TỔ QUỐC
Kính dâng linh hồn Anh Hùng Tử Sĩ và đồng bào Việt Nam đã oan thác đau thương trước, trong và sau ngày 30 tháng Tư đen 1975
******

18 April 2015

Luận về tháng 4 Đen, 40 năm ngày Quốc Hận: 40 Năm Phục Hồi Hậu Chiến Việt Nam So Với Đức, Với Nhựt, Với Nam Hàn.

 
Đôi Lời Chia sẻ :
Tuần cuối cùng của Tháng Tư Đen, gia đình chúng tôi, có truyền thống là toàn gia đình ăn chay. Ăn chay là ăn toàn rau xanh, không thịt cá thế thôi, không màu mè tương chao, đậu hủ, giả cầy, giả cá gì cả ! Ăn để nhớ cái đau thương của đời tỵ nạn. Ăn chay - nói theo phong tục Việt Nam - nghĩa là ăn qua loa, ăn để mà sống. Cơm khoai, bánh mì, rau xanh xà-lách, trái cây,…tóm lại,  végétarien. Gia đình chúng tôi cố giữ phong tục một gia đình Việt Nam ly hương để không quên quê hương nguồn gốc. Truyền thống, phong tục, trong nhà chúng tôi cố giữ cái Đạo Việt, giữ cái Bàn thờ Tổ Tiên.
Đối với chúng tôi, Tôn giáo, Đức Tin phần tâm linh, là  Đạo (con đường giữ người) cá nhơn. Truyền thống gia đình, là văn hóa lễ nghĩa chung. Truyền thống đất nước là nguồn gốc chung, là Đạo (Con đường xử thế) Việt. Vì lẽ ấy Bàn Thờ Tổ Tiên phải có. Bàn thờ Tổ Tiên để nhớ nguồn gốc, thờ phượng Cha mẹ, Tổ Tiên, Đất Nước.
Hằng năm hai lần, trong gia đình chúng tôi, Bàn Thờ Tổ Tiên được thắp sáng. Lần đầu, từ ngày 15 tháng 12 dương lịch là ngày mất của Cha chúng tôi, từ nay là Ngày Hiệp Kỵ dòng họ Gia đình, đến ngày mồng 10 tháng giêng âm lịch mới tắt.
Lần thứ hai là thắp sáng từ ngày 30 tháng ba là Ngày Huế thất thủ - quê quán gốc của dòng họ Phan - đến ngày 30 tháng tư là Ngày Sài gòn mất và đất nước tiêu tùng. Một năm hai lần, một lần Vọng Nhớ Tổ tiên, Nguồn gốc, Cha mẹ – Ơn Đất Nước, Ơn Tổ Tiên. Một lần Nhớ Ngày Tang Dân tộc Ơn Đất Nước Nghĩa Đồng Bào.  Đó là Tứ Ơn : Đất Nước, Tổ Tiên, Đồng Bào và Trời Đất-Tôn Giáo.
Chúng tôi dạy con dạy cháu truyền thống Việt Nam, giữ Tứ Ơn :  Trước nhứt Đất Nước Việt Nam, thứ đến Tổ Tiên Việt Nam, Đồng Bào Việt Nam, còn Ơn cuối cùng, Ơn thứ tư là Ơn Tâm Linh-Tôn Giáo  tùy cá nhơn con cháu, Phật Chúa đều quý cả vì đó là Đạo, vì đó là Con đường xử thế, con đường giữ mình hằng ngày. Như vậy, Con người Việt gồm có Ba Ơn của Đạo Việt, và Đức Tin Tôn giáo cá nhơn để tu thân giữ mình.
Chúng ta, người Việt tỵ nạn Cộng sản từ 40 năm nay, sống đất người, hi nhập ít nhiều đất người, ngày nay sanh sống rải rác khắp nơi trên thế giới, tùy phong, tùy tục, nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục, sống sao cho hạp lòng người, sống sao cho phải đạo mình, đó thôi !  Có nơi có may mắn, tụ họp đông đủ được một cộng đồng, tạo lập được những nơi sanh hoạt giữ nề giữ nếp Việt, phong Việt, tục Việt,  Việt văn, Việt hóa. Nhưng cũng có vài nơi  xa xôi, vắng vẻ, nhưng nhờ đất lành chim đậu, vẫn dễ dàng để người Việt chúng ta sanh sống, sanh con đẻ cái.
Sanh hoạt hằng ngày có vẻ như người bản xứ nhưng về nhà vẫn cố  giữ tục, giữ hồn người Việt. Hồn Người Việt là Tứ Ơn. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã truyền dạy Giáo dân Phật Giáo Hòa Hảo. Chúng tôi tuy Tôn giáo Tin Lành, đọc Thánh Kinh, giữ lời Chúa, nhưng rất ngưỡng mộ lời dạy Đức Thầy, lấy Tứ Ơn làm kim chỉ nam giữ Đạo Việt, giữ hồn người Việt. Lời Chúa là Tâm Linh giữ Đạo, giữ Đức. Tôn giáo là Đức Tin, là lòng dạ cá nhơn, là lương tâm cá thể chỉ là một trong Tứ Ơn. Ba Ơn còn lại Ơn Tổ Tiên-Cha mẹ, Ơn Đất Nước- Quê hương, Ơn Đồng Bào ấy là linh hồn Việt.
Chúng tôi thường (ngưởng) ngưỡng mộ hai dân tộc và cách sống của họ : thứ nhứt là dân tộc Nhựt, ngày ra đường họ mặc âu phục làm việc, tổ chức làm việc rất Âu Mỹ. Tối về nhà, trong gia đình họ là người Nhựt, kimono, ngủ sàn. Dù Đạo Phật hay Đạo Chúa, nhưng vẫn thờ vái, cúng bái, tin tưởng những Kami, tổ tiên truyền thống…Sanh hoạt văn minh Âu Tây, nhưng linh hồn  văn hóa thì vẫn Nhựt Bổn.
Dân tộc thứ hai là dân Do Thái. Đạo Do Thái, có từ ngàn xưa, Thờ Chúa, Đấng Yê--Vah, giữ Đạo theo lời Chúa, nhưng có những tục lệ nề nếp để nhớ Ơn Xưa. Ngày nay dù 70 năm đã qua, người Do Thái vẫn hằng năm tưởng niệm Shoah Holocaust về những người Do Thái Âu Châu từng bị Nazi Đức sát hại.
Việt Nam ta, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, đồng nghĩa với Shoah Do thái, thế mà có người – tuy là cựu nạn nhơn - vẫn đòi bỏ lên bỏ xuống ! Thay tên, đổi họ, mắc cở, h thẹn.                                                                                                                                                                                  
Ngày mai, chế độ độc tài Công sản đương quyền thế nào cũng phải bị thay thế phải nhường quyền cho một chế độ Dân Chủ Pháp Trị. Mong rằng :
Ngày Quốc Hận cũng phải được duy trì và trân trọng.
Ngày Tang, ngày Đau, ngày Buồn ấy, sẽ là ngày Tổng hợp cho những cái đau thương của đất nước. Ngày Hiệp Kỵ cho những nạn nhơn của những cái tang tóc đau buồn đã qua :  Cải cách Ruộng đất, Mậu Thân Huế, Hoàng Sa, Trường Sa, các nạn nhơn của những cuộc pháo kích bừa bãi, những nạn nhơn đã bỏ mình, nạn nhơn của những cuộc chạy nạn, trong nước : đại lộ kinh hoàng năm 72, đường 19 năm 75, nạn nhơn của cuộc vượt biên khổng lồ  trên biển hay ở biên giới, nạn nhơn của những trại tập trung sau ngày mất nước, hay nạn nhơn của cả cuộc chiến Việt Cộng-Tàu Cộng  năm 1979… để Nhớ, để không Bao giờ Quên, không Bao giờ Lặp lại. Tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư để hằng năm Xá Tội Vong Nhơn, Tha Tội Lẫn Nhau.
Những Gương Sáng Xứ Người, sau 40 Năm Hòa Bình:
Thử nhìn lại, tổng kê tình hình Việt Nam, kết quả xây dựng của 40 năm hậu chiến.
Để làm việc ấy, đầu tiên chúng ta thử nghiên cứu hai bài học với ba gương sáng :
Bài học thứ nhứt, trường hợp hai quốc gia bại trận sau Thế chiến 2. Cả hai, sau năm 1945 hoàn toàn kiệt quệ. Nhựt  Bổn lãnh hai quả bom nguyên tử tàn phá tan tành hai thành phố Hiroshima và Nagasaki. Đức thì cả nước đổ nát, Berlin thủ đô, Dresden, Hambourg, những thành phố hoàn toàn bị thiêu rụi.
Bài học thứ hai, trường hợp Nam Hàn, Đại Hàn Dân Quốc, một quốc gia có một quá trình lịch sử tương tự Nam Việt  Nam, Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Đất nước Triều Tiên hay Hàn Quốc, cũng là một bán đảo, cũng hình chữ S, cũng bị chia hai, một bên chiếu theo vĩ tuyến 38, một bên thì vĩ tuyến 17. Cũng hai miền Nam Bắc, cũng hai chế độ hoàn toàn tương phản nhau. Hai Miền Bắc, Bắc Việt với Bắc Hàn, độc tài Cộng sản gia đình Con Ông Cháu Cha Đảng Trị và Kinh tế chỉ huy. Đối lại,  hai miền Nam, Nam Hàn và Nam Việt, chế độ Cộng Hòa Tự Do Dân Chủ Pháp Trị Hiến Định với nền kinh tế Tư Bản Chủ Nghĩa, thị trường Tự Do. Cả hai Nam Hàn và Nam Việt đều bị hai Miền Bắc Cộng sản xua quân cưởng chiếm, cả hai đều toàn dân nổi dậy tự vệ chiến đấu.
Nam Hàn may mắn hơn được cả Liên Hiệp Quốc ký Nghị Quyết ủng hộ. Nam Việt ta vô phước hơn, chỉ Huê kỳ và vài đồng minh chịu giúp đở mà thôi.
Nam Hàn có phước, Trung Cộng còn yếu ớt, chưa phải địch thủ của Huê Kỳ. Nam Việt ta vô phước, Trung Cộng đã được Huê Kỳ đi đêm tạo thế để chống Liên Sô, cho vào Liên Hiệp Quốc bằng cách hất cẳng Trung Hoa Tự Do Đài Loan ra. Nam Việt ta càng vô phước hơn, khi  Huê kỳ đi đêm với Trung Cộng, trước để xé cặp bài trùng Liên Sô Trung Cộng, sau để biệt lập Liên Sô hầu đem đến sự sụp đổ của Bức Tường Bá linh vào năm 1989, nhưng phản phé đồng minh Nam Việt trong chiến thuật be bờ, báo hại cả tới 3 triệu dân Nam Việt phải đành ly hương tỵ nạn. Nam Việt Nam làm con vật hy sanh trên bàn phé quốc tế.   
Nhựt bị chiếm đóng bởi Quân đội Mỹ, mặc dù Nhựt Hoàng vẫn được duy trì. Nhục nhã thay ! Các samourai oai phong, hào hùng ngày nào,  nay làm công làm thợ cho ngoại nhơn, các thiếu phụ, nữ nhơn đài các Nhựt phải làm Geisha để khách Mỹ  mua vui !
Đức tình trạng còn bi thảm hơn, bị xé làm bốn mảnh do bốn cường quốc phe thắng trận chiếm đóng. Ngay cả thủ đô Berlin, cũng bị chia làm bốn khu vực. Nhục nào cho bằng ! Hận nào cho bằng ! Dòng giống Aryen, các hiệp sĩ Teutons, các  anh hùng Walkyries hào hùng từ nay phải chăm chỉ phục vụ các thứ dân loại hạng hai, dòng giống lai căng kém văn hóa !
Việt Nam  năm 1975, trái lại, phe miền Bắc, phe Công sản quốc tế thắng phe Tự do Tư bản Chủ Nghĩa. Trên đất Việt, theo lý thuyết và nguyên tắc chánh trị không còn bóng ngoại quốc, chỉ có người Việt cai quản người Việt.
Tại Âu Châu, ngay sau Thế chiến vừa chấm dứt, lập tức một bức màn sắt rủ xuống phủ kín phía Đông Âu, trùm kín các quốc gia do Liên Sô Cộng sản và Hồng quân giải phóng với lý thuyết quản trị và cai trị kiểu (Công)  Cộng sản độc tài, kinh tế chỉ huy tem phiếu Đảng trị. Phía Tây Âu trái lại vẫn tiếp tục giữ nền sanh hoạt Tư bản Tự do, tư nhơn tư hữu, kinh thương, công nghiệp tự do, tự do đi lại, tự do ngôn luận, hàng hóa thông thương dư giả, giá cả theo nhịp cung cầu. Về mặt chánh trị, chế độ dân chủ hiến định pháp trị, bầu cử tự do mỗi người một lá phiếu, luật pháp phân minh, tam quyền phân lập…Nói tóm lại hoàn toàn dân chủ, công minh, rõ ràng, đa nguyên, đa đảng, quyền công dân, quyền con người được tôn trọng.
Tại Á châu, Nhựt hoàn toàn bị quân đội Mỹ chiếm hẳn, Đại Hàn, phần đất Nhựt thuộc, bị chia làm hai theo vĩ tuyến 38. Phần Bắc do quân đội Liên Sô giải giới và chiếm đóng. Phần Nam thì nằm dưới chế độ do quân đội Mỹ quân quản. Chiến tranh lạnh ở Á Đông nhanh chóng thành Chiến tranh nóng. Quân Công sản Bắc Hàn cùng với quân Trung (Công) Cộng âm mưu xâm lược miền Nam Đại Hàn. Ba năm (25/06/1950 – 27/07/1953) : Nam Hàn được Liên Hiệp Quốc ủng hộ, Mỹ và đồng minh đưa trên 1 triệu quân tham chiến. Phía Nam Hàn và đồng minh thiệt hại 400 ngàn người với riêng 57 ngàn người (chết) phe đồng mình chết. Phe Công sản Liên Sô và Trung Cộng đưa vào cũng cả triệu quân nhưng thiệt hại nặng nề hơn vì chiến thuật biển người thí quân của Trung Cộng, trên 800 ngàn quân Trung Cộng chết và bị thương. Phần dân chúng thì đã có trên 2 triệu nạn nhơn của cả hai miền. Thủ đô Séoul Hán Thành hoàn toàn bị thiêu rụi.
40 năm sau :
40 năm sau, 1993, tuy không Thống Nhứt được nhưng Nam Hàn hay Đại Hàn Dân Quốc- DaeHan Minguh đã là một con Rồng lớn về Công nghệ. Với diện tích 99 ngàn cây số vuông, với 49 triệu dân, Nam Hàn là quốc gia phồn thịnh đứng hàng thứ 12 trên thế giới. (Tồng) Tổng số thu hoạch đầu người là 26 ngàn Mỹ kim (so sánh Việt Nam 2 ngàn Mỹ kim). Chúng ta ai ai cũng biết một vài thương hiệu nổi tiếng như Samsung, như Huyndai, … hai đại công nghiệp Đại Hàn : Tin học và Xe Hơi…Chưa kể ngành đóng tàu của Đại Hàn, năm 2014, đứng hàng đầu quốc tế, Hyundai dẫn đầu về đóng tàu.
Gương sáng ấy đáng để Việt Nam suy nghĩ và học theo không ?
Cũng tại Á Châu, Nhựt Bổn ngày nay là một cường quốc kinh tế, đứng hàng thứ ba trên thế giới, sau Huê Kỳ và Trung Cộng. Nhựt Bổn, sau khi bị hai quả bom nguyên tử tàn phá hai thành phố lớn, phải đầu hàng đồng minh do Huê kỳ lãnh đạo. Chỉ năm năm đầu khó khăn, quét dọn tổ chức, chấp nhận sự tủi nhục của quân quản ngoại nhơn. Nhưng qua năm thứ sáu,  từ năm 1950 đến 1960 trong vòng 10 năm, nền kinh tế Nhựt vực dậy như một phép lạ. Chỉ 19 năm sau, năm 1964, Nhựt đã đủ sức để tổ chức Thế Vận Hội Thể Thao quốc tế. Thành công ấy vỏn vẹn tất cả chỉ chưa đầy 20 năm ! Chưa đầy 20 năm, các hãng xưởng chẳng những đã phục hồi sản xuất, mà còn biến thành những thương hiệu số một, số hai quốc tế, Fujitsu, Toyota, Mitsubishi, Honda, SeiKo, …sản xuất xe hơi, sản xuất máy móc, sản xuất tin học, máy chụp hình, TV, radio, hoá học, Y tế, …Tuy nước Nhựt đất hẹp người đông, nhưng nông nghiệp được chánh phủ tài trợ để cố gắng độc lập lương thực (40% tự túc lương thực)… Nước Nhựt là Đảo, là Biển ! Vì vậy cần phải có tàu để đánh cá tìm lương thực ! Giàn tàu đánh cá Nhựt lớn nhứt thế giới. Lo lương thực nhưng cũng phải lo làm ăn ! Giàn tàu thương nghiệp cũng đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Hy lạp thôi ! Muốn có tàu thuyền, muốn có ngành hành hải lớn,  phải có xưởng đóng tàu ! Nhựt lúc ấy đã đứng hàng đầu về ngành đóng tàu.
Tóm lại, 1945, nước Nhựt là một đống tro tàn, đất Nhựt bị quân đội Huê Kỳ chiếm đóng ! 40 năm sau, 1985, Nhựt là cường quốc kinh tế số một ở Á Châu, cường quốc kinh tế số hai sau Huê Kỳ. Gương sáng cho Việt Nam !
Đức, trường hợp còn đặc biệt hơn nữa. Nếu Nam Hàn ngày nay vẫn chỉ là phân nửa của bán đảo Triều Tiên. Người dân Triều Tiên thì vẫn còn bị chia cắt. Đức sau 45 năm chia cắt đã thống nhứt lại được và sau một thời gian hy sanh khó khăn gian khổ, đã chiếm lại vị thế số một cường quốc kinh tế Âu châu.
Đức, sau khi thất trận đã bị xé làm bốn mảnh : bốn quốc gia thắng trân chiếm đóng bốn vùng. Nhưng vừa sau khi thắng trận xong, căn nhà Đức chưa yên ổn, thì nước Đức lại bị chia làm hai. Chiến tranh lạnh Đông Tây. Chiến tranh lạnh giữa hai chế độ, hai ý thức hệ, hai phương pháp quản trị nước, hai quan niệm kinh tế khác nhau, thậm chí tuy cùng ngôn ngữ, cùng gốc văn hóa, nhưng hai vùng Đông Đức - Tây Đức lại đã biến thành hai nền văn minh, hai văn hóa khác nhau với hai suy nghĩ khác nhau. Chúng tôi nói dông dài về Đức để thông cảm và hiểu rõ cái khác biệt của những dân tộc bị lịch sử chia cắt và không cùng sống chung một nền tảng chế độ quản trị và suy nghĩ.
Cũng như Việt Nam, cũng như Triều Tiên, Đức sau khi bị chia cắt, hai miền sống riếng biệt nhau, tạo ra hai nhơn tố con người khác nhau. Không chỉ riêng về quan niệm quản trị kinh tế : bên tự do tạo con người phóng khoáng, sáng tạo, đầy nhơn bản tánh, biết đùm bọc, biết thương yêu nhau, biết tạo một xã hôi liên đới hổ tương nhau. Trái với phía dân chúng sống dưới chế độ cộng sản xã hội chủ nghĩa. Mặc dù chế độ Cộng sản được đặt tên là Cộng, mặc dù có tên gọi là Xã hội, như tất cả đều rất vị kỷ. Sống sanh hoạt tập thể, nhà tập thể, ăn tập thể, nhưng con người cứ phải co rúm trong cái vị kỷ sanh tồn của bản thân. Giành nhau sắp hàng, để lo mua miếng ăn, miếng uống, tem phiếu, chia phần giành giựt. Càng cố gắng chia phần đồng đều, lại càng canh chừng, dòm ngó, xem ai hơn ai. Ăn gian, mánh mung, nói láo, tố cáo, rình rập… chế độ cộng sản tạo ra những con người hoàn toàn ích kỷ vì phải sống còn. Đó chỉ là nói về con người ! Còn về phần cơ cấu tổ chức, vì tất cả là của chung, con chung không ai khóc, nên nhà nước vẫn xìu xìu ển ển … Cả nước sống cho qua ngày. Ngày nay, bốn nước Cộng sản còn lại trên thế giới, Tàu Trung Cộng, tuy đệ nhứt thiên hạ thế giới về kinh tế, tuy đang xưng hùng, xưng bá ở Vùng-Á Đông, Biển Đông, nhưng dân chúng vẫn còn nghèo. Bắc Hàn thì khỏi nói, là một anh chàng nguy hiểm, có sức mạnh nguyên tử, sức mạnh quân đội, có thể gây nguy hiểm cho toàn vùng và cả thế giới, nhưng dân chúng có những năm từng thiếu nguồn lương thực phải đi ăn xin, cứu đói. Còn Cu Ba ! Cu Ba đang được Mỹ bỏ cấm vận, vì kiệt quệ tài chánh. Dân Cu Ba, cũng như dân Việt Nam sống nhờ kiều hối của dân tỵ nạn Cu Ba gởi về bơm máu. Và cuối cùng là Việt Nam !
Xin trở về trường hợp nước Đức để lấy tấm gương sáng. Nước Đức thoạt đầu bị chia thành bốn vùng do bốn quân đội bốn quốc gia thắng trận chiếm đóng. Ba vùng, Pháp Anh Mỹ, cùng chế độ quản trị chánh trị kinh tế, nên sau hai năm hoàn toàn phối hợp thành một. Nhờ chương trình Marshall, tên của vị Tướng Huê kỳ tạo một sức mạnh kinh tế để tái kiến trúc Âu châu, chẳng những để phục hồi nước Đức  và dân Đức mà còn giúp đở cả các quốc gia Âu châu từng bị tàn phá bởi chiến tranh. Sau Thế chiến 2, vai trò Huê kỳ ảnh hưởng mạnh đến những thành tựu về mặt sức mạnh kinh tế, chánh trị và quân đội của Tây Âu. Thế chiến vừa xong, Âu Châu lại bị chia thành hai khối  Đông Tây. Một bức Màn Sắt trừu tượng phủ khắp bầu trời các quốc gia Đông Âu, đại diện bởi Bức tường thực thể xây bằng gạch và giây kẻm gai cùng mìn và vọng gát chạy dài trên cả ngàn cây số để chỉ chia rẻ người dân Đức. Ngay từ năm 1948, ba năm sau hòa bình, dân chúng Đức đã phải sống trong chia rẻ.
Phía Tây, Tây Đức, thành lập một quốc gia Liên bang Đức, Tự do, Hiến Định, Pháp trị, Đa nguyên Đa Đảng. 40 năm sau, 1985, Tây Đức là cường quốc số một Âu Châu.
Thời điểm ấy, Huê Kỳ là số một về kinh tế, về quân sự. Và hai quốc gia bại trận Nhựt và Đức lại là số 2 và số 3 thế giới !
Quý vị chắc ai cũng biết tên các thương hiệu Đức và chắc ai cũng mê chọn những món hàng của Đức về phẩm chất : từ xe hơi, Mercedes, Audi, BMW, VW, đến hóa học BASF, dược phẩm Bayer, đến cơ khí…Siemens, Krupp…máy bay với tập đoàn Airbus cùng với các quốc gia láng giềng là Pháp, Ý Tây Ba Nha…
Năm 1989, bức tường Bá linh sập, nước Đức thống nhứt. Tây Đức ôm gánh nặng phục hồi Đông Đức. Tất cả bao khó khăn, dân Tây Đức đều gánh chịu. Chỉ sau vài năm, ngày nay Đức phục hồi vị trí số một Âu Châu. Tổng Sản lượng ngày nay là 3,500 Tỷ Mỹ kim, đứng hàng thứ tư thế giới ;
Thử làm Bảng sắp hạng.
Năm 2013 : Tổng sản lượng
1/ USA 13, 340 tỷ Mỹ Kim,  2/ Trung Cộng 9, 300 Tỷ MK, 3/ Nhựt Bổn 5,000 Tỷ MK, 4/ Đức 3,500 Tỷ MK, 5/ Pháp 2,700 Tỷ MK, 6/ Vương Quốc Anh 2,400 Tỷ…
So sánh Việt Nam  57/ 170 Tỷ MK
Và Tổng sản lượng đầu người - thứ hạng thế giới
9/ USA 53 ngàn MK, 16/ Đức 45 ngàn MK, 24/ Nhựt 38,500 MK, 20/ Pháp 44 ngàn MK… 81/ Trung Cộng 7 ngàn MK và Việt Nam 1,900 MK đứng hàng thứ 134.
Tất cả có 184 quốc gia được sắp hạng.
Như vậy, năm 2013, Tàu đứng hàng thứ hai thế giới về Tồng Sản Lượng, đất nước giàu có nhưng dân Tàu vẫn nghèo với 7000 dollars bình quân mỗi người.
Thử chia cho 12 tháng, lượng tháng sản xuất  khoảng 503 dollars tháng. Các bạn nghĩ thế nào ? Với con số ấy ? Còn riêng về Việt Nam miễn bàn nếu lấy 1900 MK chia làm 12 = 158 MK tháng. Mỗi đầu người Việt Nam bình quân tạo chưa đầy 160 MK cho đất nước.
Do đâu có sự cách biệt giữa Việt Nam với Đức, Nhựt Bổn, Đại Hàn như vậy ?
Con người ?
Tiềm năng, sức mạnh của một quốc gia chính là con người.
Người Việt Nam, gốc văn hoá khác chi Nhựt (Và) và Đại Hàn. Cùng Văn hóa gốc Hán, Tam giáo, Khổng, Lão và Phật.
Cũng bị hoạn nạn. Nhựt tiêu tùng sau hai quả Bom nguyên tử, bị Mỹ quân quản. Nhục nào cho bằng !
Đại Hàn bị chia cắt, chiến tranh Quốc Cộng, gia đình phân chia hai miền. Khổ đau nào cho bằng !
Họ là người Á đông như người Việt Nam ! Họ biết làm lụng cam khổ, họ biết nương tựa gia đình, nương tựa xóm làng, láng giềng, bà con ! Nước Nhựt ngày nay là con Rồng Kinh tế đệ nhứt Á Châu ! Nam Hàn ngày nay là Con Hổ Kinh tế một trong những con Hổ Kinh tế Á châu với Hong Kong, Đài Loan, Singapore !

17 April 2015

Tin Vui đệ tử Trần Hùng Văn (CKV)sám hối: Nghe đồn Việt Thường sẽ đi BTQH lần đầu trong 40 năm ?

 
 
THƯ XIN LỖI ANH CHỊ TRÚC HỒ VÀ CÔ HỒNG THUẬN
của Chính Khí Việt
Hôm qua trên website Chính Khí Việt (www.chinhkhiviet.net) có đăng một youtube với tựa đề bài viết của Chính Khí Việt là “Đỗ Phủ Và Tường Thắng Nhục Mạ Tiền Nhân” do giọng đọc của chính tác giả.  Khi thực hiện youtube này, thì một người ĐƯỢC THUÊ  làm đã vô tình lấy một tấm hình  photo shop “nhạy cảm”  của Hồng Thuận và Trúc Hồ ghép vào youtube đó.  Sau khi phát hiện được bức hình này (không phải do đề nghị của Chính Khí Việt), Chính Khí Việt đã cảnh cáo người làm youtube và yêu cầu họ phải lấy xuống ngay lập tức (có audio trao đổi giữa Chính Khí Việt và người được thuê về sự kiện này).   Được biết xuất xứ của tấm hình này được tung lên net là phần minh hoạ  trong  một bài viết của Ông Ngô Kỷ. 


Và hôm nay khi theo dõi trên diễn đàn yahoogroups thấy xuất hiện một số nick rất lạ đã nhanh chóng chuyển tài cái youtube nói trên đi khắp mọi nơi.

Nay Chính Khí Việt  TRÂN TRỌNG  xin lỗi quý độc giả website Chính Khí Việt và quý netters trên các diễn đàn yahoogroup.com, cũng như  công khai xin lỗi  vợ chồng  anh Trúc Hồ và cô Hồng Thuận,

Từ trước đến nay Chính Khí Việt chỉ nói, chỉ viết những gì là sự thật dựa vào tài liệu của chính các đối tượng (bằng bài viết và lời nói)  mà Chính Khí Việt  đề cập tới.  SỰ SƠ XÓT LẦN NÀY LÀ MỘT ĐIỀU RẤT ĐÁNG TIẾC. Khi phát hiện ra Chính Khí Việt đã gọi người làm youtube phải lập tức lấy xuống và bản thân Chính Khí việt cũng đã gỡ bỏ youtube đó trên website của mình.

Một lần nữa Chính Khí Việt trân trọng xin lỗi  anh chị Trúc Hồ, Cô Hồng Thuận, quý  dộc giả website và vi hữu trên các diễn đàn yahoogroups.\

Trân trọng.

Chính Khí Việt

Lúc 10:00 AM giờ Cali - Ngày 17 Tháng 4, 2014

Cộng Đồng Hải Ngoại : TÔI SẴN SÀNG RA TÒA ĐỂ BẢO VỆ NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA 19/6".

BÁC SĨ NGUYỄN HY VỌNG, CỰU SĨ QUAN QUÂN Y QUÂN LỰC VNCH, GỬI:
ÔNG EDWARD TRIVETTE
LUẬT SƯ ĐẠI DIỆN CHO ÔNG NGUYỄN ĐÌNH THẮNG Orange County, ngày 16 tháng 4 năm 2015
Thưa Đồng bào, Thưa Quý vị Tướng lãnh, Thưa Quý Chiến hữu,

Ngày 15/4/2015, tôi gửi bức thư CỰU SĨ QUAN QUÂN LỰC VNCH LIÊN THÀNH TRẢ LỜI ÔNG TS NGUYỄN ĐÌNH THẮNG: "TÔI SẴN SÀNG RA TÒA ĐỂ BẢO VỆ NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA 19/6".

Về việc: Ông Nguyễn Đình Thắng, qua Luật sư đại diện Edward Trivette, đòi hỏi cựu sĩ quan Quân Lực VNCH Liên Thành phải công khai xin lỗi trong vòng bảy ngày và dọa kiện ra tòa. Cựu sĩ quan Quân Lực VNCH Liên Thành bác bỏ đòi hỏi trên và sẵn sàng ra tòa để bảo vệ Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19/6, đồng thời xin chỉ thị và ý kiến của toàn thể quý vị đọc thư này.




Cùng ngày 15/4/2015, Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, cựu sĩ quan quân y Quân Lực VNCH, đã phúc đáp bằng một bức thư phản đối gửi thẳng cho Luật sư Edward Trivette,
Email: edward.trivette@kpmlaw.com
Tôi vừa nhận được một copy của bức thư phúc đáp này. Tôi dịch lại Việt ngữ và xin kèm theo nguyên bản Anh ngữ dưới đây để rộng đường dư luận.

Trân trọng,
Liên Thành
California, ngày 15 tháng 4 năm 2015
Thưa Luật sư Trivette,
Tôi viết bức thư này để chuyển đến ông cảm giác phẫn nộ của tôi đối với thân chủ của ông, ông Nguyễn Đình Thắng.

Ông ta được biết đến​ do​ sự tích cực​ đại diện cho những người lao động Việt Nam bị xâm phạm, điều này tôi ngưỡng mộ.

Giờ đây ông ta đang xâm phạm vào Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19/6 thiêng liêng vì tư lợi tài chánh của ông ta bằng cách dùng ngày này để quảng cáo thương mại, điều này tôi thẳng thắn chống lại​.​

Tôi lên tiếng phản đối việc làm trái với luân thường đạo lý, ác tâm, và bẩn thỉu đó.

Tôi hy vọng rằng nguyên tắc xử thế của ông sẽ cho phép ông nhận ra ý đồ bệnh hoạn trong hành động của thân chủ ông.

Là một sĩ quan quân y đã từng phục vụ 9 năm trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tôi, cũng vậy, sẽ kêu gọi tất cả mọi người phản đối ông ta bằng một chiến dịch​ ​phản đối tập thể.

Trân trọng,
​Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng
Cựu Sĩ Quan Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa​
Email: rumthuan3235@gmail.com

California, April 15, 2015
Dear Mr. Trivette, Attorney at Law,
I am writing this letter to convey my feeling of indignation about your client, Mr. Thang Dinh Nguyen.

He was known for his advocacy on behalf of abused Vietnamese labor immigrants, which I admired.

He is now abusing the sacred June 19 Vietnam Armed Forces Day for his own financial interest by using it for commercial advertisement,which I frankly oppose.

I raise my voice in opposition to that unethical, malicious and sordid enterprise.

I hope your ethics will allow you to recognize the ill intent of his actions.

As a medical officer who had served 9 years in the South Vietnam Republic armed forces, I, too, will call on all to oppose him in a class action campaign.

Sincerely,

Vong hy Nguyen M.D.
Former ARVN medical officer
Email: rumthuan3235@gmail.com

40 Năm : Những Ngày Cuối Tháng Tư Dân Việt Tấn Công CS Khắp Mọi Nơi

Người Dân Bình Thuận Tấn Công CSCĐ

Nơi


From Facebooker Nguyễn Thùy Trang

Khách sạn Vĩnh Hảo là TỔNG HÀNH DINH của UBND huyện Tuy phong, Bình Thuận thuê để điều động Công An và CSCĐ đàn áp người dân Vĩnh Tân.

Vào đêm 22 giờ tối ngày 15-4, hằng ngàn người dân dùng gạch, đá và "bom xăng" tự chế ném vào CSCĐ và Công an Bình Thuận. Một số đông Công An đã trốn chạy khỏi hiện trường mang theo hằng chục Công An khác bị thương vong đi cấp cứu bằng xe máy vì đoạn đườ...ng Quốc Lộ 1A bị chặn, không còn đường cho xe cấp cứu tiến vào.

Theo nguồn tin người dân địa phương cho biết thì có ít nhất là 30 công an bị thương và bị phỏng nặng vì trúng bom xăng và gạch đá. Cuộc tiến Công của nhân dân Bình Thuận đã đẩy lùi Công An và CSCĐ ra khỏi hiện trường vào lúc 22 giờ 30 tối cùng ngày.

Ngay sau đó thì hằng ngàn người dân đã kéo đến khách sạn Vĩnh Hảo (cách nhà máy khoảng một cây số), nơi đây là "tổng hành dinh" của lãnh đạo UBND Bình Thuận và Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thuê để điều động Công An đàn áp người dân biểu tình.

Ba chiếc ô tô của các lãnh đạo UBND đậu tại khách sạn gồm Mercedes, Ford và BMW đã bị đập phá hư hỏng, khu vực khách sạn bị đập phá tan nát một phần.

Ông S., chủ khách sạn, cho biết mình đang đi công tác ở Bến Tre và trước đó có đồng ý cho đoàn công tác của Huyện ủy, UBND huyện Tuy Phong mượn khách sạn để làm nơi giải quyết vụ người dân phản ứng vụ Nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 2. Theo ông S., cho biết người dân biểu tình đang siết chặt vòng vây và tuyên bố sẽ thiêu rụi khách sạn.

Cho tới giờ phút nầy thì nhiều người dân tạm thời rút lui vào bóng tối, tiếp tục sử dụng "Du Kích Chiến", lúc ẩn, lúc hiện đem chướng ngại vật ra chặn xe quốc lộ 1A làm cho con đường bị kẹt dài trên 50km.

Nguyễn Thùy Trang


--

Ông Bà Nguyễn Trung Can-Mai Thị Kim Hương thề quyết tử giữ nhà giữ đất.(video phung Thi Ly)

https://www.youtube.com/watch?v=tedjfKW2FyU

https://www.youtube.com/watch?v=56o8xbxCMXU

CSCĐ Đàn Áp Đình Công Tại Long An 1/4/2015

https://www.youtube.com/watch?v=myEc73_ghcI

------------

Tháng Tư Ngày Cuối Tháng

Ngày cuối tháng Tư, ngày cuối tháng.
  Tôi nâng tờ lịch thấy rưng rưng.
 Trời ơi tôi yếu hèn như vậy…ai có nhìn tôi chắc não lòng?
Ngày cuối tháng Tư, ngày mất dạy,
không còn đuờng chạy thì ngồi yên / để nghe lệnh xuống:
 Đi Vào Đó!  Trời ạ hôm nay…đã thái bình?
Ngày cuối tháng Tư, ngày chó đẻ,
máu tràn trên cả mặt cờ kia.
  Đưa tay lên ngực, còn chi nữa,
những tấm huy chương cuống đã lìa!

Ngày cuối tháng Tư, ngày nhớ lại…
Má già như tấm lịch cong queo,
chị buồn không muốn nâng tà áo,
anh mất tích rồi, ôi mến yêu!
Ngày cuối tháng Tư,
 ngày lãng thúi, bà Ba bán bún ngó lên trời,
 tay làm Thánh Giá rồi tiu nghỉu,
cái mặt như là cái bánh trôi!
Ngày cuối tháng Tư, ngày hết tháng,
 nếu thêm ngày nữa cũng thêm buồn.
Bốn mươi năm sống như không sống,
 không một ngày nào lệ chẳng tuôn!
Đù Mẹ tháng Tư, ngày mất nết,
 tôi là Thầy Giáo thế này sao? 
 Tôi là Lính Trận mà như rác. 
 Nhục tới đời mô, thế kỷ nào?
Đù Mẹ tháng Tư, đù Mẹ nó,
 chửi hoài không rụng lá cờ dơ.
Phải chi đừng có trên đời nhỉ,
lạnh buốt, thà rơi như giọt mưa!


Trần Vấn Lệ

Mỗi Năm Vào Dịp Tháng Tư: Cố viết một bài thơ về đất nước

Bài Thơ Tháng Tư 

 



Mỗi năm vào dịp tháng tư
Tôi lại giống như một ông đồ già
Loay hoay bày ra giấy bút
Cố viết một bài thơ về đất nước
Chuyện bên nhà và cả chuyện lưu vong
Nhưng đã bao lần bút gãy mực loang
Bài thơ tháng tư tôi chưa hề viết được.
Phải chăng khi đến tận cùng khổ nhục
Con người bỗng trở nên
Bình thản tự nhiên
Có những chuyện buồn nhức nhối con tim
Vẫn có kẻ
Có thể bật cười
Dù là cười chua chát
Bài thơ nầy chắc sẽ dài
Vì đời tôi nhiều lưu lạc
Và cũng chắc sẽ buồn
Vì là chuyện nước non.
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Khi những chiếc trực thăng
Sắp sửa rời thành phố
Trong đám người đang bon chen lố nhố
Tôi thấy dường như
Nhiều con chuột cống ở Sài Gòn
Cũng cố kiếm đường đi
Chúng cõng trên mình những chiếc va-li
Chứa đầy đô la vàng bạc
Dành dụm từ thời đi buôn gạo lậu
Dấu diếm từ thời lo bão lụt miền Trung
Tôi thấy chúng nghiêng mình
Hai gối run run
Trước những anh cảnh binh người Mỹ
Chúng nói những gì tôi nghe không kỹ
Chỉ thấy họ lắc đầu
Rồi bước vô trong
Có lẽ lại là chuyện hối lộ
Ðể dược đi đông
Ngòai chuyện ấy chúng còn biết gì hơn nữa
Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa
Cầu mong cho chúng được đi mau
Những con chuột cống nầy
Gặm nhấm đã lâu
Và bán nước từ khi còn rất trẻ
Thuở Tây qua chúng đầu quân rất lẹ
Tây bỏ đi chúng theo Mỹ vì đô-la
Những chuyện về chủ nghĩa quốc gia
Hay dân tộc thiêng liêng
Chúng đọc biết bao lần
Nhưng chưa hề hiểu nghĩa
Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa
Thầm cầu mong cho chúng được đi nhanh.
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Khi những chiếc xe tăng
Lăn xích tiến vào thành phố
Tôi đứng lặng nhìn Tự Do vừa sụp đổ
Cây Dân Chủ chưa xanh
Ðã héo úa bên đường
Mới giã từ một bọn bất lương
Lại phải đứng nhìn những tên ăn cắp
Chúng đang nhân danh
Hòa bình
Tự do
Thống nhất
Ðể biến con người thành con vật ngây thơ
Chỉ biết lắng nghe
Chỉ biết cúi đầu chờ
Chỉ biết Ðảng
Ðảng trở thành tất cả
Lịch sử, tình yêu, tổ tiên, mồ mả
Chỉ còn là những chuyện phù phiếm, viễn vông
Chúng biến những nương dâu bãi mía cánh đồng
Thành những nông trường hoang vu tập thể
Biến nhà máy thành những nơi hoang phế
Biến học đường
Thành những nơi để thầy trò tố cáo lẫn nhau
Biến cả bình minh thành những tối thương đau
Biến tình yêu
Thành hận thù
Bon chen
Nghi kỵ
Từ thôn quê cho đến nơi đô thị
Ðã mọc thêm nhiều nhà cách mạng thứ ba mươi
Những bạn bè thân thiết thuở rong chơi
Bỗng một sáng thành những têm chém trộm
Chế độ đã dạy cho chúng
Một con đường tồn tại
Con đường phản bội lương tâm
Phản bội gia đình tổ quốc nhân dân
Phản bội chính tâm hồn vốn rất đáng yêu của chúng
Tôi đứng nhìn non sông đang phủ xuống
Một màu đen tang tóc đau thương
Người lính bộ binh buông súng đứng bên đường
Ðang cúi mặt cố che niềm tủi nhục
Anh không khóc
Sao trời như bão động
Anh không cười
Sao chua chát nghẹn trên môi
Về đâu anh nắng đã tắt trên đồi
Sương đang xuống trên cuộc đời còn sót lại
Ðời của anh
Ðời một tên chiến bại
Có gì vui để lại mai sau.
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Khi những chiếc xe bộ đội nối nhau
Mang gia đình tôi đến vùng kinh tế mới
Ðến Ðồng Xoài trời vừa sập tối
Lại phải sắp hàng nghe nghị quyết triển khai
Gia đình tôi bảy người
Chen chúc tránh mưa
Căn nhà nhỏ một gian không vách
Mẹ tôi ngồi đôi tay gầy lạnh ngắt
Vẫn cố nhường chỗ ấm cho con
Gạo lãnh lúc chiều không đủ nấu cơm
Nên đêm ấy cả nhà ăn cháo trắng
Mỗi giọt cháo là một liều cay đắng
Chảy vào vết thương đang ung mủ trong hồn
Tôi, đứa con đầu trong bảy đứa con
Hơn hai mươi tuổi vẫn hai bàn tay trắng
Nuôi tôi lớn
Mẹ một sương hai nắng
Học ra trường lương không đủ nuôi thân
Mẹ tôi chưa hề trách cứ phân vân
Nhưng tôi đọc những buồn lo
Từ trong ánh mắt
Ðêm hôm ấy tôi ngồi nghe mưa rót
Vào lòng tôi những chua xót căm hờn
Bao năm rồi trong cảnh cô đơn
Mẹ tôi sống
Ðôi mắt buồn hiu
Chưa bao giờ khô lệ.
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Khi chiếc ghe nhỏ
Máy hư
Ðang thả lênh đênh trên biển
Bốn phương trời chưa biết sẽ về đâu
Biển vẫn vang lên những khúc nhạc sầu
Ðược viết bằng những cung trầm
Ðong đưa vào vô tận
Như để tiễn đưa tôi
Một người Việt Nam bạc phận
Ði về bên thế giới hư vô
Chiếc quan tài mong manh trên sóng nhấp nhô
Ðang tiếc nuối những gì còn sót lại
Biển một màu đen
Tang chế
Buồn man dại
Và âm u như số phận con người
Ngồi một mình yên lặng trên mui
Cố nghĩ một câu thơ để làm di chúc
Dù biết chẳng còn ai để đọc
Chẳng còn ai thương tiếc tấm thân tôi
Hai mươi sáu năm lưu lạc trên đời
Sống chưa đủ nhưng đã thừa để chết
Lòng tôi an nhiên không hề sợ sệt
Bỗng thấy ung dung thanh thản lạ thường
Tôi chợt hiểu tại sao
Con người ai cũng khóc khi sanh
Nhưng nhiều kẻ lại mỉm cười khi nhắm mắt
Hai mươi sáu năm
Ðời tôi buồn hiu hắt
Chẳng còn gì để lại cho nhân gian
Tuổi thanh xuân với chút mộng vàng
Ðã vụt tắt ngay trong ngày nước mất
Nếu tôi có chết hôm nay
Cũng chẳng phải là người thứ nhất
Và hẳn nhiên không phải kẻ sau cùng
Trên vùng biển nầy từ độ tháng tư đen
Ðã thắm máu bao nhiêu người Việt Nam mất nước.
Phải chăng tôi nên bắt đầu
Bằng những ngày đầu tiên trên Mỹ quốc
Bước chân hoang trên xứ lạ quê người
Ngỡ ngàng nhìn cuộc sống nổi trôi
Không dám khóc
Chẳng dám cười
Chỉ biết xót xa
Ngậm ngùi
Ngơ ngác
Thiên hạ nhìn tôi một người tỵ nạn
Dăm kẻ đã sớt chia
Cũng đôi kẻ khinh thường
Tôi hiểu ra rằng khi rời bỏ quê hương
Là chối bỏ những gì yêu quí nhất
Hai chữ tự do tôi vô tình đánh mất
Cứ tưởng rằng mình đang giữ nó trên tay
Tự do là gì tôi đã hiểu sai
Nó vô nghĩa đối với một người không tổ quốc
Ðêm đầu tiên tôi nằm nghe thương nhớ
Chảy vào tim đau nhức tận linh hồn
Mẹ tôi giờ nầy còn khóc nữa không
Hay cố ngủ để chiêm bao giờ hạnh ngộ
Em tôi đứng thập thò trên góc phố
Ðợi anh về dù chỉ mới ra đi
Người con gái tôi yêu đang tuổi xuân thì
Có về lại một lần thăm xóm vắng
Sài Gòn bây giờ trời mưa hay nắng
Ở bên nầy tuyết vẫn trắng như tang
Nhìn thành phố nguy nga tôi thấy ngỡ ngàng
Thấy tội nghiệp cho Sài Gòn tăm tối
Tôi nhớ cả những con đường lầy lội
Những con đường ngày hai buổi tôi đi
Tôi nằm mơ làm một cánh chim di
Bay trở lại một lần rồi sẽ chết
Hai tiếng quê hương sao vô cùng tha thiết
Học lâu rồi nhưng mới hiểu ra đây
Quê hương là những gì tôi không có hôm nay.
Mười bảy năm đã trôi qua
Sài Gòn xưa vẫn thế
Vẫn những đau thương dằn vặt kiếp con người
Mười bảy mùa thu
Bao độ lá vàng rơi
Tóc mẹ trắng
Bạc theo từng nỗi nhớ
Mẹ tôi đã bỏ vùng kinh tế mới
Về lại Sài Gòn tìm một chỗ che mưa
Cuộc sống bây giờ đã đỡ hơn xưa
Bởi vì có tôi
Chứ không phải nhờ có đảng
Em tôi lớn không làm người Cộng Sản
Nên suốt đời phải lam lũ kiếm ăn
Tuổi hoa niên chỉ có một lần
Chúng đã bỏ quên trên vùng Kinh Tế Mới
Mười bảy năm đường Sài Gòn vẫn tối
Mưa vẫn rơi hoài
Trên lối cũ thân quen
Người phu quét đường vẫn dậy sớm mỗi đêm
Ôm chiếc chổi lạnh lùng khua góc phố
Bác xích lô trên đoạn đường loang lỗ
Bao năm rồi vẫn đi sớm về khuya
Chiếc lưng trần trầy trụi với nắng mưa
Không dám trách ai
Chỉ đổ thừa số mạng
Cậu bé đánh giày ngày xưa
Bây giờ đã trở thành tên du đãng
Học thêm nghề đâm mướn chém thuê
Tương lai em biền biệt sẽ không về
Cơn gió lốc cuốn đi thời thơ dại
Những con chuột cống ra đi
Một số hình như đang tìm đường trở lại
Vì tham nhũng lâu ngày nên đã hóa thành tinh
Chúng đang biến thân làm lãnh tụ anh minh
Tung bùa phép để thu hồi quyền lực
Tội nghiệp đồng bào tôi
Ðã bao đời khổ cực
Sẽ thêm một lần ngậm đắng nuốt cay
Ở tại Việt Nam trong mười bảy năm nay
Ngoài tham nhũng
Năng xuất chẳng có gì tăng nhanh hơn là nghị quyết
Ðảng Cộng Sản vẫn tự khoe khoang
Là muôn đời bất diệt
Vẫn le lói giữa đêm mưa một bóng sao vàng.
Và tôi
Bao năm rồi vẫn những bước chân hoang
Rất mệt nhọc như giòng sông chảy ngược
Baì thơ tháng Tư tôi chưa hề viết được
Mười bảy năm dài đâu chỉ kể dăm trang
Trước những đau thương của đất mẹ điêu tàn
Ngôn ngữ của tôi đã trở thành vô nghĩa
Ðời của tôi dù buồn bao nhiêu nữa
Cũng không buồn bằng chuyện nước tôi đau
Baì thơ nầy dù viết đến năm sau
Cũng chỉ là bài thơ dang dở.

Trần Trung Ðạo

16 April 2015

Con Lợn Hạch

"Con Lợn Hạch"

Trong số năm cô bộ đội phục viên đã lỡ xuân thì, được điều về Hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định, Côi là người kém nhan sắc nhất. Nói kém nhan sắc là nói cho lịch sự, đúng ra phải nói là Cô xấu, rất xấu, xấu ma chê quỷ hờn, xấu chưa từng thấy. Côi xuất thân là con nhà bần cố nông, đen như cột nhà cháy, tay chân cục mịch, vai to mông lớn ngực đầy nhưng lại thiếu chiều cao, trông giống như cái cối xay biết đi. Đã thế lại răng hô mũi tẹt. Khi đối diện với Côi, người ta chỉ có thể nhìn vào một con mắt của nàng. Giải thích theo hình học không gian thì vì hai con ngươi của Côi không đồng trục – cả trục ‘tung’ lẫn trục ‘hoành’ - cho nên khi mắt phải nhìn lên phương Bắc thì mắt trái hướng về phương Nam, khi mắt trái quay ra biển Đông thì mắt phải lại hướng sang non Đoài. Người miền Bắc gọi là ‘mắt lác’. Có thể vì vậy mà nay đã 30 ngoài, Côi vẫn đơn côi. Chồng con chưa có chẳng nói làm gì mà cả đến cái lạc thú của ‘hủ hóa’, từ ngày dậy thì cho tới nay, Côi cũng chưa được nếm mùi. Tức là nàng vẫn còn là trinh nữ. Nhưng ưu điểm ‘chưa vương mùi bùn’ đó chẳng ăn nhằm gì tới việc phân công của đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng.

Vào thời nhà nước hô hào đổi mới và mở cửa, khi mà đồng chí chủ nhiệm đồng thời cũng là bí thư chi bộ Đảng đã quên hết ‘đạo đức cách mạng’, đã quên mất ‘cần kiệm liêm chính, chí công vô tư’, đã biết treo lịch cởi truồng bên trong cánh tủ, đã biết thưởng thức video ‘tươi mát’, thì chẳng cần nói ra, ai cũng biết một người con gái xấu xí như Côi sẽ bị đẩy đi chỗ nào cho khuất mắt. 


Liễu, cô bộ đội xinh đẹp nhất trong nhóm năm người, hồi ‘kháng chiến chống Mỹ’ từng làm hộ lý cho mấy đời thủ trưởng, giờ đây được phân công làm thư ký riêng cho đồng chí chủ nhiệm. 

Đào, cô thứ hai, tuy không xinh đẹp bằng Liễu nhưng ngực nở, eo thon, mông tròn, lại có đôi mắt ướt đa tình thì được phân công làm thủ kho, nơi đồng chí chủ nhiệm có kê cái giường để ngủ trưa cạnh bồ lúa. 

Sen, cô thứ ba, nhan sắc trung bình nhưng người ngợm trông cũng khá sạch nước cản, được phân công làm chị nuôi. 

Mai, cô thứ tư, khá xấu nhưng nhờ học hết cấp 1, được phân công phụ giúp bên nhà trẻ. Phân công xong cho bốn cô, đồng chí chủ nhiệm nhìn vào một mắt của Côi, ngần ngừ một chút rồi nói: 

- Ở đây còn toàn là công việc đồng áng nặng nhọc, tôi không nỡ để một người từng tham gia chiến đấu như đồng chí phải chân lấm tay bùn. Thôi, bên tổ chăn nuôi đang cần một người để trông coi con lợn hạch, đồng chí sang đó vậy, nhàn hạ chán! (1) 

Côi dãy nảy: - Khiếp, đàn bà con gái ai lại đi coi lợn hạch. Em không chịu đâu! - Coi lợn hạch thì có sao! - Sao đồng chí chủ nhiệm không giao cho anh nào đó? 

- Không được, cấp trên đã quy định chỉ có phụ nữ mới được phục vụ trong tổ chăn nuôi. Thôi, nếu đồng chí không chịu thì để tôi điều về... tổ gánh phân vậy! 

Phân mà đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng nói tới ở đây phải hiểu là ‘phân bắc’, tức phân người. Dĩ nhiên, đồng chí chủ nhiệm đã nói thế thì Côi không còn con đường nào khác hơn là chấp nhận về tổ chăn nuôi để trông coi con lợn hạch. 

Côi tuy xấu xí nhưng tính tình hiền lành chất phác, chịu thương chịu khó. Những người như Côi, sống dưới thời nào, chế độ nào cũng dễ trở thành nạn nhân. Lên 7 tuổi, Côi đã đoạt danh hiệu ‘cháu ngoan Bác Hồ’ nhờ vượt chỉ tiêu nộp phân trâu, phân bò. Mỗi khi xúc từng bãi phân còn nóng hổi, cẩn thận gói trong tàu lá chuối đem về nhà phơi khô, Côi không bao giờ nghĩ tới việc đoạt danh hiệu mà chỉ biết mình đang góp phần xây dựng đất nước. Năm 12 tuổi, Côi được làm đội trưởng Thiếu niên Tiền phong, đặc trách công việc chăn trâu trong xã. Năm 16 tuổi, Côi tình nguyện gia nhập đoàn bộ đội Trường Sơn. Được phân công gánh lương tải đạn, sửa đường, lấp hố bom, Côi đã đem hết sức mình phục vụ đoàn quân ‘sinh Bắc tử Nam’. Công tác nào Côi cũng vượt chỉ tiêu. Tất cả vì mục đích cao cả ‘giải phóng đồng bào miền Nam ruột thịt khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ’. 

Giờ đây, đứng trước con lợn hạch nồng nặc mùi hôi, Côi chỉ cảm thấy khó chịu trong một vài phút đồng hồ. Bởi vì sau khi nghe chị tổ trưởng trình bày khó khăn của hợp tác xã trong việc gây giống lợn, Côi đã nhớ ngay tới lời bác Hồ dạy và nhủ thầm: ‘Giờ đây chính là lúc mình thực hiện lời Bác: 'đánh xong giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng đất nước to đẹp gấp mười ngày xưa’. Rồi Côi nhìn vào con lợn hạch của hợp tác xã Sao Vàng mà trong lòng ái ngại, xót xa: tuy cũng thuộc giống tốt nhập từ Liên Xô, nhưng thân hình thì gầy gò, bụng lép kẹp, bốn chân khẳng khiu, hai hòn dái thì chỉ vừa bằng hai quả cà pháo thì nhảy cái nỗi gì! Chả trách hợp tác xã cứ phải nộp cám cho xã bên cạnh để mượn con lợn hạch bên đó về cho đám lợn nái khát tình chịu đực. 

Với tinh thần trách nhiệm của một người nắm trong tay tương lai của đàn lợn hợp tác xã, Côi tự hạ quyết tâm làm sao trong vòng một tháng trời, phải biến con Hạch vô tích sự này thành một vũ khí vô địch, góp phần vào việc đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội như lời đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn kính mến đã dạy. 

Việc đầu tiên là phải tìm cách bồi dưỡng thể chất cho con Hạch. Côi đề nghị chị Mến, tổ trưởng chăn nuôi, trong buổi họp báo cáo công tác kỳ tới của hợp tác xã phải xin gia tăng tiêu chuẩn bồi dưỡng cho con Hạch, ít nhất cũng mỗi ngày hai quả trứng gà và mỗi tuần một ký đỗ chè (đậu xanh). Thoạt nghe chị Mến đề nghị, lão chủ nhiệm hợp tác xã trợn mắt: 

- Này, đừng có tập tành cho lợn cái thói tiểu tư sản ấy nhé...! Trứng gà với lại đỗ chè! Hừ... Đồng chí phi hành gia Phạm Tuân lúc chuẩn bị sang Liên Xô để bay lên vũ trụ còn chưa được hưởng tiêu chuẩn cao như thế nữa là... là lợn! 

Chị Mến vốn là người ăn ngay nói thẳng, cãi lại: - Nhưng thưa đồng chí chủ nhiệm, nhiệm vụ của đồng chí Phạm Tuân là mang bèo hoa dâu lên không gian thí nghiệm chứ đâu có phải là... là... nhảy cho lợn nái có chửa...! Còn con Hạch, đồng chí Côi nói nếu không bồi dưỡng thì dứt khoát nó không thể thi hành chức năng một cách có hiệu quả được. Đồng chí ấy đã hạch toán kinh tế như sau: mỗi ngày bốn quả trứng gà, mỗi tuần hai ký đỗ chè, vị chi mỗi năm mất một nghìn bốn trăm sáu chục quả trứng và một trăm linh tư ký đỗ. Nhưng nếu con Hạch ‘nhảy’ có hiệu quả thì lợi nhuận của một lần cũng đủ cho nó bồi dưỡng suốt năm. 

Lão chủ nhiệm hợp tác xã gãi cằm một lúc rồi ngập ngừng: - Để tôi tính xem nào... Thôi được, cứ thử cho nó một nửa tiêu chuẩn mà đồng chí Côi đề nghị, xem hình hình có tiến triển theo xu hướng đi lên hay không đã... Mà này, phải nhớ bám sát theo dõi đồng chí Côi, đừng để tiêu chuẩn của lợn lại lọt vào miệng người nhé! 

Dĩ nhiên, Côi còn ‘cần kiệm liêm chính’ gấp ngàn lần đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã. Chẳng những nàng không ăn bớt ăn xén tiêu chuẩn bồi dưỡng của con Hạch mà còn lén lấy tiêu chuẩn cá khô của mấy con lợn đang được vỗ béo để cho nó ăn thêm. Côi lập luận: Mấy con lợn bột càng mau béo thì càng bị giết thịt sớm, mình bớt tiêu chuẩn cũng là làm phước cho chúng nó đấy thôi! (2) Bên cạnh đó, mỗi khi cho ăn hay tắm cho con Hạch, nàng thường vỗ về nó, nào là ‘Hạch ngoan nhé, ăn nhiều nhảy giỏi rồi chị xin cấp trên tăng tiêu chuẩn cho...’ nào là ‘phấn đấu vượt chỉ tiêu, thể nào Hạch cũng được huy chương Bác Hồ...’ Không hiểu vì con Hạch hiểu được tiếng người, vì Côi mát tay, hay vì hiệu quả của trứng gà và đỗ chè mà chỉ hơn một tháng sau khi nàng nhận nhiệm vụ, con Hạch đã nổi tiếng là tốt giống nhất trong đám lợn hạch của cả xã. Hai hòn dái của nó lúc này đã to bằng hai quả cà bát, đỏ ửng. Cả đến những chị lợn nái khó tính nhất cũng đều được thỏa mãn. Chưa bao giờ Hạch phải nhảy tới lần thứ hai. Và thường thì mấy tháng sau đó, chị nái nào cũng đẻ mỗi lứa cả chục con trở lên, con nào cũng khỏe mạnh, ăn nhiều, mau lớn. 

Côi không chỉ đem lại hạnh phúc cho đám lợn nái khát tình mà còn đem niềm vui tới cho cả xã. Lợn đẻ nhiều, hiệu xuất gia tăng, lợi tức bình quân đầu người trong hợp tác xã dĩ nhiên cũng tăng theo. Tiếng lành đồn xa, độ nửa năm sau thì con Hạch không còn chỉ ‘nhảy’ đám lợn nái trong xã nhà mà còn được rước sang giúp các xã bên cạnh, có nơi còn đem cả ô-tô tới đón Hạch và Côi. 

Nửa năm nữa trôi qua, khi số lần Liễu, thư ký riêng của đồng chí chủ nhiệm, bị bà vợ cho người đón đường hăm dọa tạt át-xít, và số lần Đào, cô thủ kho, lên bệnh viện Huyện để phá thai cũng nhiều bằng số lần Côi được Ủy ban Nhân dân Tỉnh biểu dương, thì một sự kiện vô cùng vĩ đại đã xảy ra cho hợp tác xã Sao Vàng. Đó là nhân dịp kỷ niệm ngày sinh của Bác Hồ, con Hạch được Bộ Nông Nghiệp và Chăn Nuôi bình chọn là ‘con lợn hạch xuất sắc nhất trong năm’, còn Côi thì được tặng danh hiệu ‘chiến sĩ nuôi lợn hạch tiên tiến’, nhận cờ luân lưu của Quốc Hội, kèm theo huân chương Lao Động hạng nhất. Hình của con Hạch và Côi được xuất hiện trên báo Đảng, và Bộ Nông Nghiệp và Chăn Nuôi đã nhân dịp này chỉ thị các địa phương cử người về hợp tác xã Sao Vàng để học tập kinh nghiệm của Côi. Tin vui vừa về tới nhà, Ủy ban Nhân dân Xã đã ra lệnh tổ chức một cuộc mít-tinh trọng thể để đón nhận cờ và huân chương, cũng như để biểu dương công trạng của Côi và con Hạch. 

Đêm hôm ấy, Côi mơ gặp Bác Hồ... Sau khi con Hạch đoạt danh hiệu vô địch lần thứ hai thì một biến cố đã xảy ra trong lòng các cô bộ đội phục viên lỡ thời của hợp tác xã Sao Vàng. Đó là việc Bộ Xã Hội và Thương Binh phân công cho hợp tác xã việc bao bọc và dạy nghề cho một số thương binh không nơi nương tựa. Kinh nghiệm đã cho các cô thấy song song với việc bao bọc và dạy nghề, Bộ còn chỉ thị cho địa phương tổ chức những buổi ‘tìm hiểu’ với mục đích kiếm vợ cho những anh chàng ế vợ, hoặc bị vợ bỏ nói trên. Thời gian những năm sau 1975 là khoảng thời gian xảy ra nhiều rối loạn nhất trong cuộc sống gia đình ở ngoài miền Bắc. 

Một số bộ đội trở về sau hơn 10 năm chiến đấu thì thấy vợ mình đã có 3, 4 mặt con với một ông chủ tịch, một ông bí thư hay anh công an khu vực. Lại có những chàng trở về thì vợ vẫn còn đó, nhưng ngày chàng ra đi nàng mới sanh một, nay về lại thấy tới hai, hỏi đứa con lớn: ‘Mẹ mày bế con ai vậy?’ Thì nghe nó đáp: ‘Con ông, em bố đấy'. Thì ra lúc chàng bộ đội xông pha nơi tuyến đầu, ở nhà bố chồng thấy con dâu cô đơn, phòng không chiếc bóng, bèn thay mặt con trai yên ủi vỗ về, chẳng biết làm thế nào mà cô con dâu có bầu, đẻ ra đứa bé ‘con ông em bố’. Cảnh trớ trêu ấy không phải là hiếm, và thường thì chẳng có chàng bộ đội nào nỡ xách dao đâm bố, đành bỏ xứ ra đi không hẹn ngày về! 

Về phần nữ giới, một số nhận được hung tin chàng đã ‘tử Nam’, một số bị chồng bỏ để lấy một cô gái miền Nam văn minh dễ dãi nào đó và ở luôn không về, một số khác thì vì tình trạng trai thiếu gái thừa, cho tới nay đã băm lăm băm sáu mà vẫn chưa hề biết tới hơi hám đàn ông. 

Sau cùng là những cô gái vượt Trường Sơn sống sót trở về, như năm cô bộ đội phục viên của hợp tác xã Sao Vàng. Vì vậy, trung ương đã ra chỉ thị điều động các đơn vị bộ đội về đóng ở những nơi có nhiều con gái chưa chồng, hoặc phụ nữ bị chồng bỏ, thường là các nông trường, công trường... và tổ chức những buổi gặp gỡ tập thể để đôi bên quan hệ tìm hiểu nhau. Sau đó, thành vợ thành chồng thì càng tốt, không thì ít nhất đôi bên cũng giải quyết được những đòi hỏi xác thịt. 

Hợp tác xã nông nghiệp Sao Vàng không phải là một đơn vị sản xuất lớn, tập trung nhiều đàn bà con gái cho nên cấp trên chỉ điều về hơn một chục chàng bộ đội thuộc thành phần sứt tai gẫy gọng, bị đám con gái trong Nam liệt vào hàng phế thải! Thế rồi cũng giống như việc phân công trước đây khi năm cô bộ đội phục viên về hợp tác xã Sao Vàng, ai đẹp thì ưu tiên, nay Liễu, thư ký riêng của đồng chí chủ tịch hợp tác xã, lấy được một tay thượng úy bị vợ bỏ, tuy đã khá lớn tuổi nhưng so với đồng chí chủ nhiệm vẫn còn trẻ chán, chỉ phải tội ông ta đi khập khiễng vì bị thương ở gót chân. 

Đào, cô thủ kho, lấy được một viên trung úy độc thân, mặt mày sáng sủa nhưng ốm o gầy còm, lại còn bị méo mồm vì miểng đạn xuyên qua xương hàm. Sen, cô chị nuôi, lấy một tay thiếu úy chột mắt, và Cúc, cô phụ giúp trông coi nhà trẻ, lấy một tay thượng sĩ cụt tay... 

Côi không để ý tới đám đàn ông con trai mới đến. Nguyên nhân: nàng không hề mảy may hy vọng sẽ có người thèm quan hệ với một cô gái xấu xí, đen đủi, tròn trùng trục như mình. Đã vậy, người ngợm lúc nào cũng nồng nặc mùi hôi từ con Hạch ám sang. Chả là ngoài việc gần gũi trong lúc tắm rửa, bồi dưỡng con Hạch, Côi còn đích thân đưa nó đi ‘công tác’ và phụ giúp mỗi khi nó phải ‘nhảy’ những con lợn nái cao lớn gấp rưỡi, gấp đôi. Những lúc ấy, mặc cho ai cười thì cười, Côi nhảy phắt vào chuồng, đỡ hai chân trước của con Hạch gác lên lưng con lợn nái, rồi khi hai chân sau của nó đã kiễng lên hết cỡ mà vẫn trật duột, nàng còn phải dùng tay để phụ giúp nó tiến công chính xác vào mục tiêu...! Chính vì mặc cảm ấy, mỗi lần đi sinh hoạt tìm hiểu, Côi thường ngồi thu mình trong một góc phòng họp của hợp tác xã, hồn để tận đâu đâu. 

Nhưng hình như có bàn tay ông tơ bà Nguyệt xen vào: Trong đám thương phế binh ấy, lại có một chàng trung sĩ pháo binh mù cả hai mắt. Khoan, tên chàng trung sĩ, không mù từ lúc lọt lòng mẹ, cũng chẳng mù do chất độc hóa học của đế quốc Mỹ rải xuống đường mòn Hồ Chí Minh, mà mù vì hậu quả của chiến thắng, mù khi đã hòa bình. Khoan vốn là người bị hen suyễn từ nhỏ nên cũng không lấy gì làm khỏe mạnh. Sau khi thoát chết vì kiết lỵ ngay những ngày đầu vượt Trường Sơn, Khoan bị mắc chứng sốt rét kinh niên. Da lúc nào cũng vàng như nghệ, người ngợm gầy yếu mong manh như trong năm đói (Ất Dậu, 1945). 

Sau khi chiếm được miền Nam, cấp trên nhận thấy để một người teo tóp như Khoan trong đơn vị đại pháo 130 ly thì quả là móp mặt binh chủng, bèn cho về phục vụ tại kho đạn Gò Vấp. Trước năm 1975, việc quân đội Việt Nam Cộng Hòa xây kho đạn tại Gò Vấp, nơi có nhiều người Bắc di cư 54 chuyên nghề làm pháo, có thể chỉ là một sự tình cờ, hoặc do bàn giao lại từ tay người Pháp. Nhưng sau 1975, khi mà các cấp chỉ huy và bộ đội Bắc Việt đã biết mánh mung, thì ai cũng thấy được mối quan hệ chặt chẽ giữa kho đạn và dân Gò Vấp: bộ đội bán thuốc súng cho dân để lấy tiền, dân mua thuốc súng để làm pháo! Thành thử kể cả vào thời gian cao điểm của cuộc xâm lược Căm-bốt, cứ 10 trái đạn đại bác được vận chuyển sang chiến trường xứ Chùa Tháp thì lại có ít nhất 10 trái khác được cưa ra để lấy thuốc nổ bán cho dân làm pháo. Tuy nhiên, cũng có một số nhỏ bộ đội không tham gia công việc ‘ăn cắp của công’ này, trong số đó có Khoan. Nhờ vậy mà chàng thoát chết... 

Buổi chiều hôm ấy, mấy tay bộ đội láu cá trong tổ trực của Khoan lén đem một trái đạn đại bác 155 ly ra gần hàng rào cưa để lấy thuốc nổ. Khoan không tham dự mà chỉ đứng gần đó quan sát. Chẳng hiểu vội vã hấp tấp, cưa mạnh tay thế nào mà trái đạn phát nổ. Ba tên chết tan xác, ruột gan bay lên máng lủng lẳng trên dây điện; hai tên bị thương nặng. Khoan chỉ bị bay mất một trái thận và thêm mấy miểng đạn vào trán, nhưng vì chạm phải thần kinh thị giác nên mù cả hai mắt! Cũng giống như Côi, Khoan xuất thân giai cấp bần cố nông ở miền Bắc, sinh ra đã được dạy phải kính yêu Bác Hồ, mới biết đi đã bị nhồi nhét tư tưởng xã hội chủ nghĩa, vừa thuộc 24 chữ cái đã được học căm thù đế quốc Mỹ, vừa tròn 17 tuổi đã được lệnh lên đường giải phóng miền Nam... Khoan tin theo như bổn đạo tin Chúa. Nay bị tàn tật cũng không một chút oán hận đời. Trái lại, chàng còn cảm thấy tội nghiệp cho những đồng đội đã chết tan xác. Khoan suy nghĩ một cách đơn giản: họ có thiếu thốn mới phải cưa đạn để bán lấy tiền! Cũng với một tâm trạng bi quan như Côi, mỗi lần được lệnh đi sinh hoạt tìm hiểu, Khoan thường mò mẫm tìm một góc nhà mà ngồi. 

Hôm đó anh chàng vô tình tiến tới chỗ Côi, đụng phải người nàng. Dù chỉ va chạm nhẹ, Khoan cũng biết ngay đó là đàn bà, liền vội vàng xin lỗi. Rồi Khoan ngồi xuống. Một cái mùi là lạ bay vào mũi chàng: mùi lợn hạch từ người Côi. Nhưng với Khoan, cái mùi lại hay hay, nếu không muốn nói là có sức thu hút kỳ lạ. Có thể so sánh với việc một cô gái thích mùi mồ hôi nách của đàn ông. Trong trường hợp đó, cái mùi đã trở thành một thứ duyên thầm! Khoan lên tiếng hỏi chuyện, Côi chỉ đáp nhát gừng. Cho rằng mình chưa đủ vồn vã, Khoan càng ra sức thân thiện. Cuối cùng, Côi đã chịu nói chuyện. Tuy nhiên cũng chỉ là cái tình đồng chí trong sạch, không dính dáng gì tới ái tình cả. Cho nên sau phần trà bánh, khi các cặp khác đã đưa nhau đi kiếm một lùm cây hay ra bờ ruộng để ‘hủ hóa’ hoặc ‘tìm hiểu’ thêm các ngõ ngách trên thân thể của nhau, Khoan và Côi vẫn ngồi lại. 

Buổi sinh hoạt kế tiếp, vừa tới nơi, Khoan đã quơ quơ cái gậy tìm tới góc nhà. Côi thấy tội nghiệp, khẽ lên tiếng gọi. Câu chuyện giữa hai người vẫn giới hạn trong tình đồng chí nhưng đối đáp của Côi đã có phần bớt khô khan, gượng ép. Buổi thứ ba, nói chuyện được một lúc, Khoan đánh bạo ngỏ ý muốn tiến xa hơn: - Này Côi, mình bỏ quách hai tiếng 'đồng chí' có đi được không? Côi bỡ ngỡ. Từ ngày lớn lên rồi vào bộ đội tới nay, trừ mấy con bạn thân ra và nay là chị Mến, tổ trưởng tổ chăn nuôi, tất cả mọi người đều gọi nàng là ‘đồng chí’. Côi là người thất học, không hiểu ý nghĩa chữ đồng chí là gì mà chỉ biết rằng một khi đã gọi nhau là đồng chí thì không còn phân biệt nam nữ, không được nói chuyện tình cảm riêng tư, không được biểu lộ sự thân thiết, không được cười đùa... Nhưng không gọi bằng đồng chí thì gọi bằng cái gì bây giờ, Côi chưa thể tìm ra câu trả lời. Nàng đáp: - Vâng, tùy đồng chí! Khoan bật cười. Côi xao xuyến. Nàng chưa bao giờ được nghe giọng cười trong sáng mà ấm áp, hiền lành mà ngay thẳng đến như thế. Hình như sống trong tập thể này, người ta hạn chế cười với nhau. Hoặc có cười chăng cũng chỉ là cười xã giao, cười châm biếm, cười gằn, cười gượng chứ chẳng mấy ai cười thoải mái như tiếng cười của Khoan... 

Buổi thứ tư, Khoan vừa ngồi xuống đã vội hỏi ngay: - Côi bôi nước hoa gì mà thơm thế? - Em làm gì có tiền mua nước hoa! Đây là dầu thơm hiệu Con Sóc em mua hồi còn ở trong Nam ấy mà. (3) Thấy Côi bỗng nhiên xưng em với mình, Khoan vô cùng sung sướng, vừa hít hà, vừa lấy điểm: - Thơm thật, thơm thật...! 

Hai tháng sau, Côi là người cuối cùng trong 5 cô bộ đội phục viên trong hợp tác xã Sao Vàng lên xe hoa về nhà chồng. Nói là lên xe hoa cho nó văn vẻ, thực ra Côi cùng chị Mến cuốc bộ ra trụ sở Ủy ban Nhân dân Xã, nơi đó Khoan và một người trong đơn vị đã chờ sẵn. Côi mặc một cái áo sơ-mi trắng mua hồi còn ở trong Nam, quần lãnh đen, chân đi dép nhựa. Khoan cũng có được một cái sơ-mi ngắn tay, phía dưới là cái quần bộ đội và đôi dép râu. 

Sau khi Côi ký tên và Khoan lăn tay vào tờ đăng ký hôn thú, mọi người trở về phòng họp của hợp tác xã để dự tiệc trà, gồm có bánh bích-quy, kẹo và nước trà. Tiệc trà xong, Côi trở lại tổ chăn nuôi. Hôm nay con Hạch phải sang xã bên để nhảy. Ban sáng, chị Mến có lòng tốt đề nghị Côi để chị đề cử người khác đi thay, chẳng gì thì hôm nay cũng là ngày cưới, đời người có một lần, ai lại dắt lợn hạch đi rông như như vậy. Tuy nhiên, Côi đã từ chối. Bởi vì hôm nay là lần đầu tiên xã bên nhờ con Hạch tới nhảy một chị lợn nái giống doóc-sia (yorkshire), để thí nghiệm xem giống lợn nái Mỹ này có thể thụ tinh của lợn hạch Liên Xô hay không. Là người mang danh hiệu ‘chiến sĩ thi đua’, Côi muốn đích thân mình phải đưa con Hạch đi công tác cho yên trí. 

Về tới nơi, Côi mệt đừ người, mồ hôi nhễ nhại, vừa vì đường xa, vừa vì phải giúp con Hạch hoàn thành nhiệm vụ, Nhìn con Hạch nằm thở, đôi mắt lờ đờ, Côi thấy tội nghiệp nó quá. Con lợn nái doóc-sia to lớn kềng càng, cao đến ngang bụng người, con Hạch chỉ đứng tới ngang mông mà phải nhảy. Mỗi lần con Hạch nhảy lên rồi bị tuột xuống, con lợn nái đang động tình lại lồng lộn, giận dữ quay lại húc cho một cái làm con Hạch văng sang một bên. Dễ mất đến cả tiếng đồng hồ, người và vật mới xong công tác! 

Trước khi về nhà, Côi tắm rửa thật kỹ. Tổ chăn nuôi có giếng nước riêng, hoang phí một chút cũng chẳng sao, còn nước ở nhà có bằng đó, dội quá tay một cái là chẳng còn nước mà vo gạo. Về tới nhà, thấy Khoan ngồi trên ghế, đôi mắt mù ngóng ra cửa, Côi thấy dạt dào yêu thương, lòng bỗng xôn xao, rộn rã như một cô gái mới lớn biết yêu lần đầu. Cơm nước xong, hai người ngồi uống trà. Cũng là trà Tuyên Quang hạng bét mà sao hôm nay thơm ngon thế nhỉ...! 

Một lúc sau, Khoan ngập ngừng hỏi: - Tối... tối mịt chưa Côi? Côi hiểu ý, e thẹn đáp: - Mới xâm xẩm thôi... Anh cứ đi nghỉ trước đi, em đóng cửa rồi rửa mặt tí... Sau khi đóng cửa, cài then cẩn thận, Côi mở cái rương bằng sắt tây lấy ra một bộ quần áo in hoa, loại mà trong Nam người ta gọi là ‘đồ bộ’. Từ ngày mua ở chợ Bà Chiểu cách đây hơn bốn năm, Côi chưa bao giờ dám mặc. Một phần vì tiếc, sợ mặc thì nó cũ đi, một phần vì xấu hổ, xấu hổ với chính mình. Nhưng đêm nay nàng có lý do chính đáng để mặc nó, có điều là Khoan chỉ có thể sờ được mặt vải mịn láng chứ không thể thấy được những bông hoa muôn màu rực rỡ. Côi áp bộ quần áo vào mũi, hít hà mùi băng phiến một lúc rồi mới cầm cái đèn đầu đi xuống bếp, đồng thời cũng là nơi tắm rửa. Nàng cởi bộ quần áo đang mặc và nhìn xuống thân thể của mình, lòng bâng khuâng. Đã từ lâu lắm rồi, Côi quên mất mình là đàn bà. Quên mất công dụng và chức năng của những bộ phận mà trời phú cho. Nay thì hoa sắp có chủ. Lần đầu tiên trong đời, Côi run run đưa tay lên vuốt ve bộ ngực căng đầy với hai cái núm vú xinh xinh của mình, rồi xuống đôi mông tròn trịa như hai trái dưa hấu Tết ở miền Nam, và cuối cùng là vùng bụng dưới rậm rì... Giã từ đời con gái nhé! 

Côi mặc xong bộ quần áo mới, sực nhớ ra điều gì liền lấy chai dầu Con Sóc sức lên cùng khắp thân thể rồi mới cầm đèn đi lên nhà. Sau khi tắt đèn, Côi khe khẽ vén mùng chui vào giường. Mùi cói thơm của chiếc chiếu hoa mới mua càng làm Côi thêm háo hức......Nhưng Côi đã phải thất vọng. Thất vọng não nề. Khoan chỉ vừa đủ sức mở cửa động đào xong là ngã vật sang một bên, thở dồn dập, mồm há hốc... Côi chán chường nằm im nghe Khoan thở. Mấy phút sau, Khoan mới đủ sức quay sang phía vợ, thì thào: - Anh... tệ quá! Để mai anh... bồi dưỡng rồi... trả nợ em! Nghe Khoan nói thế, hậm hực trong lòng Côi bỗng dưng tan biến mất. Thay vào đó là sự thương tội. Khoan có muốn làm mình thất vọng đâu. Bao nhiêu sức lực của tuổi thanh xuân đã hy sinh cho cách mạng hết cả rồi. Lại còn mất một quả thận thì làm sao còn đủ sức... Bồi dưỡng ư? Ngoài mỗi ngày hai bữa cơm gạo hẩm với rau luộc, tép khô, muối hạt thì còn gì nữa đâu mà bảo bồi dưỡng! Côi quay sang ôm lấy bộ ngực lép kẹp của chồng, vỗ về: - Thôi, ngủ đi anh, bao giờ... trả nợ em cũng được! 

Đêm thứ hai, đêm thứ ba, rồi đêm thứ tư, Côi đều bị thất vọng. Chẳng những Khoan đã không tiến bộ thêm chút nào mà còn có phần thụt lùi. Hay là anh ấy đã yếu mà mình lại bắt phục vụ liên tục? Côi bỗng nhớ tới con Hạch, mỗi lần nó tỏ ra uể oải, thiếu tích cực trong công tác là nàng biết trong người nó không được khỏe và phải đình chỉ công tác trong vài ngày. Thế là Côi bắt Khoan phải nghỉ ngơi một tuần. Nhưng rồi đâu cũng hoàn đó, chưa kể lần này, sau khi xuống ngựa Khoan còn nằm bất động như cái xác chết đến cả mười lăm phút đồng hồ...! Tuy ít học nhưng do kinh nghiệm ông bà để lại, Côi đoán nguyên nhân chính là do việc Khoan bị mất một quả thận. Nàng bỗng nhớ tới ông lang Học ở xã trên, dòng họ ông nổi tiếng ba đời về chữa trị các chứng đau lưng yếu thận cho đàn ông, hiếm muộn cho đàn bà. Có điều thuốc của ông rất đắt. Dù không biết mình có khả năng theo đuổi tới nơi tới chốn hay không, ngày hôm sau Côi cũng xin chị Mến miễn công tác để đưa Khoan tới nhà ông lang Học. 

Sau khi nghe Khoan kể về quá trình bệnh hoạn, thương tật và diễn tiến mỗi lần gần vợ, ông lang vừa bấm mạch vừa quan sát sắc diện của anh, rồi lắc đầu nhè nhẹ. Khoan đi ra, ông ra hiệu cho Côi theo mình vào phòng trong. Côi lo lắng hỏi: - Thưa ông, tình hình của anh ấy ra sao ạ? Ông lang chậm rãi trả lời: - Nguy kịch thì cũng chẳng có gì đáng gọi là nguy kịch, tuy nhiên với thể lực như vậy mà lại thiếu mất một quả thận thì nói về cái việc vợ chồng ấy, mỗi tháng anh ấy chỉ nên gần chị một lần thôi. Côi thất vọng: - Chỉ một lần thôi sao? - Một lần cũng kể là vượt chỉ tiêu rồi đấy... Chị phải biết rằng ba bát cơm mới được một giọt máu, ba giọt máu mới được một giọt tinh. Hiếm hoi như thế đấy chứ nào có phải nước máy, cứ mở vòi là chảy...! Đấy là tôi nói về lượng, còn về phẩm thì... thì được đến đâu hay đến đó, đừng bắt anh ấy cố gắng quá, có ngày thành đại họa! 

Côi nhìn ông lang khẩn khoản: - Thế ông có cách nào giúp anh ấy cải tiến tình hình sức khỏe không ạ? - Tôi không phải lang băm nên không thể nói bừa, phải thử một thời gian đã. - Thử cách nào ạ? - Vừa uống thuốc bắc vừa bồi dưỡng. Thuốc thì tôi cắt theo toa ‘Phục Dương’ gia truyền, là kết hợp tinh hoa của toa ‘Ngũ Dạ Lục Giao’ của vua minh Mạng và toa ‘Trường Xuân Bát Bửu’ của Mao chủ tịch. Mỗi tuần uống một thang, mỗi thang năm chục nghìn... Côi tái mặt. Lương xã viên của nàng mỗi tháng chỉ có hơn sáu chục nghìn, vừa đủ nuôi hai miệng ăn. Còn Khoan làm ngoài biên chế trong tổ đan lát, mỗi tháng được ba chục nghìn là quý lắm rồi. Tiền đâu mà mỗi tuần cắt một thang thuốc năm chục nghìn! 

Như không để ý tới sắc mặt của Côi, ông lang tiếp: - Về bồi dưỡng thì cũng chẳng cần phải cao lương mỹ vị gì, chỉ cần mỗi ngày một lạng thịt với lại mấy quả trứng gà... Côi như muốn ngất xỉu... Cả tiêu chuẩn xã viên bậc ba của nàng cộng với tiêu chuẩn thương binh bậc bốn của Khoan mỗi tháng mới mua được một ký thịt lợn và một lạng mỡ. Thịt ngoài chợ thì đắt gấp ba bốn lần, đào đâu ra tiền mà mua mỗi ngày một lạng...! Cuối cùng, Côi quyết định được tới đâu hay tới đó. Nàng gom góp tất cả vốn liếng dành dụm được đúng năm chục nghìn, cắt một thang Phục Dương... 

Thuốc của ông lang Học công hiệu như thần. Chỉ cần một thang, đêm hôm ấy chàng Khoan ốm yếu ho hen kia đã đủ sức đưa Côi, một cô gái khỏe như trâu lên tận đỉnh vu sơn. Lần đầu tiên trong đời, Côi thấy toàn thân mình như tê dại đi trong cơn khoái lạc tột cùng... Tay chân rã rời, Côi nằm im, khoan khoái nghiền ngẫm những rung động lần đầu được hưởng, như con bò nằm nhai lại mớ cỏ non thơm phức vừa gặm vội vã... Giời ơi, có ngờ đâu cái thú ái ân nó lại sướng khoái lạ lùng, tuyệt vời đến thế ! Nhưng đúng như lời ông lang Học đã cảnh cáo, uống thuốc Phục Dương mà không bồi dưỡng thì còn nguy hại gấp chục lần không uống. 

Đêm thứ hai, Khoan cũng còn đủ sức đưa Côi lên đỉnh khoái lạc, nhưng chỉ vừa đủ sức mà thôi. Bởi vì đúng lúc đó, chàng bỗng rùng mình một cái rồi toàn thân lạnh ngắt, cứng đơ, mồ hôi ướt đẫm lưng. Dù đang đê mê, Côi cũng còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng việc gì sẽ xảy ra với chồng nếu nàng không phản ứng kịp thời. Côi nhanh nhẹn dùng hai chân quặp lấy người Khoan cho nằm yên tại vị trí rồi với tay lên đầu giường lấy cái kim băng và lọ dầu gió... 

Sau cái đêm Khoan suýt bị thượng mã phong ấy, Côi không còn dám tơ tưởng tới chuyện chăn gối nữa mà chỉ lo bồi dưỡng cho chồng. Sau khi đã nghĩ nát óc mà không tìm ra lối thoát, Côi đang tuyệt vọng thì bỗng nhớ tới mấy quả trứng gà trong tiêu chuẩn của con Hạch. Phải rồi, chỉ còn cách ăn bớt tiêu chuẩn của con Hạch mà thôi. Côi là một đảng viên cộng sản cuồng tín và trung kiên bậc nhất, cho nên lúc đầu nàng kiên quyết chống trả tư tưởng mờ ám nói trên. Không thể được, mình mà lấy mấy trái trứng gà trong tiêu chuẩn của con Hạch đem về bồi dưỡng cho chồng thì sau khi chết làm sao dám nhìn mặt Bác Hồ dưới suối vàng? Bác đã dạy ‘cần kiệm liêm chính’ cơ mà! Nhưng ngay sau đó, Côi lại rạo rực nhớ tới những khoái lạc đêm nào. Nàng thầm thưa với Bác Hồ: cháu đã nửa đời hy sinh cho cách mạng mà chưa hưởng được tí gì, nay vì hạnh phúc cá nhân mà đành phải trái lời Bác dạy, xin Bác tha tội cho; hơn nữa, trong hai năm qua, con Hạch góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội bằng ấy cũng đã đủ rồi...! 

Vậy là Côi quyết định ăn bớt tiêu chuẩn của con Hạch. Hai quả trứng gà, từ nay nó sẽ chỉ được hưởng một, một dành cho Khoan. Việc thi hành âm mưu cũng chẳng khó khăn gì: Thừa lúc không ai để ý, Côi chỉ việc nhét quả trứng vào kẽ hõm giữa hai cái vú nung núc những thịt của nàng, cài khuy áo lại thì có trời biết. Buồi chiều về vừa tới nhà, Côi vội vã đóng cửa lại, cẩn thận lấy cái tăm tre chọc thủng hai đầu quả trứng, đưa cho Khoan mút cái rột là xong. 

Sáng hôm sau, Côi nhét cái vỏ trứng vào ngực, đem tới bỏ lại trong rổ như cũ. Múc cám ra máng xong, con Hạch vừa nhào tới thì Côi lấy hai quả trứng, một còn nguyên một đã rỗng ruột, bỏ vào máng và lớn tiếng vỗ về như mọi khi: - Chị cho Hạch xơi trứng này... Nhớ hoàn thành chỉ tiêu nhé! Con Hạch táp một cái. Phi tang! Tuy nhiên, không có ‘Phục Dương’ thì việc mỗi ngày mút một quả trứng gà tươi cũng chẳng đủ để biến một người bệnh tật, ốm yếu như Khoan thành một đực rựa khỏe mạnh. Khoan tuy có hồng hào thêm được một tí nhưng đêm đêm vẫn tiếp tục bỏ cuộc sớm để Côi phải chịu cảnh bẽ bang: Cố đấm ăn xôi, xôi lại hỏng Cầm bằng làm mướn, mướn không công! (Hồ Xuân Hương) 

Sau đó, Côi nhận thấy chỉ còn cách mỗi ngày lấy luôn quả trứng còn lại của con Hạch về cho Khoan bồi dưỡng, và mỗi tuần, cuỗm luôn ký đỗ chè trong tiêu chuẩn của nó về bán lấy tiền cắt thuốc bổ thận cho Khoan. Cái kẽ hõm giữa hai vú Côi nhét thêm một quả trứng nữa vẫn còn thừa chỗ. Riêng về việc tẩu tán ký đỗ thì kinh nghiệm Côi có thừa: Ngày vượt Trường Sơn vào tới Tây Nguyên, nàng thường giả dạng thường dân mỗi lần tải cả chục ký gạo từ Kontum vào rừng, bằng cách bó quanh bụng, quanh đùi, quanh ống chân, qua mặt quân địch dễ như chơi, nay chỉ có một ký đỗ thì nhằm nhò gì! Thế là từ đó mỗi ngày Khoan được bồi dưỡng hai quả trứng gà. Còn đỗ thì Côi lén đem sang xã bên cạnh bán cho bà hàng xôi, mỗi ký 15 nghìn, nhờ vậy cứ hơn ba tuần thì lại đủ tiền cắt một thang Phục Dương cho Khoan. Kết quả thật khả quan. Trong khi con Hạch càng ngày càng lười công tác thì Khoan lại đủ sức để ‘nhảy’ mỗi tuần một lần. Dĩ nhiên, nhảy có chất lượng! 

Say sưa với hạnh phúc riêng, Côi không còn để ý tới con Hạch nữa. Nhưng có một người khác đang âm thầm theo dõi tình hình công tác của nó. Đó là mụ Hến, tân tổ trưởng tổ chăn nuôi. Mụ Hến không phải ai xa lạ mà chính là bà vợ của đồng chí chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng kiêm bí thư chi bộ Đảng. Trước kia, nhờ thế lực của chồng, mụ được làm tổ trưởng tổ phơi và cân đong. Lý do để mụ vận động nắm tổ này cho bằng được cũng đơn giản: khi phơi thóc, mụ có thể bảo lũ con dẫn bầy gà con của nhà mình ra ăn thóc hợp tác xã, ai thấy thì lại giả vờ đuổi; còn khi cân đong thu mua gạo thóc, nông phẩm của xã viên, nhờ lanh tay 10 mụ ém còn 9, tới khi giao bán cho huyện, 9 mụ lại đẩy thành 10. Nhờ tẩu tán sản phẩm thặng dư, cộng với tiền ăn bẩn của chồng, mụ Hến có tiền xây nhà gạch hai tầng, và mới đây đã sắm cho đứa con gái lớn một chiếc xe Honda Dream. 

Thế nhưng mụ Hến không chỉ tham tiền mà còn hám danh. Sau khi thấy chị Mến, tổ trưởng chăn nuôi, nhờ thành tích của Côi và con Hạch mà được bình bầu làm ‘tổ trưởng xuất sắc’, được về Hà Nội thăm lăng Bác, được thiếu nhi thủ đô quàng vòng hoa, được báo Đảng đăng hình... mụ Hến đã bắt chồng điều chị Mến đi nơi khác để đưa mình về coi tổ chăn nuôi. Thời gian chị Mến bàn giao công việc cho mụ Hến cũng là lúc Côi bắt đầu lấy hết tiêu chuẩn của con Hạch về cho Khoan bồi dưỡng và cắt thuốc cho chồng. Thấy từ ngày mình về nhận chức tổ trưởng, con Hạch càng ngày càng lười nhảy, mà có nhảy cũng không đạt chỉ tiêu, cũng hết chất lượng, mụ Hến đâm nghi Côi là tay chân của chị Mến, nay thấy chị bị thuyên chuyển nên cố tình phá thối để trả thù. Từ đó, mụ ngấm ngầm theo dõi hành tung của Côi. 

Mụ Hến xuất thân là một liên lạc viên của Việt Minh thời kháng Pháp. Năm lên 7 tuổi, Hến đã được biểu dương nhờ những thành tích như báo cáo bố đêm nằm ngủ thở dài vì sắp tới lượt đi ‘dân công’, báo cáo mẹ còn dấu cái nhẫn cưới bằng bạc không chịu nộp ủng hộ kháng chiến, tố cáo hàng xóm giết gà ăn rồi đổ tội cho chồn cáo, tố cáo cô giáo ‘hủ hóa’ với người yêu. v.v... Với những kinh nghiệm rình mò như thế, việc theo dõi hành tung của Côi đối với mụ Hến chẳng mấy khó khăn. 

Hôm ấy là Thứ Hai đầu tuần, ngày mà khi ra về ngoài hai quả trứng nhét trong ngực, Côi còn quấn quanh đùi ký đỗ. Kẻng tan việc vừa đánh ba tiếng, mụ Hến đã ra lệnh: - Mọi người ở nại (lại) cho tôi nên nớp (lên lớp)! Sau khi mọi người trong tổ đã tụ tập trước sân, mụ dõng dạc: - Đồng chí Côi bước ra khỏi hàng! Côi rụt rè tiến lên. - Đồng chí dấu những gì trong người, tự giác lấy ra cho mọi người xem! Côi xanh mặt, trong khi mọi cắp mắt đổ dồn về phía nàng, ai nấy đều thắc mắc ‘chẳng lẽ cả đến Côi cũng ăn cắp?’ 

Thấy Côi im lặng cúi đầu, mụ Hến lên giọng: - Đồng chí không dám thú nhận hử? Vậy thì để tôi nói cho mọi người nghe nhé: các đồng chí có biết tại sao từ ngày tôi về đây nàm tổ trưởng chăn nuôi, con Hạch nại không còn sức đi nhảy đực nữa hay không...? Thật dễ hiểu: đồng chí Côi đã nấy hết tiêu chuẩn trứng và đỗ chè của nó đem về bồi dưỡng cho chồng... Mọi người cùng ‘ồ’ lên kinh ngạc. Riêng mụ Hến, tới đây mụ đã để lộ toàn bộ cái bản chất tàn độc, dã man và cung cách thấp hèn của một kẻ vô học, theo Đảng từ khi mới nứt mắt: - ...Bồi dưỡng để công tác thì chẳng nói nàm gì, đây bồi dưỡng chỉ để cùng nhau... hủ hóa. Tôi quên, xin nỗi đồng chí Côi nhé, đã đăng ký nấy nhau thì tôi không được phép gọi nà hủ hóa nữa, mà phải gọi là đ...(ịt). 

Từ lâu, bản thân mụ Hến đã không còn được hưởng một lần ân ái cho ra hồn. Mỗi khi bị mụ đòi hỏi mà không có cớ gì để thoái thác, chồng mụ - lão chủ nhiệm hợp tác xã Sao Vàng – đành phải thi hành bổn phận làm chồng một cách gượng ép, miễn cưỡng, qua quýt cho xong nợ chứ chẳng hứng thú gì. Điều đó mụ Hến thấy rõ: hai bàn tay lão không thèm đụng tới người mụ, mặt quay đi chỗ khác, đầu óc có lẽ đang nghĩ tới cái con đĩ bộ đội lẳng lơ ở văn phòng hợp tác xã... Thành thử mụ ghen cả với lạc thú của Côi, một cô gái xấu xí, bẩn thỉu mà theo mụ không có quyền hưởng một thứ gì trên cõi đời này cả... 

Mụ Hến như nổi cơn điên dại, mụ không còn nhớ mình đang đứng trước mặt đám đàn bà con gái nữa. Mụ buột miệng phun ra những lời cực kỳ thô bỉ, trong lòng vô cùng hả hê vì được dịp nói bẩn: - Đồng chí có biết mỗi nần vợ chồng đồng chí đ... nhau thì hợp tác xã bị thiệt hại mấy nứa nợn không...? Tại sao đồng nại câm như hến thế? Những núc đ... nhau, đồng chí tru tréo ghê nắm kia mà... (mụ nhái giọng Côi) ... Giờ... ời ơi, bu... u ơi, sướng quá!... Ối giờ... ời ơi, Khoa... oan ơi, sướng quá...! Mọi người há hốc mồm, trợn tròn mắt, còn Côi thì tái mặt: vậy là mụ Hến đã rình rập cả những lúc nàng và Khoan làm chuyện vợ chồng. Côi muốn độn thổ! 

Rồi như thể đang đứng trước một kẻ thù truyền kiếp, mụ Hến xông tới trước mặt Côi, nắm cổ áo nàng giật mạnh: hai quả trứng gà văng khỏi ngực, rơi xuống nền đất vỡ nát. Mọi người còn đang sững sờ thì mụ đã cúi xuống nắm quần Côi kéo tụt xuống tận bắp chân: - Đấy, cả tổ nàm chứng nhé, trứng dấu trong vú, đỗ dấu quanh bẹn nhé, không khéo còn nhét cả cá khô trong háng nữa đấy. Kinh tởm! Vậy mà cũng huân chương nao động mí nại chiến sĩ thi đua... Thi đua đ... thì có! 

Buổi họp toàn thể xã viên của hợp tác xã Sao Vàng để kiểm thảo Côi và Khoan được tổ chức vào 9 giờ đêm hôm đó. Khi mọi người đã hiện diện đông đủ, vẫn không thấy đôi vợ chồng khốn khổ xuất hiện. Lão chủ nhiệm sai người đi tìm. Một lát sau, Khoan được đưa tới. 

- Vợ đồng chí đâu? Lão chủ nhiệm hỏi. 

- Tôi cũng chẳng biết nữa. Từ lúc về nhà, cô ấy chỉ có khóc, sau đó âm thầm bỏ đi. Tôi đợi mãi cũng chẳng thấy về. 

Lão chủ nhiệm vội vàng ra lệnh đình hoãn buổi họp kiểm thảo. Chả là hồi chiều, lão đã dặn Đào, cô thủ kho, tới kho để tranh thủ làm đêm. Tuy nhiên, trước khi giải tán, mụ Hến cũng còn cố bắt toàn thể xã viên hiện diện nhất trí thông qua biện pháp xử lý kỷ luật do mụ đề nghị: cảnh cáo Khoan, loại Côi ra khỏi biên chế và chuyển sang tổ gánh phân. 

Ra khỏi phòng họp, lão chủ nhiệm nói với vợ: - Mẹ nó về trước nhé, tôi phải đi kiểm soát kho mới được. Thời buổi này, chẳng còn biết tin ai nữa! Mụ Hến đi rồi, lão quay sang tìm Đào: 

- Này đồng chí Đào, ta về kho làm việc. Vừa vào trong kho, lão chủ nhiệm đã vội vã cài then cửa lại, rồi một tay ôm eo, một tay bóp loạn xạ lên cặp vú căng tròn của Đào. Vừa bốc hốt, lão vừa lôi Đào về phía cái giường kê cạnh bồ lúa. Từ ngày được trao chức vụ thủ kho tới nay, Đào đã phải phục vụ con lợn lòng của lão chủ nhiệm không biết bao nhiêu lần, nhưng chưa bao giờ Đào thấy lão hùng hổ, ngấu nghiến như hôm nay. Cô nàng chống chế lấy lệ: 

- Nhè nhẹ thôi đồng chí, em đang có mang!" 

Nghe Đào nói, lão chủ nhiệm mới sực nhớ tới việc Đào đã về làm vợ tay trung úy méo mồm từ mấy tháng nay. Cái tư tưởng được đè vợ người khác ra càng khiến thú tính trong người lão chủ nhiệm trở nên hung bạo. Lão đẩy mạnh Đào xuống giường rồi chồm lên như một con hổ đói. Chưa bao giờ cái giường tre lại phải chịu đựng những cơn bão táp dồn dập, kinh hồn đến như vậy! 

Sáng hôm sau, vừa chặt chân tới văn phòng, lão chủ nhiệm đã đi vội vào buồng trong, mở tủ lạnh lấy trứng gà tươi mút một hơi mấy quả. Trở ra, lão ra lệnh cho Liễu, cô thư ký riêng, làm cho mình một ly cam vắt. Lão ưỡn người trên ghế, hai chân gác lên bàn, đưa cặp mắt dâm đãng quan sát cô gái xinh đẹp nhất trong đám nữ bộ đội phục viên. Hình như từ ngày con bé lấy chồng, người nó trông mẩy hẳn ra...! Lão chủ nhiệm nghĩ thầm rồi bất giác nuốt nước bọt. Bỗng một tia sáng lóe ra trong đầu, lão gọi: 

- Này đồng chí Liễu! 

- Gì cơ ạ? 

- Đồng chí Đào có chửa rồi. Đã không biết thì thôi chứ biết ai lại nỡ để đồng chí ấy ở dưới cái kho bụi bặm ấy...! Hay là ta để đồng chí ấy lên đây lo giấy tờ còn đồng chí xuống coi kho nhé? 

Xưa nay, Liễu thừa biết Đào có tiền mua quần áo đẹp, sắm đồng hồ đeo tay... là nhờ được giữ chìa khóa kho. Nàng cũng thừa biết để đổi lại, Đào đã phải tỏ ra dễ dãi mỗi khi đồng chí chủ nhiệm đòi ủng hộ sinh lý. Sau hai năm ở trên văn phòng, Liễu đã hơi tởm đồng chí chủ nhiệm nồng nặc mùi hôi nách này. Tuy nhiên so với các thủ trưởng mà nàng được phân công làm hộ lý thời còn trong chiến khu, Liễu thấy đồng chí chủ nhiệm vẫn còn sạch sẽ, phong lưu chán. Hơn nữa, ở trên văn phòng đã chẳng sơ múi gì mà còn có nguy cơ có ngày bị mụ Hến nổi cơn ghen cho người tạt át-xít. Thôi thì mình cũng chẳng lành lặn gì, nhất là cũng đã lấy được chồng rồi, xuống làm thủ kho quách cho xong, vừa yên thân vừa có tiền! Lòng đã quyết, Liễu cười lẳng lơ, ỏn ẻn đáp: 

- Đồng chí chủ nhiệm bảo sao, em làm vậy ạ. 

Đúng lúc đó, bưu tín viên tới, đem vào một tờ báo Đảng. Lão chủ nhiệm vừa mới mở tờ báo ra, chưa kịp đọc đã thấy một xã viên hấp tấp chạy vào, hổn hển báo cáo: 

- Thưa đồng chí chủ nhiệm, đồng chí Côi tự tử... chết rồi! 

- Cứ từ từ xem nào, việc gì mà phải quýnh quáng lên thế...! Tự tử ở dâu? 

- Thưa, đồng chí ấy nhảy xuống giếng của tổ chăn nuôi ạ! 

Lão chủ nhiệm cau mày, chửi thề: - Mẹ kiếp, sao không đi chỗ khác mà chết cho khuất mắt! Nhảy xuống giếng chăn nuôi thì rồi đây còn ma nào dám mua lợn của mình nữa... Thôi, lo mà kéo xác nó lên rồi trình công an. 

Rồi như không còn quan tâm tới cái chết của cô xã viên từng đem lại vinh dự cho cả hợp tác xã Sao Vàng, lão chủ nhiệm bình thản ngồi xuống bàn đọc báo Đảng. Lướt qua trang nhất, lão bỗng buột miệng: 

- Mẹ, tay này can đảm thật, ăn thế mới gọi là ăn chứ! 

Liễu hỏi: - Tin gì thế đồng chí? 

- Tin thứ trưởng Bộ năng lượng bị cách chức vì tội ăn cắp hàng nghìn tấn thép, trị giá có đến vài chục nghìn cây vàng. Báo nói thể nào cũng bị khai trừ khỏi Đảng. Hàng chục nghìn cây vàng! Lão chủ nhiệm thẫn thờ, rồi bất giác nhắc lại câu nói của mình ban nãy: - Mẹ, ăn như thế mới gọi là ăn, có bị khai trừ ông cũng đếch cần. Chặc! Làm lớn sướng thật, chứ ai như đám tép riu chúng mình, ăn cả đời chắc gì đã mua được cái ô-tô vài trăm lượng! 

Đúng một tuần sau khi Côi nhảy xuống giếng tự tử chết, vào khoảng nửa đêm, dãy nhà dùng làm tổ chăn nuôi của hợp tác xã Sao Vàng bỗng dưng bốc cháy. Sáng ra kiểm điểm thiệt hại, mụ Hến thấy trong số lợn bị chết cháy, có cả con Hạch. Gần đó là cái xác cong queo, cháy đen của Khoan. Không ai biết đích xác vì anh chạy không kịp, hay anh đã tự kết liễu đời mình?! 

Tác Giả: Nguyễn Hoài Nam

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |