Quốc thì đương nhiên yêu nước, quyết giữ nước, quyết chống Trung Quốc xâm lược. Do đó, phẩm chất không tham lam, tham nhũng hay sự liêm khiết của Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng cho thấy ông Trọng không có thể là người bán nước cho Trung Quốc hay nói cách khác, là người yêu nước. Và đương nhiên với tư cách là người yêu nước và nhất là với cương vị nguyên thủ quốc gia trên thực tế, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chắc chắn đã, đang và sẽ kiên quyết chống Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia cũng như đẩy mạnh nỗ lực “thoát Trung” về kinh tế.

Như vậy, chính phẩm chất yêu nước của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thúc đẩy ông Trọng quan hệ mạnh mẽ và chặt chẽ hơn với Mỹ để đi tới liên kết quân sự tạo tiền đề cho liên minh quân sự với Mỹ để bảo vệ thành công chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam hiện tại trước xâm lược đang được Trung Quốc ráo riết chuẩn bị để rồi tiến tới thu hồi quần đảo Hoàng Sa và các phần lãnh thổ quốc gia đã bị Trung Quốc xâm chiếm cũng như để thoát khỏi nô lệ Trung Quốc về kinh tế."…..

Sunday, 7 February 2016

TỔNG THỐNG BARACK OBAMA : TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI

TỔNG THỐNG BARACK OBAMA LUÔN MANG THEO TRONG NGƯỜI TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI DO ĐỨC GIÁO HOÀNG FRANCISCO TẶNG

Tổng thống Obama mang trong túi tràng chuỗi Mân Côi được Đức Thánh cha Phanxicô tặng

VietPress USA (30-1-2016): Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama vừa tiết lộ là ông vẫn mang trong mình tràng chuỗi Mân Côi mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tặng hồi năm ngoái. Trong buổi phỏng vấn trên Youtube với Ingrid Nilsen, ngài Tổng thống tiết lộ là ông vẫn đang mang trong túi một số món đồ Tôn giáo.
Ông nói rằng đây là nhưng vật mà nhiều người đã tặng cho ông trong các cuộc gặp gỡ suốt nhiều năm qua, và ông thấy chúng rất có ý nghĩa.

Tổng thống Obama cho biết, trong số các món đồ thường xuyên mang trong túi, có một tràng chuỗi Mân Côi mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã tặng cho ông trong chuyến công du Hoa Kỳ hồi tháng 9 năm ngoái.

Khi lấy ra từ trong túi tràng chuỗi được Đức Thánh cha Phanxicô tặng, Tổng thống cho biết: "Tôi rất mến mộ Ngài và tràng chuỗi này khiến tôi nghĩ về hòa bình và thúc đẩy nhận thức và hành xử đạo đức."

Catholic Herald
Lữ Giang.
ooO

Đọc và giới thiệu, đóng góp bài vỡ cho VietPressUSA.
Xin gởi vế:

Hạnh Dương
www.Vietpressusa.com

Saturday, 6 February 2016

đám ma đại gia : 'yêu râu xanh'




Nhạc chế của một bạn trẻ trong dịp gần Tết, nội dung rất “PHẢN ĐỘNG” rất ý nghĩa và đúng với thực tế.Kính mời các bạn...
Posted by Việt Tân on Saturday, 30 January 2016

Friday, 5 February 2016

Cộng Đồng Cali cám ơn đời :Chuyện 'thoát chết' của tài xế taxi bị 3 tù vượt ngục bắt cóc

 Chuyện 'thoát chết' của tài xế taxi bị 3 tù vượt ngục bắt cóc

Ông Long "lái taxi chui" - người bị những người tù vượt ngục bắt cóc 8 ngày 
(Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

“Ngày hôm qua cô gọi đến, tôi vẫn còn rất sợ nên có hơi lớn tiếng với cô. Nhưng mà bạn bè quen biết nói với tôi rằng tôi không phải sợ hãi, hãy nói ra sự thật câu chuyện. Nên bây giờ cô muốn biết gì tôi sẽ nói, như tôi khai với cảnh sát vậy.”
Ðó là ông Mã Long, người đàn ông nhận mình là tài xế lái taxi bị ba người tù vượt ngục bắt cóc suốt bảy ngày, rồi được tù nhân Bắc Dương, một trong ba người tù vượt ngục, cứu sống, bắt đầu câu chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt tại tòa soạn vào sáng Thứ Ba, 2 Tháng Hai.
Nhật báo Người Việt có nhắn tin và gởi hình của ông cho anh Lee Trần, một người có mặt tại tiệm Auto Electric Rebuilders ở Santa Ana, nơi ông Bắc Dương ra đầu thú, nhờ xác nhận.
Anh Lee Trần viết: “Tôi không biết cá nhân ông, nhưng ông là người bước vào tiệm hôm đó và nói là ông Bắc Dương đang ngồi ngoài xe.”

Ông Mã Long năm nay 75 tuổi, “shared phòng” và sống một mình ở Garden Grove, làm nghề lái taxi đưa đón khoảng tám hoặc chín tháng nay. Có thể một phần do hãy còn hoảng hốt qua những gì xảy ra, một phần do sức khỏe, nên cuộc nói chuyện kéo dài hơn một tiếng rưỡi đôi lúc bị đứt quãng. Cuộc gọi lúc 9 giờ 30 tối Thứ Sáu
“Hôm đó là Thứ Sáu, 22 Tháng Giêng, lúc 9 giờ 30 tối, tôi đang ngủ thì nhận được điện thoại gọi đến quán Ngon ở góc đường McFadden và Ward, Garden Grove, chở người. Tôi nghĩ chắc mấy người đi nhậu kêu chở về,” ông Long kể.

Khi đến nơi, thấy một người lên xe, rồi hai người nữa lên xe, “cả ba người đều là đàn ông, hai người Việt, một người Trung Ðông.”

“Tôi hỏi, 'Ba người lận sao? Mấy chú muốn đi đâu?' Lúc đó tôi đâu có nghi ngờ gì,” ông tiếp tục.

Khi được hỏi, ông Hồ Cường, chủ nhân quán Ngon, cho biết lúc đó ông không hề biết chuyện này.

Rồi ông kể, “Vài ngày sau cảnh sát có đến hỏi tôi, tôi cũng nói không biết. Sau đó họ đòi coi băng video an ninh, tôi cho họ coi nhưng họ cũng không thấy ai hết. Sau đó, tôi có nghe họ nói hình như ba người này vào quán nào gần đó.”

Theo lời đề nghị của ba người hành khách, ông Long chở ba người đến Walmart ở góc đường McFadden và đường Harbor, Santa Ana.

“Tên Trung Ðông (cách ông Long gọi Hossein Nayeri) xuống xe, rồi khoảng 10 phút sau quay trở lại. Khi đó, tên Bắc (sau này tôi mới biết tên) hỏi tôi có chở đi Rosemead được không. Tôi nói được, có tiền là đi. Họ hỏi giá. Tôi nói công chở từ quán Ngon đến đây 3 người là $30, đi Rosemead nữa thì tổng cộng $100. Bắc lấy tờ $100 đưa tôi. Tôi hỏi đến đâu để bấm GPS cho dễ đi thì họ bảo không cần, để họ chỉ đường,” vẫn theo ông Long kể.

Ông chở nhóm người này đến một cửa hàng Target ở Rosemead, “khi đó hơn 10 giờ tối.”

Tại đây, “tên Trung Ðông” vô Target, hai người còn lại ngồi trong xe cùng ông Long, theo ông kể.

Sau hơn một tiếng đồng hồ, “tên Trung Ðông” trở ra, “hắn mua đồ đạc nhiều lắm, kêu tôi mở cốp xe bỏ vô.”

Tiếp theo đó, Bắc kêu ông Long, “Chở tôi đến nhà má tôi gần đây.”

“Tôi chạy được một khúc, tới một quán cà phê, kế bên có một tiệm giặt đồ, tôi không nhớ tên tiệm vì tất cả tắt đèn tối thui. Bắc vô tiệm cà phê chừng 2-3 phút thì trở ra,” người tài xế taxi kể tiếp.

Sau khi lên xe, ông Long nghe Bắc nói bằng tiếng Anh gì đó với Tiêu (cách ông gọi Jonathan Tiêu, người trẻ nhất trong nhóm) mà ông không hiểu.

“Chỉ đến khi Tiêu lấy cây súng ra đưa cho Bắc, và Bắc chĩa vào bụng tôi thì tôi mới hiểu chuyện gì xảy ra,” ông Long nói.

Bắc nói “mượn xe đi vài ngày” rồi thò tay rút chìa khóa, kêu ông Long xuống xe, ra ngồi ở băng sau cùng với Tiêu, còn Hossein Nayeri ngồi vào chỗ tài xế.

“Họ khóa cửa xe làm sao mà người ngồi trong xe không mở được. Tôi chạy xe bao lâu nay mà không hề biết làm điều này,” ông nói thêm.

Ông Long nói, “Lúc đó tôi quá run.”

Sau khi lái xe đi lòng vòng thì họ dừng lại ở một motel ông Long không nhớ tên, “họ kêu tôi đưa ID để vô mướn phòng. Tôi ở cùng với họ trong một phòng có hai giường. Tôi ngủ chung giường với Bắc.”

Ông cho biết, “Tâm trạng tôi hoàn toàn hoảng sợ. Tôi có tật hút thuốc vậy mà không dám bước xuống giường, không dám nhúc nhích, không dám hó hé gì hết. Ðến khi mắc tiểu quá, tôi mới khều Bắc nói tôi muốn đi restroom rồi mới đi. Khi mệt quá cũng thiếp đi một chút.”
Ngày thứ hai bị bắt cóc (Thứ Bảy, 23 Tháng Giêng)
Ông Long kể, sáng ngày hôm sau, Thứ Bảy, 23 Tháng Giêng, sau khi thức dậy, họ chở nhau đến một quán ăn ông cũng không thể nhớ tên.

“Tôi kêu tô mì mà chỉ ăn vài viên chả cá thôi, không thể nuốt nổi,” ông kể.

Rời quán ăn, Hossein Nayeri vẫn là người lái xe, chở tất cả đi lòng vòng, “nhìn các bảng hiệu tôi nghĩ đó là downtown ở Los Angeles, rất đông đúc.”

“Họ lái xe vô một bãi đậu xe trên lầu và ăn cắp 3-4 bảng số xe, toàn những bảng ghi chữ chứ không ghi số,” ông Long nói.

Trên xe, ông Long nghe họ bàn tính “tùm lum,” lái xe đến chiều mà “không ăn uống gì hết.”

Sau đó đến một chỗ rất vắng, Bắc xuống xe.

Người tài xế nhớ lại, “Chờ hơn nửa tiếng thì Bắc gọi điện thoại ra. Không biết nói gì, chỉ thấy tên Trung Ðông chở tôi và Tiêu về lại Rosemead. Mọi người gặp Bắc ở đây, khi đó Bắc hớt tóc cao rồi. Bắc kêu Tiêu đi hớt tóc luôn. Khi đó tôi mới biết là Bắc đã lấy được một chiếc xe van.”

Tối đó, họ lái về thuê một motel khác, cũng bằng ID của ông Long, theo ông kể.

Cũng từ hôm ấy, ông Long mới biết ba người đàn ông này là ai, vì “họ mở TV coi tin tức và chỉ cho tôi coi hình họ trên đó.”

Ông Mã Long tại tòa soạn báo Người Việt. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)


Ba ngày tiếp theo (Chủ Nhật, Thứ Hai, Thứ Ba)
Ngày Chủ Nhật, ông Long bị nhốt trong phòng không được ra ngoài và “lúc nào cũng có một người canh chừng tôi, thường là Tiêu. Chúng tôi không có nói gì với nhau. Tiêu hiểu tiếng Việt nhưng không nói tiếng Việt được.”

Theo ông Long, mỗi khi trở về motel thì Bắc và “tên Trung Ðông” lại “bàn cãi tùm lum.”

“Tôi không rành tiếng Anh, nhưng tôi nghĩ là tụi nói tranh cãi chuyện giết tôi, vì tôi có nghe tên Trung Ðông nói 'bùm,' còn Bắc thì phản đối, rồi tụi nó gây gổ nhau.”

Ngày Thứ Hai, Bắc chở ông Long đến một tiệm Rite Aid để lãnh tiền từ một tấm chi phiếu, nhưng “vì số tiền lớn nên họ phải đến Western Union để lãnh.”

“Tại đây, Bắc lấy căn cước của tôi rồi tự điền giấy tờ, rồi bắt tôi là người ký tên để lãnh $3,000 tiền mặt. Bắc tự nói cho tôi biết (chứ tôi đâu dám hỏi gì) đó là tiền của mẹ tên Trung Ðông gửi qua,” ông Long kể tiếp.

Ông nói thêm, “Tôi không nhớ chắc là trong ngày đó hay ngày hôm sau, tôi nói với họ là tôi bệnh tiểu đường, bệnh tâm thần, cao mỡ, nếu không có thuốc thì tôi sẽ chết. Họ bàn với nhau, rồi để Bắc chở tôi về nhà lấy thuốc. Nhưng trước khi đi họ điều tra tôi rất kỹ, hỏi nhà tôi có ai, share phòng với ai, chủ nhà là ai, có bao nhiêu người share phòng, ngủ ở đâu.”

“Tôi share phòng ở một mình, không vợ con gì hết,” ông nói thêm.

Người đàn ông bị bắt cóc giải thích, “Sở dĩ tôi đòi về lấy thuốc là tôi muốn viết lá thư để lại cho người bạn tôi đi cứu tôi, bạn tôi tên Lộc. Bắc giúp tôi bỏ thuốc vào túi, xếp quần áo giúp tôi mang theo.”

Lợi dụng lúc được Bắc đồng ý cho vào nhà vệ sinh, ông Long viết mảnh giấy có nội dung, “Gọi gấp cho Lộc, số điện thoại... Tụi nó bắt cóc, kêu tôi mướn phòng, muốn tìm bắt tụi vượt ngục, tìm tên tôi ở motel.”

Ông không dám để tờ giấy ở ngoài, mà “để vào trong cái ly nhựa cao cao dùng để hứng nước rửa mặt.”

“Khi tôi nhét vào thì tôi nhớ rõ ràng là cái ly trống, không có gì hết. Nhưng khi tôi được thả về, tôi vào tìm lại lá thư thấy trong ly có cái bàn chải, và cái thư còn trong ly. Vậy tức là có người thấy nhưng họ không dám gọi,” ông nghĩ.

Theo lời ông Long, nhà ông thuê có bà chủ ở cùng hai người con trai, ngoài ra còn có một cô sinh viên ở trọ.

Sau ba đêm ở motel, đến ngày Thứ Ba, trước khi rời khỏi đó, ông Long mới nhìn thấy được số phòng là 116 và tên motel là Flamingo.
Tiến về San Jose
Ông Long nhận ra ông đang được Bắc chở đi San Jose nhờ nhìn thấy các bảng tên đường.

“Bắc chở tôi bằng xe của tôi. Tên Trung Ðông và Tiêu đi bằng xe van do Bắc lấy. Khi đó, tôi mới nhìn thấy chiếc xe van đó gắn những bảng số mà tụi nó ăn cắp ở bãi đậu xe trước đó.

Ðến San Jose, ông Long cũng được yêu cầu đưa ID để mướn phòng ở motel.

Ông nói, “May mắn là tôi nhìn được cái danh thiếp của motel là '1050 Alabeta, phòng 114.'”

Sau một đêm ngủ ở San Jose, sáng hôm sau, Thứ Tư, ông Long được Bắc thông dịch cho biết là “tên Trung Ðông và Tiêu rủ ông đi biển chơi.”

“Khi đó tôi tin chắc là chúng nó dẫn tôi đi thủ tiêu. Khi vào tay chúng, sau hai ngày đầu hoảng sợ, đến ngày thứ ba, tôi nghĩ sống chết do trời, mà chết thì coi như 99% rồi, nên tôi nghĩ thôi không còn gì phải sợ, thà làm con ma no, tụi nó mua gì tôi cũng ăn, và vui vẻ trong lòng,” ông nhớ lại.

Thế nhưng sau khi đi lòng vòng trên biển, “tôi nhớ là Santa Cruz,” ông nói “lạnh quá, đi về” thì họ lại chở ông về, dù đi bằng một con đường khác.

Ông nhớ tiếp, “Tối hôm đó, thằng Trung Ðông cũng đòi giết tôi, rồi Bắc và nó đánh nhau trong phòng. Thằng Trung Ðông đánh Bắc một thoi vô ngay mũi, một thoi vô cằm máu mủ tùm lum. Bắc không đánh lại, nó bị thằng kia đè nằm cứng ngắc dưới đất. Tôi thì ngồi yên trên giường, không dám bước xuống. Thằng Tiêu cũng sợ, đi tới đi lui chứ không nói năng hay can ngăn gì.”

Sáng hôm sau, Thứ Năm, Bắc lái xe, chở ông Long và Hossein Nayeri “đi nhiều chợ, nhưng tôi chỉ nhớ được tiệm Ross bán quần áo.”

Ông Long nói tiếp, “Hồi đó giờ tôi đâu biết chữ vượt ngục là gì, nhưng nhìn thấy trên TV có chữ 'Inmate' tôi nhớ chữ đó, cứ tìm cơ hội xem có ai đứng gần đó thì tôi sẽ nói chữ đó để họ biết mà báo động nhưng không ai chú ý hết, không có ai mua đồ gần đó hết.”

Trên đường về, Bắc dừng xe tại một tiệm Home Depot để Nayeri vào mua đồ.

“Trong khi ngồi chờ ngoài xe, Bắc nói với tôi, 'Ði chú, tôi với chú đi về dưới.' Bắc nói vậy rồi làm thinh không nói gì nữa. Tôi nghe nhưng không trả lời. Tôi chỉ nghĩ tụi nó đang bày mưu lập kế giết tôi thôi chứ không hề nghĩ chuyện nó cứu mình,” ông Long kể tiếp.

Sau đó khi về đến motel, ông Long thấy “tên Trung Ðông thảy ra sợi dây thừng.”

Ông Long nói, “Khi đó khoảng hơn 2 giờ chiều. Tên Trung Ðông và Tiêu đi ra ngoài, mang theo chìa khóa xe tôi, nhưng Bắc kêu lại. Tôi thấy nó đưa chìa khóa xe tôi cho Bắc, rồi sau đó đưa luôn khẩu súng cho Bắc.”

“Chờ Tiêu và Nayeri đi khoảng 10-15 phút, Bắc kêu, 'Mau lên chú, mau lên chú, đi đi đi.' Chúng tôi rời San Jose lúc 3 giờ chiều. Trên đường lái xe về, Bắc có nói cho tôi biết tên Trung Ðông muốn giết tôi, nhưng Bắc không muốn, kêu tôi yên trí đi, rồi kêu tôi tháo pin điện thoại của tôi lẫn của nó ra. Nhưng tôi vẫn không tin Bắc,” ông Long tiếp tục câu chuyện kinh khủng nhất mà ông từng gặp phải trong đời.
Trở lại Rosemead, Bắc muốn ông Long cứu
Bắc đề nghị chạy về nhà ông Long ngủ đêm Thứ Năm, nhưng ông Long từ chối. Vì vậy, Bắc dừng lại ở Rosemead, thuê một motel, cũng bằng ID của ông Long.

Ðêm Thứ Năm cũng là một đêm khó quên với ông Long.

Ông kể, “Tối đó, Bắc ngồi nói chuyện với tôi. Nó khóc nhiều. Nó kêu tôi bằng 'bố,' nói tôi nhận nó làm con nuôi, rồi nói, 'Bố cứu con đi!'”

“Tôi hỏi cứu bằng cách nào,” ông Long nhớ lại, “Bắc nói muốn đi đầu thú.”

Theo ông Long, Bắc đề nghị phương án thứ nhất là ông Long báo cảnh sát để lấy $200,000 tiền thưởng.

“Bắc nói tôi giữ một phần, đưa má nó và hai con nó một phần,” ông Long kể. “Tôi trả lời giờ con kêu bố bằng bố, có thằng cha nào đi làm chuyện như vậy không? Tôi không làm. Tôi nói vậy nhưng thực ra lúc đó tôi đâu biết nó thực giả thế nào.”

Kế hoạch thứ hai của Bắc là “về Santa Ana, đến gặp Theresa Nguyễn, bạn của Bắc, kêu Theresa báo cảnh sát để nó đầu thú. Nhưng Bắc không có số điện thoại của Theresa. Bắc cũng tính để Theresa lấy một phần tiền thưởng, tôi một phần, để cho má Bắc một phần.”

Ông kể, “Kế hoạch thứ ba do tôi đề nghị. Tôi nói nếu Bắc muốn đầu thú thì khỏi làm gì hết, tôi sẽ chở Bắc đến sở cảnh sát đầu thú.”

“Bắc không chịu. Nói nếu đầu thú như vậy thì hãy tìm cho Bắc một luật sư vì tụi Mỹ nó ác lắm, nó đâu cần biết mình đầu thú hay gì đâu,” ông Long nói.

Trước lời đề nghị của Bắc, ông Long cho rằng “chỉ biết Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa của cộng đồng. Ðến đó chắc hy vọng luật sư sẽ giúp.”
Ðến tìm luật sư và Bắc ra đầu thú
Sáng Thứ Sáu, Bắc chở ông Long từ Rosemead chạy thẳng về văn phòng Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa ở góc đường Magnolia và đường Hazard, Westminster, ngay trung tâm Little Saigon.

Ông Long thú nhận, “Mãi cho đến khi trên đường đến tìm Luật Sư Nghĩa, tôi mới tin rằng Bắc cứu tôi, chứ từ khi rời San Jose tới giờ tôi vẫn nghĩ Bắc và tên Trung Ðông bàn mưu giết tôi thôi. Nghĩ vậy, nên tôi nói, 'Bắc, con cứu mạng bố. Bố sẽ nhớ ơn con.”

Ông Long cho biết, khi đến văn phòng Luật Sư Nghĩa, Bắc ngồi ngoài xe, ông Long vào trong.

“Tôi lên văn phòng, gặp cô thư ký trình bày câu chuyện. Luật Sư Nghĩa ngồi trong phòng lúc đó nhưng ông không nói gì hết, tôi chỉ nói với cô thứ ký. Tôi nói có người muốn đầu thú, tôi nói đó là một trong những người vượt ngục. Nhưng cô nói văn phòng này không chuyên về luật hình sự, kêu tôi đi tìm luật sư khác đi. Tôi năn nỉ hết sức, nhưng cô một mực từ chối rồi đuổi tôi đi. Tôi ở đó khoảng 5-10 phút gì đó. Cổ đuổi tôi đi. Ông Nghĩa ngồi một góc kia không nói gì hết, chỉ ngó thôi,” người tài xế taxi kể.

Ông tiếp, “Tôi xuống gặp Bắc, nói, 'thất bại rồi Bắc ơi, họ nói ở đây không tiếp tội hình sự. Bắc nói thôi vậy là 'chết rồi, chết rồi.'”

Khi nhật báo Người Việt gọi điện thoại đến văn phòng Luật Sư Nguyễn Xuân Nghĩa để xác định tin này, thì Luật Sư Trần Sơn Hà, một phụ tá của ông Nghĩa, xác nhận, “Ông ấy (Long) có đến đây nhưng chúng tôi không phụ trách về hình sự nên chúng tôi không nhận.”

Sau đó, theo lời ông Long, Bắc lái xe trên đường Hazard, hướng về Santa Ana, rồi quẹo qua đường Harbor đến chỗ tiệm Auto Electric Rebuiders, nơi Theresa Nguyễn làm việc. Khi đó khoảng 11 giờ sáng.

Tại đây, Bắc đề nghị ông Long vào trong gọi Theresa hoặc Michael, là chồng của Theresa, ra gặp Bắc.

Không gặp được hai người này, chỉ có người đàn ông xưng là cha của Michael ra coi xe hư thế nào, như lời ông Long nói.

“Ông đó đi ra, dòm xe, rồi mở cửa nói gì đó với Bắc. Khi trở vô, ông gọi Theresa ra. Cô ấy ra hỏi tôi thì tôi nói có Bắc ngoài xe muốn gặp cô. Cô nghe tên Bắc không thấy có phản ứng gì đặc biệt hết. Cô kêu tôi đứng trong phòng đó, không được ra.”

“Rồi cô ra nói chuyện gì với Bắc đâu chừng 10 phút, rồi trở vô nói, 'Chú đi đi chú, lên xe đi mau đi, để Bắc tôi lo,’” ông Long kể.

“Tôi trở ra xe thì có chìa khóa xe đầy đủ hết. Theresa nói, 'Ði đi chú,' còn Bắc thì đưa tay vẫy vẫy như tạm biệt,” vẫn theo ông Long.

“Lúc đó tôi lái xe đi, bình tĩnh một cách lạ lùng. Tôi không về nhà mà lái xe qua nhà Lộc, bạn tôi ở đường Beach. Tôi vô nhà nói, 'Người chết trở về người chết trở về.' Tôi định để cho yên rồi mới báo cảnh sát.
Nhưng Lộc nói không được, mà chở tôi đi ngay đến Sở Cảnh Sát Orange County ở đường Flower, lúc đó trễ lắm là 1 giờ trưa Thứ Sáu,” ông Long tiếp tục câu chuyện.

Ông cho biết, ông ở sở cảnh sát đến gần 5 giờ chiều, rồi cảnh sát chở ông đi Rosemead để xác định lại những nơi ông và những người tù vượt ngục đã ghé qua, nhưng “tôi không nhận nhớ ra được, ngoại trừ tên motel là Flamingo và phòng số 116.”

“Lúc đi với cảnh sát thì tôi bình tĩnh nhưng không bình tĩnh hoàn toàn,” ông chia sẻ.
Những điều còn đọng lại
Ông Long sang Mỹ theo diện HO hơn 20 năm, cùng vợ và bốn người con, hai trai, hai gái. Ông nói ông từng rất khá giả nhưng khi ly dị vợ thì bước ra với ít bộ quần áo, và một chiếc xe cũ. Ông từng “cầm bảng đứng ăn xin nơi góc đường Brookhurst và đường Bolsa” và mới chạy taxi thời gian gần đây.

Ông nói, “Hiện giờ tối ngủ tôi vẫn thấy ác mộng, thấy có người hành hạ, giết mình chứ không thấy rõ là ai hết. Mặc dù trong những ngày đó ba người tù vượt ngục đó không làm gì tôi hết, không nói nặng nhẹ, không đánh một bạt tai. Nhưng ác mộng là do cái sợ của mình mà ra.”

“Nhìn lại thấy mình quá may mắn,” ông mỉm cười, sau những lúc cứ chùi nước mắt.

Khi được hỏi “ông nghĩ gì về Bắc Dương, người đã cứu ông?” ông trả lời, “Gia đình tôi, cá nhân tôi rất trọng cái ơn.”

Ông im lặng một lúc để dằn sự xúc động. Rồi ông tiếp, “Ai giúp tôi, tôi mang ơn, nhưng không phải mang ơn một ngày một bữa mà mang ơn suốt đời. Bắc là người cứu mạng tôi không mang ơn sao được.”

Ông nói thêm, “Nếu đêm đó tên Trung Ðông đừng đánh Bắc thì có lẽ mọi chuyện cũng khác. Bắc nói, 'Tôi vượt ngục với tụi nó, tính công chuyện làm ăn với tụi nó còn chưa xong mà nó còn đánh, hành hạ mình như thế này, thì nếu mọi chuyện xong rồi thì thế nào nó cũng giết tôi và chú thôi.'”

“Ngay tại lúc này, cảm xúc động lại trong ông là gì?”

Người đàn ông 75 tuổi cười, “Không nghĩ gì hết. Chỉ nghĩ được câu 'Cám ơn đời mỗi sáng mai thức dậy, ta còn một ngày nữa để yêu thương.'”
-------------------
Liên lạc tác giả: ngoclan@nguoi-viet.com

Thursday, 4 February 2016

XUÂN TỪ TRONG ẤY ...


 



Xuân từ trong ấy mới ban ra,

Xuân chẳng riêng ai, khắp mọi nhà. 

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .



Đó là hai câu mở đầu một bài thơ Xuân của Tú Xương  hồi đầu thế kỷ XX, khi vua đang còn ngự ở Huế.  Tín hiệu mùa Xuân không phải đến từ thiên nhiên, từ đâu đó nơi lộc non trong vườn, từ nụ mai hay cành đào trước ngõ, mà  phải từ “trong ấy”, chốn kinh đô.  Bánh xe thời gian vẫn quay nhưng vua chưa ban lịch thì Xuân chưa tới.  Vua đã vắng bóng từ hơn nửa thế kỷ nay, không biết cái “hồi xưa” ấy, cái “lộ đồ” ăn Tết của vua có khác chi dân không?  Xem nào ...



Lễ Ban Sóc



Đó là lễ ban hành lịch năm mới (âm lịch) do Khâm Thiên Giám của triều đình biên sọan và ấn hành.   “Sóc” là ngày mồng 1 âm lịch (ngày rằm gọi là “vọng”).  Hằng năm, cứ đúng ngày mồng 1 tháng Chạp thì  lịch năm mới được ban hành, nên mới gọi là Ban Sóc.

Sáng hôm đó, các quan  và các hoàng thân, trong  phẩm phục đại triều, phải tề tựu đông đủ và sắp hàng nghiêm chỉnh trước cửa Ngọ Môn, quan Văn bên trái   (từ trong nhìn ra), quan Võ bên phải, các hoàng thân sắp hàng cùng một phía với quan Võ, theo thứ tự cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau, y như lễ thiết đại triều nghi tại điện Thái Hòa vậy.  Đúng giờ đã định, xa giá của vua từ điện Cần Chánh ra đến cửa Ngọ Môn, chuông trống trên lầu  Ngũ Phụng (lầu trên cửa Ngọ Môn) đổ hồi, vua bước lên lầu  và an vị trên ngự tọa  thì chuông trống cũng vừa chấm dứt.  Chín phát ống lệnh nổ vang trước Kỳ Đài.

Ở dưới sân , một quan đại thần thừa mệnh vua, công bố việc ban lịch mới. Tất cả các quan hướng về lầu Ngũ Phụng lạy năm lạy,  và cuộc lễ  Ban Sóc chấm dứt, đơn giản chỉ có thế.  Vua về nội điện, các quan giải tán.  Việc phân phối lịch đến các Bộ, Viện và các tỉnh do Bộ Hộ (Bộ Tài chánh và Kinh tế) phụ trách.   Cũng có năm vua không có mặt, chẳng hạn vào dịp lễ Ban Sóc cho năm Ất Mão, 1915, đời Duy Tân, tuy nhiên các quan vẫn phải hướng về cái ngự tọa trống không đó, lạy năm lạy như thường.

Thời xưa, lễ Ban Sóc là tín hiệu mùa Xuân.  Lộ đồ ăn Tết của trìều đình và trăm họ bắt đầu từ đây.


Lễ Phất Thức


Sau lễ Ban Sóc thì  mọi người có thể chuẩn bị ăn Tết theo hoàn cảnh và khả năng của mình. Với triều đình, bước thứ hai là lễ Phất Thức.

“Phất“ là phủi (bụi); “thức“ là lau chùi.  Mỗi năm một lần, triều đình  đem ấn tín và các bảo vật khác của Nhà Nguyễn ra lau chùi sạch sẽ để chuẩn bị đón năm mới.

Lễ này thường diễn ra vào hạ tuần tháng Chạp ta.  Nội Các - văn phòng của vua - chọn ngày và lập danh sách những người tham dự để trình lên vua quyết định.  Chỉ có các hoàng thân, các quan Văn, Võ vào hàng Nhất, Nhị phẩm, nhân viên Viện Cơ Mật và Nội Các là trong số những người được đề nghị.  Vào đúng ngày đã định, tất cả  các thành viên được chọn phải tề tựu đông đủ tại điện Cần Chánh để làm lễ Phất Thức.  Bộ Lễ lo bày sẵn mấy cái bàn để làm việc.  Trong điện Cần Chánh có sáu tủ lớn đựng các bảo vật [1] như các lọai ấn bằng vàng, ngọc -- gọi là bửu tỷ -- của các đời vua, các bà hòang hậu, các thái tử; và các lọai kim sách; kim bài; phù tín; ngọc diệp, bảo kiếm của vua Gia Long; sắc phong của Nhà Thanh v.v.  Sáu tủ này vốn được niêm phong, sẽ được mở ra trước sự hiện diện của vua và hội đồng Phất Thức.  Người ta dùng khăn đỏ nhúng nước thơm (hương thủy) nấu bằng các lọai hoa, để lau chùi các bảo vật.  Trong khi làm việc, các quan đều đội khăn đóng và mặc áo thụng xanh.  Sau khi tất cả bảo vật đều đã được lau chùi sạch sẽ, lại được cho vào tủ như cũ và niêm lại bằng những con niêm làm  bằng một mảnh lụa nhỏ có đóng dấu Hòang Phong.  Lễ Phất Thức đầu tiên diễn ra vào đời Minh Mạng, năm 1837, và từ đó trở thành một nghi lễ bắt buộc của triều đình.  Lễ Phất thức cuối cùng diễn ra vào mùa Xuân năm 1945.

Lễ Tấn Xuân


Là lễ mừng Xuân trở về, do quan Thừa Thiên Phủ Dõan (tỉnh trưởng) phụ trách.  Lễ này do vua Minh Mạng qui định vào năm 1828, căn cứ vào sách Thanh Điển của Trung Quốc.

Lễ  thường diễn ra vào hạ tuần tháng Chạp ta, vào ngày Lập Xuân.  Vào sáng sớm ngày lễ, Phủ Thừa Thiên  (tức tỉnh Thừa Thiên sau này) cử người đến Bộ Lễ nhận ba cái bàn đã được bài trí đặc biệt:  một bàn có tượng con trâu bằng đất, một bàn có tượng Mang Thần, là thần chủ mùa Xuân, và một bàn để một hòn núi giả gọi là Xuân sơn bửu tọa. Người ta mang cả ba bàn đến đàn Tấn Xuân thuộc ấp Tân An, phường Đệ Lục, ở phía đông Kinh thành.  Bàn Xuân Sơn Bửu Tọa bày ở giữa, hai bàn kia để hai bên. Lễ vật dâng cúng là hương, đèn, trầm, trà, cau, trầu, rượu, giấy tiền, giấy vàng bạc, xôi, thịt. Quan Thừa Thiên Phủ Doãn đứng chánh bái tại bàn giữa, Tri huyện Hương Trà và  Tri huyện Hương Thủy phụ  bái hai bàn bên.

Sau lễ cúng, Phủ Dõan và một quan Bộ Lễ ( vào hàng Tham Tri, Thị Lang hay Tá Lý) sẽ rước  bàn Mang Thần và bàn Xuân sơn Bửu Tọa vào Duyệt Thị Đường trong Đại Nội. Đám rước khá  long trọng, có lọng che, có lính hầu cầm vũ khí (côn) và ban nhạc tấu nhạc suốt lộ trình.  Thượng thư Bộ Lễ sau đó phải tâu lên cho vua biết là mùa Xuân đã chính thức trở về.

Tượng con trâu đất, sau lễ cúng, được một viên Thông phán hay Kinh lịch mang về Phủ Thừa Thiên.  Nó sẽ được cùng tượng Mang Thần và Xuân Sơn trưng bày một năm tại công đường Phủ Thừa Thiên, còn tượng cũ thì đem chôn.

Nước ta vốn theo âm lịch nên có năm, theo tính tóan, tiết Lập Xuân đến muộn, rơi ra ngòai tháng Giêng.  Thế là cả triều đình và dân chúng ăn tết đã đời rồi mới làm lễ Tấn Xuân.  Đó là trường hợp của lễ Tấn Xuân năm Đinh Tỵ (1917), diễn ra vào ngày 13 tháng Giêng, năm Khải Định thứ 2, khi hương vị Tết hầu như không còn nữa.



 
Hình Mang thần, trâu đất và Xuân sơn bửu tọa

(hình vẽ của Tôn Thất Sa trong B.A.V.H.)


Lễ Thượng tiêu


          Là lễ trồng cây nêu.  Cũng như ngoài dân gian, ngày 30 là ngày vua cúng rước tổ tiên về ăn Tết, ngày dựng nêu, chính thức đón mừng năm mới.   Bộ Lễ có nhiệm vụ lo lễ vật cúng bái sớm, tối, tại các miếu trong Đại Nội (Thái Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu, Triệu Miếu, điện Phụng Tiên ) suốt thời gian Tết.  Đứng chánh bái tại các miếu là những người trong Hòang tộc ( các Hòang tử, các Tôn tước) đã được vua ra sắc chỉ cắt cử từ trước. Đúng 8 giờ sáng ngày 30, ống lệnh trên Kỳ đài trước Ngọ Môn bắt đầu nỗ phát đầu tiên báo hiệu lễ Thượng tiêu bắt đầu.  Từ đó cho đến 5 giờ chiều, bộ phận Hỏa lệnh phải bắn đủ 100 phát qui định.  Nêu là hai cây tre đực lớn, được dựng lên trước sân của các miếu, các cung, điện trong Đại Nội và trước các công sảnh của triều đình.  Tất cả mười cửa của Kinh thành và Kỳ đài đều phải treo cờ.

Lễ Thiết Đại Triều Nghi  mừng Nguyên Đán        

Đây là lễ quan trọng nhất trong năm: triều đình làm lễ chúc mừng vua năm mới.

Từ tờ mờ sáng mồng một Tết, các bộ phận có trách nhiệm đã dàn sẵn nghi trượng lỗ bộ từ sân điện Thái Hòa, hai bên cầu Trung Lập, ra cho đến bên trong cửa Ngọ Môn : nào ngựa với yên cương rực rỡ, voi với bành vàng , tán vàng; nào quân hầu với long trượng (côn sơn đỏ) và giáo, cùng lọng, cờ  và các lọai võ khí xưa; nào ban đại nhạc với các nhạc công trong lễ phục. Dưới thời Pháp thuộc (từ đời Đồng Khánh trở đi) còn có hai toán quân nhạc, một của Pháp và một của triều đình, để thổi kèn chào khi đại diện của Pháp (Khâm sứ Trung Kỳ, Tòan Quyền Đông Dương) đến dự lễ hoặc ra về.      

Trên sân điện Thái Hòa, các quan, trong phẩm phục đại triều, theo phẩm sơn ( bia đá nhỏ, khắc phẩm trật) sắp xếp hàng ngũ, theo thứ tự, cấp lớn đứng trước, cấp nhỏ đứng sau, mặt hướng vào điện. Từ nhất phẩm đến tam phẩm sắp hàng ở sân trên;  từ tứ phẩm xuống đến cửu phẩm sắp hàng ở sân dưới, quan Văn bên trái, quan Võ bên phải (Văn tả, Võ hữu – trong điện nhìn ra).  Các Hòang thân và Tôn Tước, các Phò mã và các công tử, sắp hàng chung với quan Võ.  Riêng các ông Hòang thuộc hàng chú bác của vua thì được đứng bên trong điện Thái Hòa.  Trong điện, ngay căn giữa, trước ngai vàng, Bộ lễ đặt một cái bàn sơn vàng, và kế đó, nơi căn tả-nhất (căn số 1 bên trái căn giữa, nhìn từ trong ra) đặt một cái bàn màu đỏ, trên đó có hai cái tráp đựng hạ biểu ( lời chúc mừng dâng lên vua), một cái là của tất cả quan lại tại triều đình, và cái kia là của quan lại các tỉnh khắp nước.  Tất cả mọi sự sắp xếp được đặt dưới sự hướng dẫn của Bộ Lễ và sự giám sát của Viện Đô Sát.

           


Khi mọi việc đã sẵn sàng, nghiêm chỉnh, hai viên quan một Văn một Võ sẽ hô lớn , “Tấu, trung nghiêm!”,  “Tấu, ngọai chỉnh” và lời tâu này được truyền vào điện Cần Chánh.  Trong điện, vua đã ngồi sẵn trên sập, trong phẩm phục đại triều, với mũ cửu long, hòang bào thêu rồng năm móng, đai ngọc và hốt ngọc trấn quê.  Bấy giờ bộ phận hộ giá mời vua lên liễn và rước vua qua cửa Đại Cung Môn, ra điện Thái Hòa.  Trong khi di chuyển, tiểu nhạc tấu suốt lộ trình, đồng thời chuông và trống trên lầu Ngũ Phụng cũng đổ hồi, báo cho biết vua đang thăng điện.  Khi vua xuống liễn, bước lên thềm điện Thái Hòa (phía bắc) thì tiểu nhạc chấm dứt, chuông trống trên trên lầu Ngọ Môn cũng im tiếng. Vua bước lên bệ và an tọa trên ngai vàng.  Trên Kỳ Đài phát ra 9 tiếng ống lệnh. Buổi lễ đại triều bắt đầu, dưới sự điều hợp của một quan Bộ Lễ.

Dưới thời Pháp thuộc, nếu có đại diện Pháp tham dự thì  khi vua vào điện Thái Hòa cũng là lúc đại diện Pháp vừa đến cửa Ngọ Môn.  Hai quan lớn, vào hàng Thượng Thư, của triều đình đã chực sẵn để đón tiếp và  hướng dẫn phái đòan Pháp vào điện Thái Hòa.  Đó là lúc ống lệnh nổ và ban nhạc thổi kèn chào. Vào điện, đại diện Pháp chào vua và đọc chúc từ, vua đáp lời qua thông dịch viên, sau đó phái đòan Pháp đứng lui về căn cuối bên trái của điện Thái Hòa, và lễ đại triều  mừng Nguyên Đán theo nghi thức cổ truyền bắt đầu.   

Ban nhạc cử nhạc mừng.

Theo lời xướng của quan Bộ Lễ, các quan lạy năm lạy.  Xong các quan quì xuống và làm lễ dâng hạ biểu.  Sau lời xướng, một viên quan Nội Các (văn phòng của vua) tiến đến bàn đỏ, lần lượt mang các tráp đựng hạ biểu trên bàn đỏ đem để trên bàn vàng giữa điện.  Ban nhạc cử nhạc mừng.  Nhạc dứt, một quan Bộ Lễ, vào hàng Tham Tri hoặc Thị Lang, bước ra giữa sân, quì xuống, hô lớn,  “Tấu, khánh hạ lễ thành!” (Tâu, lễ mừng đã xong).  Vua bước xuống khỏi ngai và trở về cung, nghi vệ giống như lúc ra đi. Trong Đại triều nghi, vua không nói một tiếng nào.  Thị vệ (quan hầu cận vua) sẽ phụ trách mang hạ biểu vào phòng ngự phê (phòng làm việc của vua).

Tháng 10 năm 1932, sau khi về nước cầm quyền được ít hôm, vua Bảo Đại ra ngay một sắc dụ bãi bỏ việc lạy, chỉ cho chấp tay xá ba xá, gọi là hành tam khấu lễ.  Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự thâm nhập tinh thần dân chủ Tây phương trong cung đình Huế.

Trong chế độ quân chủ, vua tượng trưng cho quốc gia, nên quốc gia phải lo thờ phụng các vua quá cố tại các miếu.  Tại đây, đàn bà con gái không được phép tới.  Vì vậy, vua Minh Mạng phải lập thêm một nhà thờ có tính cách gia đình, gọi là điện Phụng Tiên,  để làm nơi cho các bà (thái hậu, hòang hậu, phi tần, công chúa, công nữ) và Hòang tộc tới lui làm bổn phận hiếu kính đối với tổ tiên.   Sau lễ đại triều, vua cũng phải tới đây lễ lạy. Sau những lễ nghi chính thức này, những cuộc vui trong cung đình  (múa, hát, hát bội ) mới mở ra để trên dưới cùng vui.

Lễ Hạ Tiêu
      

Sáng ngày mồng 7 tháng Giêng, chín phát ống lệnh phát ra từ Kỳ Đài trước Ngọ Môn báo hiệu lễ hạ nêu.  Những ngày Tết đã chính thức đi qua, nhịp sống thường trở lại.

Tuy nhiên, dưới thời Pháp thuợc, vẫn còn một lễ nữa thì việc  thưởng  Xuân của vua xem ra mới trọn vẹn.  Ấy là lễ Du Xuân.

 
Lễ Du Xuân



Lễ Du Xuân là lễ vua đi dạo đầu Xuân.  Dân thì mấy ngày Tết đi đây đi đó tha hồ. Riêng vua, coi vậy mà khó đi hơn, vì lễ nghi và tình thế ràng buộc.

Lễ này chỉ có bắt đầu từ đời Đồng Khánh (1885-1889). Vua Đồng Khánh lên ngôi sau khi triều đình Huế và người Pháp thất bại trong việc đưa vua Hàm Nghi trở về Huế -- sau vụ thất thủ Kinh đô ngày 5-7-1885.  Hầu như bị giam lỏng trong cung, vua cảm thấy tù túng,  nên cái Tết năm đó, năm Bính Tuất, 1886, vua yêu cầu Tòa Khâm (chính quyền Pháp ở Trung Kỳ) và triều đình tổ chức cho vua đi dạo kinh đô vào buổi đầu Xuân để được thấy cảnh dân tình sinh họat ra sao. Được sư chấp thuận của chính quyền bảo hộ, triều đình tổ chức lễ  Du Xuân, và từ đó thành lệ.

   Sau  Tết Nguyên Đán, Bộ Lễ chọn ngày tốt để làm lễ Du Xuân. Đạo ngự (đòan vua đi) có tiền hô hậu ủng, có quân hầu, hộ vệ, cờ, quạt, lọng, tàn và nhã nhạc, gần giống như đạo ngự của lễ tế Nam Giao, nhưng qui mô nhỏ hơn. Theo hầu có các hoàng thân và các quan Văn, Võ.  Quan Võ mặc nhung phục.  Đạo ngự ra khỏi Đại Nội (Hòang thành) bằng cửa Ngọ Môn, rồi từ đó ra khỏi Kinh thành bằng cửa Đông Nam (Thượng Tứ), qua sông Hương, vào thăm Khâm sứ Trung kỳ, rồi trở về Đông Ba, Gia Hội, theo cửa Chính Đông (Đông Ba) để vào lại Kinh thành. Cờ treo trên khắp lộ trình vua đi. Đời Khải Định (1916-1925) lễ này vẫn còn duy trì.        

Những lễ hội đem thêm màu sắc cho ngày Xuân,  và làm cho hương vị mùa Xuân thêm mặn mà.  Có lẽ dân chúng kinh đô thời ấy cũng trông cho tới ngày được thấy cảnh rước thần đầy màu sắc của lễ Tấn Xuân hay cái nghi vệ huy hòang của lễ Du Xuân, mong được nghe trăm phát ống lệnh tống cựu nghinh tân đầy náo nức lòng người.  Chả thế mà ngày nay tuy không còn vua nữa, nghe nói trong Festival 2004, người ta vẫn cố dựng lại cái cảnh đạo ngự của vua trở về Hòang cung sau lễ tế Nam Giao, để hấp dẫn du khách; thời buổi kinh tế thị trường có khác!



Võ Hương-An


11/04

MỘT NGÀY VỚI MÙA XUÂN HÀ NỘI


      I. Tôi sinh ra, và lớn lên, tại Nha Trang. Gia đình bên ngoại gốc “Nhe Treng” rặt, và bên nội, gốc Quảng Trị, cũng rặt. Bởi vậy, anh em tôi trong nhà nói một thứ tiếng lai căng, ở trường học không nói tiếng Việt, nên ra ngoài không có cái giọng, kiểu “chu che bữ nê mềnh lợi eng cuôm dí ké nữ” (dịch nghĩa: Chu cha bữa nay mình lại ăn cơm với cá nữa) cố hữu của dân địa phương thứ thiệt, như mấy đứa bạn cùng xóm. Rồi sau năm 1954, người Bắc di cư vô Nam nói, ôi thôi, đủ thứ tiếng Bắc kỳ, nghe rất mệt tai. Trong số, tôi chỉ chấm, và mê, tiếng hát mượt mà, đài các, phát âm chuẩn xác của những nữ ca sĩ chính gốc Hà Nội, như Kim Tước, Thái Thanh, Mộc Lan, Tâm Vấn, và những minh tinh, như Kiều Chinh, Mai Trâm. Tất cả những mỹ nhân một thời ấy đã mang theo vào Miền Nam dáng vẻ thanh lịch và giọng nói quý phái từ Hà Nội cổ kính, và cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật.

      Hà Nội mà tôi chưa bao giờ được thấy, nhưng biết qua thơ văn nhờ hồi đi lính bắt đầu đọc những tiểu thuyết tiền chiến và những tạp chí của mấy ông nhà văn nhà thơ Bắc kỳ di cư. Nhất là nghe những ca khúc đương thời thương về Hà Nội. Trong đó có một câu, trong một bài, mà ông cậu ruột mười sáu tuổi, em út của mẹ tôi, nghĩa là dân Nhe Treng đặc sệt, cứ âm ư mãi, riết rồi thành lố bịch: “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu…” Lố bịch là phải, bởi lẽ không ai có thể gây xúc động mạnh lên trái tim thính giả trong những bài hát nhớ Hà Nội cho bằng những nhạc sĩ, ca sĩ di cư chánh hiệu Hà Nội của thời trước 1975.

      Quả vậy, Trịnh Công Sơn, tên nằm vùng phản chiến, gốc Huế, sau 1975, muốn lấy điểm với chế độ mới, cũng bắt chước viết hai ca khúc về Hà Nội, nhưng không hay bằng, vì cảm xúc, nguồn hứng rất giả tạo, và hình ảnh rất ước lệ, khuôn sáo: cũng vẫn là Hồ Tây, cũng mùa thu mây bay, cũng mùi hoa sữa, cũng cây bàng lá đỏ… Chưa kể, câu kết, trong bài “Nhớ mùa thu Hà Nội”, “Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội / Nhớ đến một người để nhớ mọi người”, muốn nhắn gửi gì đây? Chưa vội chụp nón cối, người ta phải thắc mắc: Mùa thu nào? Tổng khởi nghĩa 1945 ư? Một người nào? Đồ tể Hồ Chí Minh, với khẩu hiệu “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, mà các tù binh cải tạo đã phải nghe lải nhải hoài, phát ớn đến tận cổ?
body-Tranh-gom-6248-1409716314.jpg

      II. Hà Nội, tôi đã thấy, đã nghe, đã gặp một lần, vào tháng 4 năm 1983. Cách đây ba mươi hai năm. Không như một du khách, hay một Việt Kiều yêu nước. Mà như một tù binh cải tạo. Đúng ra gặp hai lần.  
   
      Lần đầu, cuối năm 1975, một cách chớp nhoáng, bất đắc dĩ. Tại bến cảng Hải Phòng, tôi được bốc từ tàu Sông Hương ra và tống lên xe lửa, chực sẵn để chở, cùng với hàng trăm ngàn đồng đội, lần lượt, đến các trại giam vùng biên giới, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cổng Trời… Khi đoàn tàu đi ngang Hà Nội, chắc quá nửa đêm, tôi cố nhướn mắt nhìn ra bên ngoài, từ song cửa sổ hẹp. Tàu chạy nhanh, trời lại tối, và đèn đường leo lét, chỗ có chỗ không, nên tôi không thấy gì cả, ngoài một Hà Nội còn đang ngủ say, phố xá lặng thinh, sương rơi lả tả, và những hàng cờ đỏ sao vàng giăng mắc, ủ rũ, trên những góc phố. Làm nhớ đến hai câu thơ oan nghiệt –đã bóp chết đời tác gỉả, Trần Dần: Tôi bước đi, không thấy phố, thấy nhà / Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ… Rồi tàu rẽ lên cầu Long Biên, khá dài. Tôi thấy hai bên đường sắt vài người dân đi bộ hay đạp xe, không biết về đâu, co ro trong chiếc áo tơi thô sơ. Trên sông, vài chiếc thuyền câu đậu bến im lìm.

      Lần thứ hai, lần này, tám năm sau, được tiếp xúc với Hà Nội lâu hơn, đúng một ngày, nghĩa là mười hai tiếng đồng hồ. Quả thế, một buổi sáng đẹp trời, tại trại giam Vĩnh Phú, K1, đang chuẩn bị đi lao động, tôi nghe đọc tên mình được thả –áp chót trong danh sách một trăm mười người thuộc tất cả các trại Miền Bắc, mà Vĩnh Phú chiếm nhiều nhất: có bốn mươi tên trúng số độc đắc, trên toàn năm K, trong khi ở một số trại, nhỏ hơn, chỉ có vài mạng thôi. Tôi ngạc nhiên, không biết tại sao mình lại được thả, nhưng chắc chắn không phải vì công đức cải tạo tốt, trái lại. Thây kệ, tôi tự nhủ, thắc mắc làm chi. Vội vàng về “buồng” (phòng), vì chỉ được mười phút sửa soạn tư trang. Không có gì, ngoài bộ đồ tù đang mặc trên người, và mùng, mền, khăn mặt, bàn chải đánh răng, một bịch đường táng đen, một gói bánh mì khô, hai hộp sữa đặc, và một mớ thuốc cảm, đau đầu, đầu bụng, để dành từ những lần thăm nuôi trước. Tôi tặng hết đồ ăn và thuốc men cho những anh em, lúc ấy, khai bệnh nằm nhà.

      Rồi tất cả lội bộ xuống K5, tức K chỉ huy, cách khoảng 15 km, để làm thủ tục xuất trại. Tại đây, được trả lại quần áo “dân sự”, đồng hồ, và tiền bạc bị “đăng ký” để “Cách mạng giữ hộ” khi bước chân vào trại tù đầu tiên, ở Miền Nam. Không biết đủ, thiếu thế nào, vì sau tám năm, không nhớ và điều đó không quan trọng nữa. Tù binh được thả sinh hoạt tại một buồng riêng, không được “quan hệ linh tinh” với các cải tạo viên khác.

      Khoảng 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi trút bỏ bộ đồ tù, mặc lại quần áo cũ, có anh diện giày da thay dép râu. Ai nấy mặt mày tươi rói, đẹp trai hẳn ra, như dưới chiếc đũa thần của một bà tiên, không còn hốc hác, bèo nhèo như dạo nào, nhất là sau mấy ngày được vỗ béo, ăn no ngủ kỹ. Được xe trâu chở ra tận bến phà trên sông Hồng. Sau hơn nửa giờ, cập bờ Ấm Thượng. Ở đây, phải chờ đến 10 giờ đêm mới có chuyến xe lửa từ Lào Cai đến “rước” về Hà Nội. Đi theo có hai cán bộ. Hai tên này, bình thường thuộc loại hắc ám, bữa nay có vẻ dễ dãi, chắc vì được dịp đi chơi Hà Nội hoặc tin rằng không thằng tù binh nào được thả lại dại dột âm mưu làm điều “phản động”. Để giúp thời gian qua mau, chúng tôi tụm năm tụm ba nói chuyện, cười đùa rổn rảng, hoặc mua bún, bắp luộc, xôi vò và bánh gai của các bà và em bé bán hàng rong tại chỗ –đã quá quen thuộc với những đợt thả tù binh. Nghe nói Ấm Thượng có đền thờ Hùng Vương, tôi và một anh bạn xin phép đi viếng, nhưng cán bộ bảo xa lắm, không cho. Trời hơi nóng, tôi bèn cởi áo quần nhảy xuống sông tắm. Nước phù sa đỏ ngầu, nhuộm cả ra quần đùi mới, trắng tinh. Lội ra xa, thấy sóng lớn quá, sợ bị cuốn đi, chết uổng mạng, tôi bơi vào, lên bờ nằm nghỉ, phơi nắng, đợi xe lửa.

      III. Ấm Thượng không xa Hà Nội bao nhiêu, trên dưới 100km, mà ì ạch mãi đến 8 giờ sáng hôm sau, tàu mới đến ga Hàng Cỏ, sau khi dừng lại nhiều trạm dọc đường. Đám tù phải đợi đến 8 giờ tối mới có chuyến tàu Thống Nhất vào Sài Gòn. Hai tên cán bộ điểm danh, và bắt tất cả “tập trung” ở một góc nhà ga, dặn không được đi đâu xa, “vì các anh chưa được phát giấy ra trại”. Ga tấp nập hành khách và bộ đội chờ đi các tỉnh phía Bắc, và rất đông “gian thương” (buôn bán chui) lượn tới lượn lui, rình mồi, nhiều nhất là những người mua đi bán lại quần áo, vai vác bao tải to kềnh, trông như một cảnh chợ trời, sau 30 tháng 4, 1975 tại Sài Gòn. Tất cả đều quay nhìn chúng tôi, biết ngay là đám sĩ quan tù binh cải tạo từ biên giới được thả về Nam, với cặp mắt tò mò, hoặc cảm thông. Một vài thanh niên, thiếu nữ còn dạn dĩ, đến bắt chuyện, hỏi về “quân hàm” (cấp bậc) của anh em, và xuýt xoa với nhau: “Ghê nhỉ! Trông trẻ thế mà đã là đại úy, thiếu tá cả, gần mười năm trước cơ đấy!”

      1) Các cô, các bà mua bán chui thấy một số tù binh, trong đó có tôi, mặc quần jeans, mà họ gọi là “quần bò”, liền sà đến, gạ mua. Một cô, khá xinh, mồm dẻo kẹo, chỉ vào cái quần xanh, bạc màu, bụi đời (càng bụi càng có giá, cô nói) của tôi, và bắt đầu dụ, ngon lành:
      - Ông anh bán cái quần bò này cho em nhá!
      Tôi giật mình, khoát tay:  
      - Đâu được cô! Hiện giờ tôi chỉ có mỗi cái quần này trên người, bán cho cô, lấy gì mặc?
      Cô vẫn nài nỉ:
- Thì em đổi rẻ cho anh cái quần tây thường khác.        
      Tôi vẫn lắc đầu. Rồi cặp mắt thiện nghệ của cô bỗng rà lên khắp châu thân tôi, như radar, ngừng trên chiếc áo pull trắng, cổ cao, tôi đang mặc, tuy còn mới, nhưng sau tám năm “biệt giam” trong nhà kho kín mít, đã ngả sang màu vàng nhạt, và thoang thoảng có mùi mốc, pha lẫn với hương nách cũ, chưa kịp giặt, bay ra… khá nồng. Cô lên tiếng tán, ngọt xớt:
- Hay là ông anh bán cái áo này cho em!

      Trong túi xách tôi còn một áo sơ mi xanh, nên đồng ý bán. Cô ta trả giá 3 đồng. Tôi ngồi im re. Từ hồi cha sanh mẹ đẻ đến nay, tôi có đem áo quần đi bán bao giờ đâu, làm sao biết giá cả? Một bà già, hàm răng đen láy, ngồi cạnh cô bỗng lớn tiếng nói: “Ối giời, chỉ có quân ăn cướp ngày mới giả cái giá đó. Tôi giả 5 đồng đấy, cậu bán, tôi lấy ngay!” Tôi lại càng phân vân, chưa biết xử trí thế nào thì cô nọ liếc xéo bà kia: “Tôi tăng lên 10, mụ già nhà quê Quảng Ninh có theo nổi không nào?” Nghe hai người sừng sộ với nhau, đám tù binh và cả tên cán bộ xúm lại, xem màn bán đấu giá “đột xuất”, càng lúc càng hấp dẫn. Một anh thiếu tá đồng tù đập đập tay xuống thềm xi măng, hỏi: “Mại dô, mại dô. Có ai trả thêm nữa không?” Bà già cười khẩy: “Tôi giả 12 đồng đấy, con nặc nô Hà Tĩnh có ý kiến gì không nhỉ?” Cô gái tức khí, đáp lễ: “Tôi trả thêm 3 đồng, tổng cộng 15, mụ già nhà quê Quảng Ninh thấy thế nào?” Cả đám vỗ tay rào rào, tên cán bộ cũng cười. “Mụ gìà nhà quê Quảng Ninh”, cuối cùng, chịu không thấu, bỏ cuộc. Anh thiếu tá chỉ vào “con nặc nô Hà Tĩnh”, phán: “Không ai trả thêm nữa, tôi khóa sổ nè và long trọng tuyên bố rằng cô em gái Hà Tĩnh này được trúng tuyển mua áo pull của anh trai đại úy tù binh ngụy Vĩnh Phú, với giá 15 đồng chẵn, không bớt xu nào”. Cả đám, tù cũng như dân, ôm bụng cười lăn. Tiền trao áo múc, tôi bèn cởi ra ngay tại chỗ, giao tận tay cho cô. Vào thời điểm đó, 15 đồng là món tiền phải chăng, vì giá một tô phở khoảng 7 đồng, một ly bia 3 đồng. Tổng kết, có hai mươi tù binh “bị” mua áo, mua quần trong buổi sáng đó. Đủ tiền bát phố Hà Nội trong một ngày.

      2) Bất ngờ có tiền phụ trội trên trời rớt xuống, cộng vào món tiền khiêm tốn được trại trả lại, tôi bỗng nổi hứng, đóng vai trưởng giả học làm sang: tắm nước nóng. Phòng tắm kế bên sân ga, thấp, nhỏ, mái tôn và vách lợp bằng tre đan. Trên cửa, viết nguệch ngoạc ba chữ bằng vôi trắng: Tắm lước lóng. Phòng chỉ có một lối ra vào. Giá vé là 2 đồng, trả trước cho một chị sồn sồn, hô răng, ngồi gác bên ngoài. Vừa lom khom chui vào, đóng cửa lại, chưa kịp làm gì, tôi nghe có tiếng nước xối ở gian trong, và dưới ánh nắng lùa qua khe hở, thấy vắt ngang trên tấm liếp ngăn hai gian một quần tây xanh đậm, và một áo lụa vàng, có thêu chim cò, kèm theo hai mảnh đồ lót, trên trắng, dưới hồng, rất “hiện đại”, rất khêu gợi mà, tôi đoán nhanh, chủ nhân chắc chắn không thể là một trong những “mụ già nhà quê Quảng Ninh” khi nãy. Tôi đang đứng lóng ngóng, chưa biết phải làm gì, thì từ phía trong vọng ra một giọng Bắc còn trẻ, nhưng không phải âm hưởng Hà Nội, của một cô chắc đã nhìn thấy tôi qua khe liếp, trong gian ngoài đầy ánh sáng: “Anh là tù cải tạo hả? Đừng ngại, cứ vô tư cởi quần áo ra, phòng tắm công cộng, ai cũng làm như thế cả!” Tôi im lặng, vì sợ gặp phải thứ dữ, chứ có gái nhà lành nào cả gan dám tắm truồng chung đụng như thế, chưa kể tắm xong, làm sao đi ra, nếu gian ngoài đang có người? Tôi đứng bất động như người trúng gió, căng mắt dòm vào, nhưng bị bóng tối ghen tuông che kín, không cho thấy chi hết. Sau tám năm thiếu đàn bà, trí tưởng tượng vụt bay lên, bay cao, bay xa, rạo rực, nhưng cố dằn xuống kịp thời.
      Tôi múc, bằng gáo, nước từ trong hai cái vò sành, bắt đầu súc miệng. Nước quá lạnh, buốt thấu răng, và óc, làm tê liệt giây thần kinh thèm muốn. Tôi mở hé cửa ngoài, thò đầu ra, khiếu nại với chị bán vé. Chị ta trả lời, đúng bài bản, như quá quen với “sự cố” này: “Bữa lay, nhiều khách tắm quá, bác ạ, đến nượt bác thì lước lóng hết đột xuất, em đun không kịp, bác cố gắng khắc phục tắm bằng lước nạnh hộ em!” Tôi đành rửa mặt, và nhúng khăn lau sơ phần trên, rồi mặc lại áo, đi ra. Xong một buổi tắm “lước lóng”. Tại thủ đô nước CHXHCNVN, năm 1983. Không biết bây giờ phòng tắm dã chiến bên hông ga Hàng Cỏ ngày ấy có còn không.

     3) Vì thời gian chờ xe lửa quá lâu, theo đề nghị của anh em, trưởng đoàn tù binh, trung úy người Huế –được bầu một cách “khẩn trương” do nhu cầu công vụ– xin cán bộ cho phép anh em đi “tham quan” Hà Nội mùa xuân. Hai cán bộ “hội ý” với nhau, và chấp thuận, với điều kiện không đi xa và phải trở lại ga trước 7 giờ tối, ai trễ sẽ bị bỏ lại, ráng chịu. Lúc đó mới 11 giờ trưa. Tất cả hồ hởi phấn khởi xuất quân. Một vài anh em già, yếu, bệnh, mệt, ở lại nhà ga, và tình nguyện giữ hộ các túi xách với lời bảo đảm sẽ được “đền ơn bội hậu” khi anh em đi chơi về.
      Tôi rủ ba người bạn khá thân cùng đội tù K1 đi chung, trong số có một ông Thiếu tá già Tiếp Liệu Bộ Tổng Tham Mưu, cởi mở, chính gốc Hà Nội, nói năng lúc nào cũng từ tốn, chậm rãi, rề rà, nghe sốt cả ruột. Vừa rời sân ga, ông Thiếu tá bỗng dừng lại, vẻ mặt đăm chiêu, mắt ngó ngang ngó dọc, chỉ chỏ cho ba chúng tôi, không phải dân Bắc kỳ, và nói:
      - Hồi năm 1954, nhà tớ ở gần ga Hàng Cỏ này, trong khu Hàng Bông - Thợ Nhuộm, tức phía Cửa Nam. Không biết căn nhà có còn đấy không.
      Rồi ông dẫn cả bọn đi loanh quanh, và cuối cùng chui vào một dãy phố, đối diện ga. Những túp nhà chạy dọc theo con phố đều cũ mèm, mái đã rêu phong với những viên ngói lung lay, như răng bà lão, không biết bay theo gió lúc nào, tường vôi lâu ngày loang lổ thành màu trắng đục, có chỗ lòi ra một lớp gạch xám xịt. Phía trước là những hiệu buôn, được ông thiếu tá gọi là “hàng”, thấp lè tè, bước vào sơ ý là bị đụng vỡ đầu, nối liền với những “căn hộ” phía sau, cao hơn, lớn hơn. Sau một phút lưỡng lự, ông bước vô một gian “hàng”, không biết tên gọi là gì, có lẽ hàng Giày, vì bán toàn giày dép. Nghe ông kể, khi cả gia đình ông leo lên tàu há mồm vào Nam, thì, dĩ nhiên, cửa hiệu bán guốc và nhà ở của gia đình ông bị tịch thu, và đổi chủ. Chủ mới, không biết mấy đời rồi, là một anh trung niên, nói tiếng Quảng Bình giả giọng Bắc, lịch sự hỏi: “Các bác muốn gì ạ?” Ông thiếu tá già cười, mà như mếu, theo nghĩa hoàn toàn đen, vì tám năm dài đằng đẵng trong tù bạn bè đã bẻ giùm ông, bằng những sợi chỉ bện lại, mất hết năm răng cửa và hai răng hàm: “Trước năm 1954, tôi đã ở nhà này”, ông trả lời. Rồi xin ra phía sau để nhìn lại nó, và kể hết đầu đuôi câu chuyện. Nghe xong thiên tình sử, anh chủ mới mủi lòng, ân cần mời ông chủ cũ lên cầu thang gỗ thăm lại căn nhà của chính ông.  

      4) Ba thằng chúng tôi, hai Nam kỳ, và một Trung kỳ, không có dây mơ rễ má gì với cố đô Hà Nội, hay tàu há mồm, xin rút lui, để mặc ông thiếu tá già thoải mái đi tìm thời gian đã mất, như văn sĩ Pháp Marcel Proust. Lúc ấy có hai đồng tù trẻ, khác K, xin nhập bọn. Tiếp tục dạo phố. Vừa đi tôi vừa quan sát, ngắm nhìn thiên hạ, vừa nghĩ đến những giai nhân Hà Thành trước kia, mà suốt bao năm tôi đã ấp ủ trong tim bóng hình thướt tha và giọng ca vàng đầy chất Hà Nội được phát thanh trực tiếp trên các làn sóng Sài Gòn. Hay lãng mạn, hư cấu hơn, những nữ nhân vật có học, duyên dáng trong tiểu thuyết của Nhất Linh và Khái Hưng –mà khung cảnh đều là Hà Nội của những thập niên 30, 40. Và, trên hết, các công chúa Mỵ Châu, Lý Chiêu Hoàng, Trần Huyền Trân, Lê Ngọc Hân của Thăng Long nghìn tuổi, mang kiếp hồng nhan bạc phận trong thực tại lịch sử, đã làm ngây ngất trí tưởng nơi người hậu thế “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” (Kiều), như những giấc mơ huyền thoại quyến rũ, dị kỳ.

      Những cô gái, gọi là Hà Nội, dưới thời Việt Cộng, mà hôm nay tôi mới được diện kiến trực tiếp, thấy khác lạ quá đỗi. Đã thiếu nhan sắc, và thước tấc, mà lại kênh kiệu, nói năng cộc lốc, không bao giờ được học và nói hai chữ “cám ơn” và “xin lỗi”. Mặc áo sơ mi nhét trong quần tây, theo mốt hiện hành, bỏ chiếc áo dài cổ truyền, và chân đi “sa-bô” (sabot?), danh từ tôi mới nghe lần đầu, tức loại giày nhựa, bịt kín phía mũi, gót để trống, đế rất cao, như một thứ dép tân thời, thay cho “thanh bình tiếng guốc reo vui” ngày xưa của nhạc sĩ Hoàng Dương. Lại còn giọng nói nữa. Lạ lắm, trời ạ! Tiếng Hà Nội gì mà nghe như pha với giọng Nghệ An của “Bác”, hay Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Bình. Những dấu sắc, huyền, nặng, hỏi, ngã phát ra lung tung, loạn xạ, tùy tiện. Nghe chua lè, còn hơn giấm. Bởi thế, khi giọng nói Hà Nội ấy bay vào Miền Nam, sau cuộc đổi đời, người dân Sài Gòn nhận ra ngay sự khác biệt rõ rệt giữa hai thứ tiếng Bắc kỳ, (19)54 = 9 nút, của Kim Tước, Thái Thanh… và Bắc kỳ, (19)75 = 2 nút, rất lơ lớ, chói tai, của những ca sĩ trẻ, từ Hà Nội, ồ ạt Nam tiến, rồi sau đó và bây giờ, thừa thắng xông lên, xâm nhập luôn những Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn tại Mỹ, vô tình hay hữu ý thực hiện chủ trương “giao lưu văn hóa” của VC, tiếp tay bởi tên nhà văn MC thò lò hai mặt. Về dung nhan, các ca sĩ ấy vượt trội những cô gái mà tôi đã gặp tại Hà Nội năm 1983. Nhưng giọng nói “2 nút” chua lè thì vẫn y chang.

      5) Lang thang mãi, mỏi chân, và đói bụng, chúng tôi tắp vào một quán phở, không xa ga Hàng Cỏ là bao. Ba cô gái “phục vụ” (chạy bàn), mặc đồng phục, sơ mi và quần tây, đứng ở quầy hàng, thấy năm ông khách quý bước vào, trơ mắt ngó, không thèm chào mời. Và phớt lờ, tiếp tục trò chuyện với nhau. Quán lúc ấy không có ai ngoài năm đứa tôi.      
      Chờ lâu, một anh, cựu trung úy Biệt Động Quân, người Nam hiền khô, nhưng tướng rất ngầu, da ngăm ngăm đen, nói năng bạt mạng, lại ngọng nữa, sốt ruột, lớn tiếng hỏi:     
      - Nè, bộ mấy bà chê tụi tui không tiền hay sao mà không ai ga (ra) tiếp dzậy?
      Một cô trả lời, giọng Bắc the thé như lai tiếng Thanh Hóa, Nghệ An:
      - Ăn gì thì đến quầy mà gọi.     
      Anh BĐQ đứng lên, khệnh khạng tiến tới quầy, hai tay thọc trong hai túi quần. Tôi bước theo, sợ to chuyện, và nhắc nhở “tụi mình vẫn còn là tù binh, chưa được phát giấy ra trại”. Anh hiểu, và nói một hơi:    
      - Cho tụi này năm tô phở bò tàu bay Hiền Vương, tái, chín, nạm, gầu, gân, sách, nước béo, giá trụng, hành trần, chanh, ớt, tương đen, ngò gai, nhiều bánh, nghe kịp không?
       Ba cô, dĩ nhiên, nghe sao kịp, không hiểu, hay chỉ hiểu lõm bõm, trợn tròn mắt, tưởng anh nói tiếng Ấn Độ. Một cô, có lẽ tổ trưởng, xẵng giọng:
      - Đây là cửa hiệu quốc doanh. Chỉ có một loại phở mà thôi, không có thứ gì khác. Rõ chưa?
      Anh quay nhìn tôi, rồi ngó thấy cô “chằn” quá, liền xuống nước:
      - Gõ gồi (rõ rồi). Ờ, thì cô bán cho năm tô đi.  Và năm chai bia.
      - Không có bia chai, mà chỉ bia “bốc” thôi.
      Anh lại hỏi:
- Bia “bốc” là bia gì dzậy?    
     - Là bia hơi rót từ cái bình thủy tinh lớn kia, ông cụ nội ạ, chứ còn là bia  gì nữa?
Tôi cười cười, cố tình nói đùa cho tình hình bớt căng thẳng:
- Nghĩa là chưa uống nó đã “bốc hơi” bay đi hết, phải không cô?  
      Nhưng cô quốc doanh nguýt tôi, rồi lườm anh BĐQ, mắt tóe lửa, như muốn nhai tươi nuốt sống hai thằng. Và bảo “trả tiền trước đi đã”, tổng cộng cả bia lẫn phở cho năm tên “ngụy” là 50 đồng.
      Hai thằng trở lại bàn. Ngồi chờ mãi, gần nửa tiếng, mà phở, bia chưa thấy mang ra, anh lại bực bội, gõ chiếc muỗng vào cái ly nghe leng keng, rồi nói lớn:
       - Sao lâu quá gồi mà không thấy ai bưng phở, đem bia ga dzậy cà?
      Cô “tổ trưởng” từ quầy cũng to tiếng, đáp lễ:
      - Đến đây mà bê ra, không ai hầu cho đâu!
      Cả đám bật đứng lên, bước đến phía quầy, thấy một lô tô phở, không nước, làm sẵn đồng loạt từ lâu, nằm chình ình trên một cái khay lớn. Nghĩa là khách địa phương, rành thủ tục, chỉ có việc đến quầy trả tiền, lúc đó các cô “phục vụ” mới đổ nước lèo nóng vào, rồi tự động ai nấy bưng tô phở ra bàn. Phở lơ thơ vài cọng rau, chỉ có một lát thịt bò thái mỏng như lưỡi lam cạo râu, sẵn sàng bay theo cơn gió vô tình lướt qua. Nước phở còn nhạt hơn nước ốc. Bia “bốc hơi” thì khỏi nói: không khác chi nước trà lên men.      
      Ăn uống tạm no, nhưng còn ấm ức, anh trung úy BĐQ rút điếu thuốc Điện Biên ra hút, mơ màng nhả khói, như triết gia Jean-Paul Sartre trên vĩa hè Paris, rồi than nhỏ với tôi: “ĐM. Cái gì cũng quốc doanh, không khá nổi. Phở, bia, hay cha, thầy, sư quốc doanh gì cũng đều cà chớn gáo (ráo) trọi”.        
      Ra đường, gặp một toán khác đi ngược chiều –khoe vừa mới nhậu thịt chó xong. Hỏi ngon không, thì một anh hậm hực trả lời: “Ngon gì mà ngon. Thịt chó quốc doanh chỉ có độc mỗi món luộc chấm với mắm tôm, không ớt, mùi tanh lắm. Nhưng lỡ trả tiền rồi, cũng phải ráng nuốt thôi. Thịt chó Hà Nội gì mà bết bát hết sức, thua xa thịt chó Hố Nai”.

      IV. Rồi năm đứa chia tay nhau, đường ai nấy đi, hồn ai nấy giữ. Hẹn trở về ga Hàng Cỏ trước 7 giờ tối, hoặc sớm hơn. Còn ít nhất bốn tiếng nữa để mà giết. Làm gì cho hết nửa ngày nữa?
      Tôi nẩy ý muốn đi xem phong cảnh Hà Nội. Bèn vẫy một chiếc xích lô. Phu xe là một thanh niên trên ba mươi, tên Tứ, dáng dấp khỏe mạnh, nói nhiều, giọng Bắc Khu Tư (Vinh). Tôi thương lượng:    
      - Anh chở tôi đi chơi vòng vòng xem cho biết Hà Nội, cứ đạp từ từ, đến chỗ nào cũng được, tùy ý anh, trong ba tiếng, rồi chở tôi trở lại ga Hàng Cỏ trước 7 giờ. Anh lấy bao nhiêu?
      Anh mau mắn đáp:
- Dạ, bèo lắm thì cũng 40 đồng đấy anh ạ…
      Tôi vừa ngồi lên nệm xe, anh đã đề nghị đi Hồ Hoàn Kiếm trước. Hà Nội đang còn mùa xuân, hai bên đường hoa nở rộ, thắm tươi. Những cành đào nặng trĩu hoa, rực rỡ một màu đỏ hồng, cong xuống, la đà theo gió. Thấy tôi mải mê ngắm nghía một cách thích thú, Tứ góp chuyện:
      - Còn một loài hoa nhỏ, chỉ nở từ tháng 3 đến cuối tháng 4, tức tháng này, trắng xóa ven đường, lại tỏa hương thơm nhè nhẹ. Tuyệt vời, anh ạ. Đó là hoa sưa... Đấy, anh ngắm đi, kia kìa, đúng là một cảnh tuyết, giống ở Sapa...
       Tôi hỏi lại:
      - Hoa sưa hay hoa sữa?
      - Dạ sưa. Du khách Sài Gòn ra, ai cũng lộn.
      Dọc đường, ít thấy xe hơi, xe gắn máy hay bộ hành qua lại. Du khách ngoại quốc, hay Việt kiều, cũng vắng. Một thủ đô đang hấp hối hay đang ngái ngủ, tôi có cảm tưởng, lạc hậu nhất trên hành tinh này. Lãnh đạo tự phong toàn là một lũ thất học, ngu đần, lúc bấy giờ còn say men chiến thắng, còn bận nhiều việc: trả nợ cho hai nước “anh em vĩ đại”, Liên Xô và Tàu Cộng, trả thù người chế độ cũ, lùa hàng trăm ngàn tù binh “ngụy” vào rọ “học tập cải tạo”, đày dân đi vùng kinh tế mới để cướp nhà của họ, vơ vét và chia chác của cải từ Miền Nam khuân ra Bắc, khoác lác khoe khoang với thế giới rằng “VN đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, Pháp và Mỹ”, và “VN chúng tôi có quá nhiều anh hùng, vừa ra ngõ là gặp anh hùng”... Nên chúng chưa có kế hoạch phát triển kinh tế, làm cho đất nước giàu mạnh.

      Xích lô chạy một hồi, đến hồ Hoàn Kiếm lúc nào không hay. Tôi bước xuống, đi bộ lên thảm cỏ xanh. Những nhánh liễu ven hồ, rũ xuống, tàn lá lưa thưa, không đủ “che nửa mặt hoa” (Bạch Cư Dị) của những cô gái trẻ ngồi tâm sự bên tình nhân, trên ghế đá. Tôi thấy họ có vẻ ngượng nghịu, lúng túng đến tội nghiệp khi nắm lấy tay nhau, nói chi ôm nhau, hôn nhau. Thương cho họ. Và ở một cảnh ngộ khác, thương cho chính tôi và những chiến hữu bất ngờ trở thành tù binh, không kịp hẹn trước với Định Mệnh, vừa đứng trước cổng trại giam là đã phải bỏ lại tất cả: quá khứ, vị lai, tình yêu, ước mơ, và thảm não hơn, hy vọng. Dường như những cặp tình nhân này mới dưới quê lên thành phố, hoặc vừa được Bác và Đảng “cởi trói” cho phép yêu nhau, sau tám năm “chiến thắng” Miền Nam, trong khi Bác và bè lũ, những con yêu râu xanh thời đại, tha hồ “đồi trụy”, vợ nọ con kia, mà mồm cứ phun ra những lời sặc mùi đạo đức giả.

      Những tia nắng lấp lánh đuổi nhau trên mặt hồ. Nhìn xa thấy màu nước đẹp lung linh, xanh như một tấm thảm rêu trải dài. Gần bờ, trái lại, nước hồ quá bẩn, có chỗ lềnh bềnh những rác rưởi, giấy báo, bao ni lông, lon, ca, cóng do ai vứt xuống bừa bãi, tắt nghẽn, không trôi đi được. Trước kia, tôi đã đọc trong một quyển tiểu thuyết và nghe các ông bạn lớn tuổi, chính gốc Hà Nội ba mươi sáu phố phường, kể rằng quanh bờ hồ Hoàn Kiếm thời trước 1954, sạch sẽ lắm, là nơi tụ họp vui chơi cuối ngày, và cuối tuần, của đông đảo dân Hà Thành, có những kiosques bán kem và lạc rang húng lìu nóng dòn, có giọng ca nhí nhảnh của Joséphine Baker phát ra từ đĩa nhạc xưa, “J’ai deux amours: mon pays et Paris...”, nhưng bây giờ, đứng đấy, tôi không nghe, không thấy gì hết. Cũng như, theo lời Tứ kể, ở Hồ Tây, mà anh ngại xa không muốn chở đến, không còn những chiếc périssoires (thuyền thoi) –mà dân Đà Lạt rất quen thuộc trước 1975, trên hồ Xuân Hương. Hay người Cộng sản không biết ăn kem Bờ Hồ, không biết nhai lạc rang, không biết nghe nhạc Pháp, không biết bơi thuyền thoi, cho đó là sản phẩm của Thực dân, Đế quốc? Vua Lê Lợi nếu sống lại chắc sẽ căm giận lắm về những hậu sinh khả ố, mất dạy, mê muội hiện tại, nhắm mắt theo đuôi chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn. Tôi cầu xin, khi mùa đông về, mưa bay lất phất, rùa thần nổi lên mặt hồ, cho ngài mượn lại thanh kiếm báu để chém bay đầu bè lũ chúng nó, như trưóc kia đã chém bay đầu Liễu Thăng và giặc Minh...

      Rời hồ Hoàn Kiếm, Tứ chở tôi dạo một vòng Bưu điện gần đó, là một tòa nhà đồ sộ xây theo lối Tây, và xa hơn, những “phố” (thực ra là những con đường) Huế, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng... mà tại mọi góc đều có Công An đứng gác, súng ống trang bị đến tận răng, mắt cú vọ nhìn gốc cây nào cũng thấy “phản động”, mặc dù đất nước đã thanh bình lâu rồi.
      Khi tôi ngỏ ý muốn đi thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Tứ lẩm nhẩm tính:
      - Đến Văn Miếu thì phải vòng trở lại ga Hàng Cỏ, qua phố Hàng Lọng, theo phố Sinh Từ...
       Tôi cắt ngang:
      - Anh có nói, tôi cũng chẳng biết phố nào là phố nào. Thôi, tôi nhắm mắt để anh chở tôi đi đường nào cũng được.
       Như tên gọi, đó là một khu “miếu” lớn, với lối kiến trúc cổ xưa, từ thế kỷ XV, trang nghiêm, thanh nhã, gồm một gian thờ Khổng Tử và môn đệ, một lầu vuông tám mái gọi là Khuê Văn Các, nơi bình thơ của các sĩ tử, cạnh giếng Thiên Quang mà hai bên tả, hữu thấy dựng hai hàng bia đá khắc tên tám mươi hai vị đỗ tiến sĩ, qua các triều đại. Trên cổng ngoài cùng có vẽ hình hai con cá chép theo điển tích “cá vượt vũ môn”, ngụ ý người học trò đi thi được ví như cá chép phải vượt ba đợt sóng dữ, tại cửa sông, mới biến thành rồng, chỉ sự thành công tột bực. Chứ không phải, tôi nghe ai kể, các thí sinh thích ăn cá chép, theo cách hiểu của đa số học sinh XHCN bây giờ. Bước đi, tôi thấy người bỗng thoát trần, xa rời tục lụy và thực tế tối đen, xấu xí hiện nay, để lòng nhẹ tênh. Như bay bổng trong không gian và thời gian lồng lộng. Như nghe tiếng thiết tha gọi vê từ đáy Hôn Dân Tộc thanh cao của bốn ngàn năm văn hiến và từ những trang Sử Việt oai hùng qua bao dòng đời hưng phế, với Trưng, Triệu, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn... những triều đại bị bọn “đỉnh cao trí tuệ” Trường Sơn chê là phong kiến, lạc hậu, độc tài, mà người dân vẫn được tự do đi lại, vẫn được ăn no mặc ấm, vẫn được vua chúa thương yêu như con, vẫn được học hành đến nơi đến chốn theo truyền thống nhân bản, vẫn được gọi mời tham gia vào công cuộc trị nước và giữ nước. Mà những tiến sĩ, đang hiện diện trong Văn Miếu kia, được vinh danh và trọng vọng nhờ vào thực tài, đức hạnh, chứ không bởi văn bằng dỏm, văn bằng lậu, văn bằng tậu được do tiền bạc và mánh mung, như trong thời kỳ đồ đá, đồ khỉ, đồ đểu hiện nay...

      V. Từ giã Văn Miếu, thấy còn dư một tiếng, tôi đề nghị Tứ chở đi xem giếng ngọc của Trọng Thủy và Mỵ Châu –mà chuyện tình diễm ảo và bi thảm đã ám ảnh, mê hoặc hồn tôi, từ lúc còn trẻ cho mãi đến bây giờ, hơn bất cứ chuyện tình diễm ảo và bi thảm nào trong văn chương thế giới, kể cả Tristan et Iseut  hay Romeo and Juliet. Tứ đáp:
      - Xa lắm anh ạ, tận mãi Cổ Loa, quận Đông Anh, phía Bắc, cách Hà Nội 16km, không đi xích lô được, vả lại không kịp giờ lên xe lửa đâu.      
      Đành trở lại ga Hàng Cỏ, trước giờ qui định. Trao tặng những anh giữ-hộ-viên-túi-xách một bịch chuối ép khô mua tại cửa Bưu điện, và kể sơ về chuyến du hành bằng xích lô. Hai cán bộ đã có mặt. Rồi lục tục, các đồng tù trở về “trình diện” kịp, hay trước, giờ, vì không ai dại, làm lỡ chuyến tàu xuôi Nam. Đúng 8 giờ tối, tất cả lên tàu, ngồi trong một toa, do “trên” (nhà nước) dành riêng, sau khi cán bộ đọc tên và phát cho từng người giấy ra trại, kèm theo lời dặn dò, hay mệnh lệnh chót, “các anh nhớ thi hành tốt lệnh quản chế địa phương, và phấn đấu làm ăn tốt, xây dựng xã hội chủ nghĩa, đừng trốn chạy ra nước ngoài”. Hai tên cán bộ ở lại ga, và chúng tôi hoàn toàn tự do, từ đây, ít ra trong đêm đó.

      Tàu khởi hành trễ nửa giờ. Chạy khoảng một tiếng thì ngừng lại tại một ga nhỏ, đón khách “nhảy tàu” (buôn bán lậu trên xe lửa) ra Bắc và trở vào Nam. Đa số là phụ nữ Miền Nam, còn trẻ, biết có một toa tù cải tạo được thả, họ đem hàng đến gửi, nhét đại phía dưới ghế ngồi, vì qua kinh nghiệm, tin rằng công an không bao giờ vô lục khám. Chúng tôi thông cảm, để mặc, và ngược lại họ mua bánh trái đãi đằng để trả công ơn đồng lõa. Vài người, mà thân nhân còn trong tù cải tạo, đứng nán lại, hỏi han, tâm sự. Và bất ngờ, tôi được biết trong số có một chị là vợ của một trung úy, đồng đội K1, không được thăm nuôi, đói, nhưng rất có bản lĩnh, tư cách. Tôi nói nhỏ với chị:
      - Ảnh đói lắm. Chị ráng thu xếp ra thăm ảnh một chuyến.
      Chị bật khóc, nước mắt đầm đìa, trả lời:
       - Em biết. Và thương ảnh lắm. Nhưng nhà nghèo quá, phải nuôi đàn con nhỏ nữa. Khi nào dành dụm được chút ít, chắc chắn em sẽ ra thăm ảnh. 
      Cảm động, tôi móc từ túi quần được một nắm tiền, chừng hơn 100 đồng của trại trả lại, kín đáo đưa tặng chị, nói để “mua quà cho các cháu”. Chị không nhận, và vì tế nhị, tôi không nài ép. Cách đây hai năm, tình cờ tôi gặp lại anh chị –qua Mỹ theo diện HO, và làm ăn khá giả, con cái thành đạt– tại nhà một người bạn chung. Sau ba mươi năm, chị nhìn tôi, xa lạ, không nhận ra là ai, và tôi cũng không nhắc gì về chuyến tàu đêm năm cũ ấy.

      Tàu chạy thâu đêm, qua những địa danh lịch sử, tôi chỉ nghe nói đến mà chưa hề thấy tận mắt, như Hà Tĩnh, quê hương tuổi nhỏ của đại thi hào Nguyễn Du. Hay Quảng Bình, nơi sinh quán của Tổng thống Ngô Đình Diệm, với Đèo Ngang nổi tiếng trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và sông Gianh phân chia ranh giới Bắc Nam giữa quân Trịnh và quân Nguyễn, thế kỷ XVII. Khi đến Cửa Tùng, An Du Tây, Quảng Trị, quê nội tôi, trước khi tàu qua cầu Bến Hải, tôi nhìn chăm chú ra ngoài, như một phản xạ, nhưng không thấy gì cả ngoại trừ một vùng đồng ruộng tăm tối, bao la. Tự nhiên, một cảm giác xa lạ, trống vắng xâm chiếm tâm hồn. Và thấy đắng chát trong cổ họng... Bởi một nơi không đến bao giờ, và không có một chút kỷ niệm, dù là quê cha đất tổ, cũng chỉ là một chấm đen trên bản đồ. Tôi gục đầu xuống thành cửa sổ, muốn khóc. Bỗng nhớ ba tôi quay quắt, đã mất không lâu trước đó, mà tôi không được gặp mặt. 
     
      Ngược lại, tại sân ga Huế, sáng trưng ánh đèn, một cảnh sinh hoạt náo nhiệt diễn ra, dù đã quá nửa khuya. Khi những em bé bán bánh, nước trà bắt gặp chúng tôi ngồi la liệt trong toa đặc biệt, biết là tù “ngụy” trở về, liền báo động cho những đồng nghiệp lớn tuổi, và một đám các bà, các o chạy túa đến, reo vui: “Sĩ quan cải tạo về kia tề, anh mô cũng đẹp trai hết, không như mấy cha bộ đội. Thấy các anh cực khổ mà thương chi lạ!”. Vài anh thò đầu qua cửa sổ mua bánh, chuối, thịt gà chiên, nhưng họ không lấy tiền. Lại còn, khi tàu chuyển bánh, chạy theo, ném thêm qua cửa sổ...

      Sáng hôm sau, tàu ngừng tại ga Nha Trang, lúc 9 giờ. Tôi thuê xích lô trở về nhà. Xuất hiện tại cửa như một bóng ma hiện hình. Mẹ và Bội Trân đứng sững giây lâu, rồi cả hai ôm chầm lấy tôi, khóc nức nở. Tôi hôn lên má, lên tóc Mẹ, và qua vầng trán nhăn nheo và mái đầu bạc trắng, ngậm ngùi tưởng nhớ dung nhan của Mẹ ngày xưa và tình thương bao la suốt đời Mẹ dành cho từng đứa con. Tôi nhìn Bội Trân, người em kiều diễm của tôi, sau ngày đất nước đổi chủ, đổi tên, đã bị trời xanh quen thói má hồng đánh ghen bắt chịu nhiều nỗi truân chuyên, như người chinh phụ trong Đoàn Thị Điểm. Ôm em trong tay mà tưởng như ôm một khối tình sầu hóa thân chất ngất, chưa tan, mà biết rằng em, qua dòng lệ mừng cho tôi, cũng đang khóc nhớ hôn phu –một phi công, vì em không đi, đã ở lại Sài Gòn sáng 30 tháng 4, để bây giờ vĩnh viễn gãy cánh, nằm xuống tại một nơi nào trong trại tù Thanh Phong. Bởi em buồn, tủi phận, tôi cũng thấy hồn mình nát tan, không muốn bộc lộ nỗi vui được thả, không muốn kể gì về những trại tù đã đi qua... Xem tất cả như một chương đời khổ nạn khép lại, một cơn ác mộng phải quên. Cho riêng tôi, và cho giùm em gái và những người vợ tù khác.

      VI. Ba mươi hai năm qua, kể từ ngày ấy. Biết bao nhiêu chuyện đời xảy đến. Từ Mỹ, tôi đã đi thăm nhiều thủ đô lớn, nhỏ trên thế giới. Nhưng vẫn không sao quên được hình ảnh Hà Nội tuyệt đẹp, mà tôi đã gặp trong sử sách, cùng với hình ảnh cố đô Thăng Long cổ kính và huyễn mộng qua hàng chục thế kỷ chiến tranh giữ nước. Thăng Long, hay Hà Nội. Của một Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, rồi cưỡi thiết mã bay về trời. Của một Lý Thường Kiệt đứng trên sông Như Nguyệt, sang sảng ngâm bài thơ, được xem là bản tuyên ngôn đầu tiên về chủ quyền quốc gia Việt Nam, cách đây mười thế kỷ, độc đáo nhất, quyết liệt nhất: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư / Tiệt nhiên định phận tại thiên thư / Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm / Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư...”, trước khi xuất trận đánh tan quân xâm lược. Của một Trần Nhân Tông và các bô lão trong Hội Nghị Diên Hồng, đồng thanh quyết chiến đến cùng. Của một Trần Hưng Đạo với câu nói, có một không ai trong lịch sử nhân loại về sự hy sinh tột độ cho đất nước: “Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng” –là danh tướng duy nhất trong quân sử thế giới đã đánh bại đế quốc Mông Cổ (tức nhà Nguyên), hùng mạnh nhất lúc bấy giờ, bách chiến bách thắng, mà vó ngựa đã giẫm nát toàn cõi Đông Âu, Nga, Trung Đông và Đông Nam Á. Của một Trần Bình Trọng, bị bắt, với thái độ hiên ngang, ngẩng cao đầu trước địch quân: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Của một Lê Lợi với hơn mười năm kháng chiến nằm gai nếm mật. Của một Nguyễn Trãi với chính sách thu phục nhân tâm diệu kỳ, “Lấy trí nhân thay cường bạo”. Của một Nguyễn Huệ với những chiến thắng mùa xuân thần tốc lẫy lừng. Của một Hoàng Diệu, tổng đốc trung liệt, đã tuẫn tiết cùng chết với thành Hà Nội. Của toàn dân, qua các triều đại, đã sát cánh với vua, quan, tướng lãnh đánh đuổi bọn Đại Hán xâm lược, mà dù là Ân, Ngô, Tống, Nguyên, Minh, Thanh xưa kia, hay Mao (Cộng) ngày nay  –tất cả đều là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

      Cũng như tôi không sao quên được hình ảnh, ngược lại, điêu tàn của một Hà Nội mà tôi đã gặp vào một ngày mùa xuân 1983, cổ lỗ và rách nát trong tay giặc Việt Cộng. Dưới sự thống trị của bọn lãnh đạo ma đầu thay nhau tự phong, ngu dốt, tham tàn, phản bội dân tộc, rước voi về giày mả tổ, thấy kẻ thù là run như cầy sấy, nhưng đối với dân thì hung bạo, đánh đập, bắn giết, bỏ tù. Hà Nội trong mắt tôi, ngày xuân ấy và nhất là bây giờ, dưới xích xiềng giặc Việt Cộng, chỉ là thủ đô của hận thù, của hạ tiện, của xảo trá, của băng hoại về mọi giá trị đạo đức, xã hội, giáo dục, kinh tế, an sinh và lương tâm. Chỉ là biểu tượng của một đất nước mà dân nghèo phải đầu tắt mặt tối, bươn chải kiếm sống, mà học sinh phải đu dây qua sông để đến trường, mà dân giàu lo ăn chơi, trụy lạc, say xỉn, mà tướng tá và công an được mua bằng tiền, tự biến thành chó ngựa, cung cúc phục vụ chế độ phi nhân, mà tất cả, trong những hoàn cảnh sống khác nhau như thế, cũng đều quên đi nhiệm vụ cao cả do tiền nhân giao phó: đứng lên chiến đấu giữ nước, trước hiểm họa Bắc thuộc do Tàu Cộng đang mưu toan với chiến thuật mới, mềm dẻo hơn, tinh vi hơn, nghĩa là bằng chính tay những thằng lãnh đạo Việt Cộng.
      Hà Nội ấy, một lần đi qua, tôi sẽ không bao giờ trở lại, dù chỉ một giờ, một phút, nếu tổ quốc Việt Nam yêu dấu chưa sạch bóng nội thù Việt Cộng, nếu người dân chưa, hay chưa thể, đứng lên tiêu diệt bọn lãnh đạo bây giờ, và ném vào sọt rác lịch sử cái chủ nghĩa Cộng sản quái thai, quái dị, quái đản, đã ngự trị từ hơn ba phần tư thế kỷ trên đất nước tang thương, bất hạnh này –đã vô phúc sản sinh ra một tên Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, còn bỉ ổi, ghê tởm hơn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống.     

      VII. Khát vọng và ước mơ tuyệt vời đó về một Việt Nam tương lai phi Cộng sản, tôi lo, khó thành hiện thực cho tôi và những ông bạn chiến binh già, trong cuộc đời này. Thời gian vô tình cứ trôi đi, và bóng đời cứ nghiêng đổ, mà giật mình ngoảnh lại, thấy chưa làm gì được cho đất nước thân yêu còn mãi quằn quại trong nanh vuốt Việt Cộng. Có thể không kịp nữa. Họa may, kiếp sau. Nếu Thần Chết không bắt chúng tôi bỏ lại tất cả mọi hy vọng,  khi bước qua bờ tử sinh. Và nếu trong Inferno, thi hào Dante cũng tha, cho những kẻ đứng trước cửa địa ngục, hình phạt nặng nề nhất, tức là phải mang theo mối tuyệt vọng đời đời. Lasciate ogni speranza voi ch’entrate (Hãy vứt bỏ tất cả hy vọng, hỡi các ngươi đang b�
 
Kim Thanh

Dạ con tên Nguyễn Ngọc Liên ...con 4 tuổi ...

Posted by Dzung Nguyen on Wednesday, 10 February 2016