Gia chánh

Thảm họa môi sinh Việt Nam từ FORMOSA


THÔNG BÁO BIỂU TÌNH
Vào lúc: 13: giờ 00, ngày 10/9/2016
Tại: London
Tuần hành đến địa điểm Biểu Tình (trước sứ quán VC)
***********************

Chúng tôi kêu gọi sự tham dự thật đông đảo của toàn thể quý đồng hương vì biển, vì cá và vì nguồn sống của người dân Việt chúng ta ở trong nước.

ỦY BAN TỔ CHỨC BIỂU TÌNH

*******
HÃY VÙNG LÊN MÀ DÀNH LẠI SỰ SỐNG.
Người, không thể ly khai xã hội.
Người, không thể thoát ly dân tộc, tổ quốc!
Trên Hành tinh nếu sống lẻ loi một người, vậy sống không bằng chết!
Càng nghĩ lại mà càng thấy tuyệt vọng. Đến giờ phút này mà cả Dân Tộc ta không biết Đoàn Kết lại thì chúng ta chỉ còn một kết cục là Diệt Vong. Mọi người nên nhớ chỉ cần Đoàn Kết là chúng ta sẽ làm được. Tụi Cộng Sản Việt Nam từ lúc ban đầu thành lập chúng cũng chỉ có vài người, nhưng sau lưng chúng là cả một tổ chức Cộng Sản lớn, sau đó chúng tăng lên được vài triệu người và chúng có thể thao túng và lừa dối cả Dân Tộc chúng ta. Chúng ta cần phải Đoàn Kết lại mới có đủ sức mạnh chống lại bọn Phản Quốc.
Dân Tộc Việt Nam sẽ là một quốc gia diệt vong.
Những người Việt còn sống có một cái tên, đó là… Dân mất nước!
Tổ Quốc là nơi chôn rau cắt rốn của mình!
Dân tộc Việt Nam là rễ của mình! Nếu gốc chết, lá cũng sẽ khô héo! Còn mình… cũng chỉ là một cái lá tương đối khỏe trong vô số cành lá thôi.
Nếu gốc chết, lá có sống nổi không?
Nếu cả Dân Tộc Việt Nam diệt vong.
thì chúng ta sống thì còn có ý nghĩa gì nữa? Không bằng oanh oanh liệt liệt mà chết đi. Đến Tổ Quốc cũng mất thì chúng ta còn gì mà phải e ngại nữa?
-----------

Friday, 26 August 2016

Cộng Đồng Vương Quốc Anh: Thư mời tham dự cuộc biểu tình chống Vgcs và Formosa gây thảm họa môi sinh 10/9/2016



Ngày 26 tháng 8 năm 2016
THƯ MỜI
Biểu tình chống Formosa gây thảm họa
môi sinh bốn tỉnh miền Trung Việt Nam
Kính gửi: Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo,
Toàn thể quý đồng hương,
Quý cơ quan truyền thông, báo chí.
Thưa quý vị,
Kể từ ngày 6/4/2016, nhân dân cả nước đã và đang chịu ảnh hưởng
nặng nề về sự đe dọa đến sức khỏe và an nguy đến tính mạng của mình từ việc nhà
máy luyện thép Formosa thải chất độc hại giết môi sinh suốt dọc bờ biển bốn
tỉnh miền Trung Việt Nam.
Không những thế, việc hủy hoại môi sinh của biển đã dẫn theo
hàng trăm ngàn gia đình ngư dân phải thất nghiệp, không kế sinh nhai. Thiếu
thực phẩm, trẻ em không còn đến trường, phải bỏ học lưu lạc sang quốc gia lân
cận để tự kiếm sống.
Cùng nỗi đau thống thiết của người dân trong nước, nhất là bao gia
đình ngư dân trong bốn tỉnh miền Trung bị thất nghiệp hơn mấy tháng qua, đã
không được đền bù thỏa đáng, và không được trợ giúp thiết thực của nhà cầm
quyền hiện nay.  Một cuộc biểu tình sẽ
được tổ chức:
Vào lúc: 13 giờ 00 đến 15giờ 00 ngày 10/9/2016.
Địa điểm: Ðối diện sứ quán Việt cộng, 12-14
Victoria Road, London,W8 5RD.
Điểm tập trung: Palace Gate, Kensington
Road, Kensington Gardens, London,W8.
Để chúng ta cùng cất lên tiếng nói cùng toàn dân cả nước đòi hỏi
nhà cầm quyền CSVN phải trả lại sự minh bạch cho người dân trong thảm họa môi
sinh mà Formosa đã gây ra. Formosa phải bồi thường thỏa đáng cho hết thảy những
thiệt hại mà người dân tại bốn tỉnh miền Trung Việt Nam phải gánh chịu và
Formosa phải có trách nhiệm làm sạch môi sinh vùng biển tại bốn tỉnh trên mà chính
họ là nguyên nhân.
Chúng tôi kêu gọi sự tham dự thật đông đảo của toàn thể quý đồng
hương vì biển, vì cá và vì nguồn sống của người dân Việt chúng ta ở trong nước.
Trân trọng kính mời,
T.M. Ban tổ chức,
Lê Phát Định
-------------------------------------
GHI CHÚ:
·
Vì không biết hết địa chỉ cũng như e-mail của tất cả quý đồng
hương. Kính mong quý vị nhận được thư mời này xin vui lòng phổ biến rộng rãi
bằng bưu điện hoặc e-mail đến mọi người thân quen và xin vui lòng mang theo cờ
Quốc Gia (nếu có). Chân thành cám ơn.
·
Quý đồng hương vùng Midlands và vùng Tây Bắc xin liên lạc trước để
cùng di chuyển về London. Địa điểm tập trung:  9 giờ sáng, 10/9/2016 tại Cộng Đồng Người
Việt tỵ nạn vùng Midlands. 


 http://www.ukdautranh.com/2016/08/vuong-quoc-anh-thu-moi-bieu-tinh-chong.html

Putin nhớ Gorbachev :Cách mạng Tháng Tám và ngày tàn Xô Viết

Putin nhớ Gorbachev, và thương mình

Cách mạng Tháng Tám và ngày tàn Xô Viết

 8-1945_400x300 Biến cố đó là cuộc đảo chánh ngày 19 Tháng Tám năm lại Liên Bang Xô Viết nhằm lật đổ Chủ Tịch Mikhail Gorbachev để cứu lấy đảng Cộng Sản – với hậu quả là làm Liên Xô tan rã rồi sụp đổ. Tổng Thống Putin của Liên Bang Nga đang tiến hành một việc tương tự, nhưng trông mong một hậu quả khác.Tuần qua, thế giới lại quên một biến cố xảy ra 25 năm trước. Nếu nhớ ra, người ta có thể hiểu vì sao Liên bang Nga và Vladimir Putin lại chẳng nên mừng…
Tiếp theo kỳ trước, kỳ này  nói về chuyện cũ để tìm hiểu tương lai của Putin.
Bè lũ tám tên của Cách Mạng Tháng Tám
Từ nhiều năm rồi, một số lãnh tụ thủ cựu của đảng Cộng Sản Liên Xô bất bình với chánh sách đổi mới của tổng bí thư đảng kiêm chủ tịch Liên Bang Xô viết là Mikhail Gorbachev. Tám người cầm đầu xu hướng này mới tổ chức một cuộc đảo chánh để cứu vãn tình hình.
Nhằm ngăn ngừa sự sụp đổ của Liên Xô sau mấy thập niên lụn bại trong ổn định của Leonid Brezhnev, Gorbachev tiến hành cải cách theo hai hướng. Một là giải phóng thông tin gọi là glasnost, hai là cải tổ cơ cấu gọi là perestroika. Là một lãnh tụ trẻ, lên cầm quyền năm 1985 ở tuổi 54 nhờ hậu thuẫn của một nhân vật am hiểu về tình báo và thực trạng đất nước là Tổng Bí Thư Yuri Andropov, Gorbachev nắm vững tình hình và muốn cứu đảng. Trong nỗ lực giải tỏa, ông tìm hậu thuẫn của các thành phần bảo thủ, và mời họ vào chính quyền. Trong nỗ lực cải tổ, ông liên kết với các phần tử chủ trương tự do hóa, với mục tiêu dung hòa quyền lợi giữa trung ương và các nước Cộng Hòa trong Liên Bang Xô Viết đang suy sụp dần. Đấy là bài toán ngàn đời của một Đế Quốc Nga quá rộng lớn và có quá nhiều dị biệt,
Khi sáu nước Cộng Hòa lại nhân việc cải tổ cơ cấu để đòi ly khai từ năm 1990 thì Gorbachev tranh thủ sự ủng hộ của tám nước Cộng Hòa còn lại bằng cách phân quyền, cho họ thêm quyền hạn. Nhóm thủ cựu trong chính quyền bèn liên kết với nhau để gây áp lực và đòi Gorbachev ban bố tình trạng khẩn cấp và chế độ thiết quân luật tại các nước Cộng Hòa. Gorbachev từ chối và lại đi nghỉ mát tại biệt thự của ông trên bán đảo Crimea. Tại thủ đô Moscow, nhóm bảo thủ bèn quyết định đảo chánh.
Họ là các đảng viên Cộng Sản cao cấp, bộ trưởng hay tư lệnh quân đội. Cầm đầu cơ quan mật vụ KGB, Vladimir Kryuchkov, là kẻ chủ mưu với hy vọng nắm vững được cơ sở. Khi máy bay của Gorbachev còn chưa hạ cánh tại Crimea, nhóm đảo chánh huy động các lực lượng ưu binh của KGB và quân đội, đưa chiến xa bao vây biệt thự của Gorbachev lẫn tư dinh của Chủ Tịch Cộng Hòa Nga là Boris Yeltsin và cắt hết đường dây điện thoại liên lạc với Gorbachev, kể cả đường dây khẩn cấp. Điện thoại của các nhân vật trọng yếu trong chính quyền cũng bị nghe lén, truyền hình toàn quốc liên hồi tấu lên nhạc khúc Swan Lake của Tchaikovsky và báo chí bị đóng cửa. Khi ấy, Nga là nước Cộng Hòa trọng yếu của cả liên bang đã bị phân quyền và Chủ Tịch Boris Yeltsin là nhân vật quyền thế nhất sau Gorbachev.
Nhưng thế lực quan trọng nhất của toàn cuộc lại là quần chúng. Họ không chấp nhận cuộc đảo chánh và xuống đường biểu tình. Tại thủ đô Moscow, Yeltsin vượt khỏi vòng vây quân sự và gia nhập cuộc biểu tình trong khi Gorbachev vẫn ở tại biệt thự của mình. Yeltsin kêu gọi dân chúng nổi dậy chống cuộc biểu tình của “các phần tử phản động.” Đám ưu binh của KGB và quân đội chùn tay, không dám đàn áp và cuộc đảo chánh thất bại sau ba ngày căng thẳng…
Đám chủ mưu sa lưới nhưng nỗ lực cải cách của Gorbachev cũng tan rã.
Trong vòng bốn tháng sau, nhiều nước Cộng Hòa như Ukraine và Belarus cũng tách khỏi cơ chế Xô Viết và sự chỉ huy của Moscow. Đêm 25 tháng 12, 1991 Gorbachev lên truyền hình tuyên bố từ chức chủ tịch và hôm sau chính thức giải tán Liên Bang Xô Viết. Người hùng chống đảo chánh là Boris Yeltsin lên lãnh đạo một nước Cộng Hòa tân lập mà suy yếu là Liên Bang Nga.
Gorbachev cùng Liên Xô trở thành dĩ vãng là nhờ cuộc đảo chánh bất ngờ mà luộm thuộm này của các đảng viên Cộng Sản cao cấp nhất! Mãi về sau, Gorbachev mới giác ngộ rằng chủ nghĩa Cộng Sản là tai họa cho nhân loại. Còn người kế nhiệm Boris Yeltsin để lãnh đạo Liên Bang Nga là Vladimir Putin lại gọi sự sụp đổ của Liên Xô là “một thảm kịch lớn của thế kỷ!”
Được phe bảo vệ an ninh cất nhắc làm thủ tướng cho Yeltsin từ năm 1999, rồi lãnh đạo từ năm 2000, ngày nay, sau hai nhiệm kỳ tổng thống (2000-2008) và một nhiệm kỳ thủ tướng (2008-2012), Tổng Thống Putin đang giáp mặt với một thảm kịch mới – mà lại như cũ. Có lẽ, ông nên thông cảm với Gorbachev.
Thảm cảnh Putin
Trong 16 năm qua, kể từ khi làm quyền tổng thống vào năm 2000, Vladimir Putin đi lại lộ trình của Mikhail Gorbachev.
Ông cũng dung hòa hai phe là tự do và cấp tiến với phe độc tài và bảo thủ để củng cố quyền lực trong mục tiêu xây dựng lại sức mạnh cho Liên Bang Nga. Vì vậy, chế độ của ông có vẻ dân chủ về hình thức, qua hiến pháp và bầu cử, trong khi vẫn giữ thực chất độc tài và thủ đoạn gian hiểm. Cái khác là chủ nghĩa dân tộc Nga đã thay thế chủ nghĩa Cộng Sản.
Vì chiến lược dung hòa đó, Putin xoay trở giữa hai hướng trái ngược, về cả nội chính lẫn đối ngoại.
Về nội chính, phe tự do và cấp tiến thì muốn Liên Bang Nga giải phóng kinh tế và về đối ngoại thì có quan hệ thân hữu Tây phương. Phe bảo thủ ưu tiên lo cho an ninh thì muốn Liên Bang Nga chinh phục lại những nước Cộng Hòa từng ở trong Liên Bang Xô Viết để làm vùng trái độn quân sự, đấy là chuyện tấn công Georgia năm 2008 và Ukraine năm 2014, và họ đòi vừa dứt quan hệ với Tây phương vừa bành trướng ảnh hưởng qua các khu vực khác.
Putin đong đưa ở giữa như vậy được 15 năm, nay đi vào giông bão vì làm cả hai thế lực cùng bất mãn và sinh tà ý.
Xuất thân là nhân viên KGB và lạnh lùng thấu hiểu sự tình, ông cảm nhận được sự lung lay của quyền bính nên bắt đầu thanh trừng bên trong và thậm chí xây dựng hệ thống quân sự cho cá nhân, là lực lượng vệ binh quốc gia mới thành lập đầu tháng 4 vừa qua. Nhìn theo cách nào đó, Putin dụng quyền chẳng khác gì Tập Cận Bình, Boris Yeltsin hay nhiều lãnh tụ trước đó, kể cả Leonid Brezhnev.
Khi Brezhnev đảo chánh Nikita Krushchev để lên cầm quyền vào năm 1964, ông thừa hưởng di sản của cách mạng vô sản: Liên Xô bị khủng hoảng vì mâu thuẫn hữu cơ và tự tại của chủ nghĩa Cộng Sản.
Sản lượng công nghiệp suy sụp trong khi yêu cầu an ninh thu hút gần hết tài nguyên quốc gia. Hệ thống tập trung kế hoạch kiểu Xô Viết – hay kiểu Mao Hồ sau này tại Châu Á – không giải quyết được bài toán quốc kế dân sinh. Và chế độ không quản lý nổi nền kinh tế phức tạp của một quốc gia quá rộng lớn với quá nhiều dị biệt. Khi ấy, Brezhnev cũng muốn dung hòa, vừa tiếp nhận một số lý luận cải cách của giới kinh tế và luật gia của chế độ vừa muốn bảo vệ an ninh bằng sức mạnh quân sự.
Khốn nỗi, giải pháp kinh tế cho chiến lược dung hòa ấy chính là sản xuất dầu khí!
Trong hai thập niên, sản lượng dầu tăng gấp bốn, cho phép chế độ vừa có gạo vừa có súng, nhất là súng. Nhưng cơ cấu kinh tế, cụ thể là đầu tư vào kỹ nghệ và nông nghiệp, thì vẫn tụt hậu. Khi giá dầu suy sụp, từ gần 40 đô la xuống 10 đồng một thùng (tương đương với 117-22 đồng theo hiện giá), kinh tế suy thoái và ba năm mất mùa gây ra nạn khan hiếm lương thực. Mà khi ấy Liên Xô lại đưa quân vào Afghanistan để bành trướng ảnh hưởng! Brezhnev tạ thế vào năm 1982 thì tình hình đã thành cùng quẫn…
Gorbachev lên cầm quyền cũng chẳng cứu được chế độ và cuộc đảo chánh chỉ đẩy mạnh đà tan rã. Thảm cảnh ngày nay của Putin là những gì đã có thể thấy từ ngày xưa.
Ảo giác anh hùng
Putin lập thành tích khôi phục được ảnh hưởng của Liên Bang Nga với hai cuộc phiêu lưu quân sự vào Georgia và Ukraine. Nhưng lực đẩy cho đà thắng lợi ấy vẫn là dầu khí lên giá, một ảo ảnh phú cường.
Yếu tố năng lượng lại khiến Putin không cải cách kinh tế theo hướng đa diện hóa để khỏi lệ thuộc vào dầu thô và khí đốt. Các tài phiệt lãnh đạo khu vực này là tay chân thân tín của Putin nên cũng là trở lực cho cải cách. Khi dầu thô sụt giá và kinh tế suy sụp, Putin nhấn tới và tìm thắng lợi ở bên ngoài, tại chiến trường Syria ở Trung Đông. Ông gây ảo giác về một nước Nga anh hùng có thể thách đố áp lực của Âu Châu và thế lực của Hoa Kỳ về vụ cưỡng đoạt bán đảo Crimea của Ukraine. Ông còn chiêu dụ chính quyền lúng túng của Barack Obama về một giải pháp cho Syria và Trung Đông và vừa mới biểu diễn khả năng hợp tác với hai cường quốc Hồi giáo trong khu vực là Iran thuộc hệ phái Shia và Turkey theo hệ phái Sunni.
Sự thật thì sức mạnh quân sự Nga tại Syria chưa thể sánh với thế lực Hoa Kỳ trong khu vực. Việc Putin khai thác thành quả ngoại giao là dùng căn cứ quân sự của Iran để tấn công các lực lượng chống chế độ độc tài Syria chỉ nổi được ba ngày thì chìm. Vì quyền lợi của Iran, các Giáo chủ tại Tehran cần bảo vệ Syria nhưng chưa khi nào tin Liên Bang Nga. Việc Putin siết chặt quan hệ với Turkey cũng chẳng có kết quả gì vì chính quyền của Tổng Thống Recep Tayyip Erdogan vẫn nghi ngờ ý đồ của Nga trong vùng Hắc Hải.
Những ảo ảnh đó chỉ là màn khói che phủ sự thật:
Putin không nuốt nổi cái gân gà Ukraine, có ảnh hưởng giới hạn tại Trung Đông, chẳng thể hồi phục nền kinh tế, và lại làm các công thần đang suy nghĩ lại về tương lai của chính bản thân. Xưa nay, các thành phần này đã có thể truất bãi Krushchev và trao quyền cho Brezhnev hoặc đưa Putin lên thay Yeltsin… Ngày nay, Putin đang sống với kịch bản đó.
Kết luận ở đây là gì?
Khi lãnh tụ tập trung quyền lực thì đấy là triệu chứng của bệnh sợ hãi vì họ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù – mà kẻ thù gần nhất là những kẻ thân cận!
Vladimir Putin có thể không hoàn tất nhiệm kỳ tổng thống vào năm 2018. Nhưng ai sẽ đảo chánh một hệ thống tan rã để cứu lấy một nước Nga không thể cứu vãn được?
Hùng Tâm

Nhớ lại món ngon Sài Gòn ngày trước



Bây giờ ở VN ăn gì cũng chết, và chết từ từ, nhất là trái cây và hải sản. Không còn các món ngon của Saigon xưa. Mời đọc lại lần nữa bài viết của Nguyễn Ngọc Chính (Frank Do franky92683@yahoo. com)


Tôi rất tâm đắc với ý kiến này. Hồi còn trong trại tù cải tạo, cái bụng lép kẹp lúc nào cũng sôi ùng ục, tôi và vài người bạn tù có “tâm hồn ăn uống” vẫn thường kể cho nhau nghe những món khoái khẩu của mình. Ăn “hàm thụ” sao mà ngon thế. Phải nói ngon gấp nghìn lần ăn… thực thụ!Có nhà văn nào đó cho rằng khi viết về ẩm thực bụng phải đói mới “lột tả” hết cái ngon của món ăn.

Thời cải tạo qua đi nhưng thời điêu linh lại kéo tới. Vào thời đó, cái để đút vào mồm chỉ toàn khoai mì chạy chỉ với bo bo, còn được mệnh danh là… cao lương. Ngồi nhấm nháp cao lương mà cứ tức anh ách. Ai đó đã khéo chơi chữ mà đặt tên, mỉa mai không khác gì cái món “mầm đá” của ông vua ngày xưa!

Nhưng rồi cũng qua đi cái thời ăn để mà sống, người ta bỗng nhớ đến thời… sống để mà ăn ở Sài Gòn hoa lệ ngày nào.

Theo tôi, một trong những món ngon đó phải kể đến phở. Mặc dù phở có xuất xứ từ miền Bắc nhưng phở Sài Gòn thường ăn kèm với giá, ngò gai, húng quế vẫn ngon hơn phở Hà Nội thiếu hẳn các loại rau thơm mà lại không có giá. Vào đến Sài Gòn ngày xưa có con đường tên Turc (Thổ Nhĩ Kỳ), một đầu là đường Tự Do (Catinat), đầu kia là đường Hai Bà Trưng (Paul Blanchy). Tiệm Phở Bắc được bán trong khuôn viên nhà thờ Hồi Giáo này, nên có tên là Phở Turc.

Sài Gòn 1954, lúc người Bắc mới vào Nam, những tiệm Phở Bắc hãy còn đếm được trên đầu ngón tay. Ðó là mấy tiệm Phở Thịnh đường Gia Long, Phở Turc đường Turc, Phở Minh đường Pasteur và Phở 79 ở đường Frère Louis (sau này đổi tên thành đường Võ Tánh và đến 1975 lại đổi thành Nguyễn Trãi thuộc quận 1).

Ngay bên hông rạp Casino có một hẻm nhỏ, đi vào hẻm đó là một dẫy nhà, đa số là nhà dân Bắc Kỳ di cư sớm, từ những năm 1920. Tiệm Phở Minh nằm ở dãy nhà đó.

Phở Minh có cả phở bò lẫn phở gà nhưng đặc biệt hơn cả còn có bài thơ do thi sĩ Trần Rắc đề tặng. Bài thơ được cắt chữ, đóng khung kính, treo trên tường. Bài thơ Ðường Luật có 4 câu đầu như sau:

Nổi tiếng gần xa khắp thị thành,
Trần Minh Phở Bắc đã lừng danh
Chủ đề: tái, chín, nạm, gầu, sụn,
Gia vị: hành, tiêu, ớt, mắm, chanh.

Thi sĩ Trần Rắc chính là ông chủ tiệm giày Trần Rắc đường Lê Thánh Tôn, gần Khám Lớn Catinat năm xưa. Tiệm giầy Trần Rắc, và cả mấy tiệm giầy ở đường này, đều có cửa sau đi vào hẻm “ẩm thực” Casino.

Việt Nam ta đúng là… ra ngõ gặp nhà thơ. Ðến như ông chủ tiệm giày cũng có thể làm thơ về phở chứ chưa dám nói đến Tản Ðà là người viết nhiều về nghệ thuật ăn uống!

Trên đường Mạc Ðĩnh Chi (Massiges), gần bên hông Tòa Ðại Sứ Mỹ, còn có phở Cao Vân, dù tiệm phở này không nằm trên đường Trần Cao Vân (Larclause) cách đó không xa. Theo tôi, phở Cao Vân (25 Mạc Ðĩnh Chi) chỉ thuộc loại “thường thường bậc trung” nhưng được nhắc tới cùng với phở Minh vì Cao Vân cũng có một bài thơ ca tụng phở của thi sĩ Tú Mỡ được viết bằng sơn ngay trên tường.

Trong các món ăn Quân Tử Vị
Phở là quà đáng quý trên đời

Chủ của phở Cao Vân ngày nay là một ông cụ Bắc Kỳ hom hem theo năm tháng. Ông không còn đứng ra nấu phở nhưng chiều chiều thường ngồi nhậu lai rai với các “chiến hữu” để hưởng nhàn!

…Trên đường Pasteur có Phở Hòa, khá nổi tiếng. Ban đầu, lúc khai trương năm 1960, tiệm phở này mang tên Hòa Lộc. Có lẽ sau này khách ăn cứ gọi tắt là Hòa nên Hòa Lộc biến thành Hòa theo kiểu gọi tên một chữ cho dễ nhớ thường thấy ở các tiệm phở (?). Phở Hòa chỉ chuyên loại phở bò, nếu vào đây mà tìm tô phở gà thì không có. Khách phải chịu khó ra đường Hiền Vương (bây giờ đổi tên là Võ Thị Sáu), đến tiệm Hương Bình, “chuyên trị” phở gà.

Nói đến phở Sài Gòn tại khu vực trung tâm, phải nói đến tiệm Phở 79, ngay tại số nhà 79 trên đường Võ Tánh. Khoảng năm 1952, tiệm Phở 79 mở cửa, khi đó nền nhà của tiệm còn thấp hơn mặt đường. Chỉ vài năm sau tiệm phát đạt, chủ nhân mua hai nhà bên cạnh, mở lớn thành tiệm Phở 79 khang trang và có thể nói là một trong những tiệm phở sạch nhất Sài Gòn thời đó.

Trường Sinh ngữ Quân đội có chi nhánh ở đường Nguyễn Văn Tráng rất gần với Phở 79 tại khu vực Ngã Sáu Sài Gòn. Ðám giảng viên chúng tôi thường xuyên ăn sáng, ăn trưa và cả ăn tối mỗi khi “ứng chiến” tại trường.

Phở tại đây được đánh giá là… “ăn được.” Nếu ai “ăn không được” thì chịu khó đi thêm vài bước ra Ngã Sáu, nơi đây có đủ các món ăn chơi thuộc loại bình dân, từ phở, hủ tíu cho đến mì và có cả xe… bánh mì mua về trường nằm gặm trong những đêm ứng chiến!

Gần ngã tư Phú Nhuận có phở Quyền trên đường Võ Tánh (thuộc quận Phú Nhuận), cách cổng phụ của Tổng Tham Mưu chừng 100 mét. Tôi thường ghé ăn nơi đây mỗi khi về trụ sở chính của trường sinh ngữ trong Tổng Tham Mưu. Nước phở ở đây rất đậm đà, vị ngọt là của xương ống chứ không phải vì bột ngọt. Phở Quyền còn có cả món “tái sách tương gừng” được xếp vào loại… trứ danh.

Con cháu của một số gánh phở nổi tiếng Hà Nội đã vào Nam lập nghiệp năm 1954, trong cơ hội lịch sử này có phở Tàu Bay. Vốn là quán phở do ông nội mở vào 1950 ở Hà Nội, khi di cư vào Nam, ông chủ quán được người bạn thân tặng cho chiếc mũ bay. Ông thường xuyên đội nó, khách thấy lạ, gọi ông “Tàu Bay” rồi chết tên thành tên quán.

Phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ ngày nay vẫn bán và khách quen ngày nào vẫn chịu khó mò đến đây để tìm lại hương vị đặc thù. Phải nói Phở Tàu Bay rất… hiếu khách. Gọi thêm nước béo, nhà phở đem ra cả tô chứ không bằng chén nhỏ như những tiệm khác. Tô đặc biệt của Tàu Bay lại là tô “Xe Lửa,” bánh và thịt trên mức hậu hĩnh.

…Kể từ khi người Bắc di cư vào Nam, tiệm phở đánh bạt các tiệm hủ tíu, vốn là món “đặc sản” của miền Nam. Các tiệm hủ tíu nổi tiếng Sài Gòn phải kể đến hủ tíu Thanh Xuân đường Tôn Thất Thiệp (gần chùa Chà Và), hủ tíu Phạm Thị Trước ở đường Lê Lợi (khúc gần Pasteur), hủ tíu Gà Cá ở đường Hàm Nghi gần khu Ngân hàng Quốc gia và hủ tíu Thanh Thế trên đường Nguyễn Trung Trực…

Có người đến hủ tíu Phạm Thị Trước gọi thêm bánh pâté chaud ăn kèm, cũng giống như hủ tíu Gà Cá. Tuy nhiên, mỗi tiệm hủ tíu đều có hương vị riêng khiến một khi khách đã “kết” thì khó đi ăn nơi khác. Hủ tíu Sài Gòn sáng nào cũng đông người đến thưởng thức, không cần đợi đến những ngày cuối tuần.

Thường thì hủ tíu có bánh mềm, chỉ riêng hủ tíu Thanh Xuân hay Mỹ Tho thì thêm bánh dai, nấu khô hay nước, tùy theo ý thích của khách. Chỉ nhìn dĩa rau dọn lên trước thì cũng thấy bắt mắt: giá, hẹ, rau cần tàu, tần ô và vài cọng xà lách. Thêm vào đó, mùi nước lèo xông lên như đập vào khứu giác thực khách làm cho bụng cứ gào thét…

Người bồi bàn bưng mâm ra để tô hủ tíu trên bàn, mùi nước lèo xông lên mũi, nếm thử “nghe” được mùi thơm của nước lèo, thêm chút gia vị vào và cầm đũa ngay. Hủ tíu Thanh Xuân thì phải có rau tần ô, rau cần tàu, giá sống. Hủ tíu Phạm Thị Trước hay Thanh Thế cũng thế, nhưng không có rau tần ô. Riêng hủ tíu Gà Cá thì chỉ có giá sống.

Tuy nhiên, các thứ hủ tíu nếu thiếu vài miếng tóp mỡ và cải bắc thảo thì hình như thiếu mất cái gì đó. Nước lèo vừa ngọt của xương, vừa béo của chất tủy từ ống xương, thoang thoảng chút mùi của con mực, tôm khô, hào khô và củ cải. Những thứ ấy quyện vào nhau thành một thứ nước lèo hấp dẫn. Hủ tíu bình dân thì có những xe hủ tíu bán dạo. Từ mờ sáng cho đến khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng rao… lòng thấy nao nao!

***

Ðối với tôi, một món cũng thuộc loại “khoái khẩu” ở Sài Gòn là… bánh mì thịt nguội, trong đó có cả jambon, xúc xích, patê ăn kèm với sốt mayonaise và đồ chua! Bánh mì thịt nguội ăn sẽ ngon hơn nếu bạn có thì giờ ngồi nhẩn nha tại tiệm: các loại thịt bày trên đĩa trắng tinh kèm thêm một cục sốt bên cạnh dao, nĩa sạch bóng. Bẻ một miếng bánh mì còn nóng, trét sốt lên trên rồi một lớp patê, sau đó cắt một miếng jambon… đưa vào miệng. Tuyệt cú mèo!

BanhMiHoaMaMột trong những tiệm bán bánh mì thịt nguội có tiếng ở Sài Gòn từ năm1954 và còn tồn tại đến ngày nay là Hòa Mã. Tiệm Hòa Mã nằm trên đường Cao Thắng, gần khu vực Bàn Cờ, nơi có những địa điểm nổi tiếng như Kỳ Viên Tự, Tam Tông Miếu, Trường Aurore, Cư Xá Ðô Thành, Nhà Bảo Sanh Ðức Chính…

Ngày nay, Hòa Mã không khác xưa là mấy. Hòa Mã cũ kỹ, bảng hiệu phai màu theo năm tháng vì đã tồn tại hơn 50 năm kể từ ngày mở cửa. Nhiều người nói chủ nhân Hòa Mã là người đầu tiên bán những ổ bánh mì thịt kiểu Sài Gòn… Tiệm Hòa Mã gọi ổ bánh mì thịt của mình là cát-cút, dùng theo tiếng Pháp cassecroute, bữa ăn lót dạ, bữa ăn nhẹ. Những năm 60, giá bán một ổ bánh mì Hòa Mã là 3 đến 5 đồng, ổ lớn có bơ tươi thì 7 đến 10 đồng.

…Xe bánh mì Tám Lự gần chợ Bàn Cờ chỉ bán từ sẩm tối đến đêm khuya. Một ổ bánh mì Tám Lự dài cỡ 4 tấc, hai gang tay, tối ăn vào no đến sáng. Bánh mì ngon, ngoài pâté chả lụa, pâté foie, bơ Bretel còn thêm dưa leo, ngò, hành lá, nước tương, muối tiêu, ớt xắt. Ngày xưa khách chỉ cần nói: “Cho một tàu lặn hay một tiềm thủy đĩnh đi, anh Tám!” là khách sẽ có ngay một ổ bánh mì nóng giòn, thơm phức.

Nếu muốn sang hơn thì lên bánh mì Pâté Tòa Ðô chính trên đường Nguyễn Huệ hoặc tiệm bánh Hương Lan trên đường Tự Do hay ngồi Thanh Bạch đường Lê Lợi (gần bệnh viện Sài Gòn). Chỉ cần gọi đĩa bánh mì thịt nguội kèm theo một ly cà phê sữa đá là đủ no cho đến trưa. Thanh Bạch vẫn là nơi lý tưởng để vừa ăn sáng vừa ngắm cảnh người Sài Gòn sửa soạn cho một ngày mới.

…Sài Gòn xưa có hai tiệm Thanh Bạch, một ở đường Lê Lợi, bên rạp xi-nê Vĩnh Lợi. Tiệm Thanh Bạch thứ hai ở đường Phạm Ngũ Lão, trong dẫy phố trệt dưới tòa soạn nhật báo Sài Gòn Mới năm xưa. Ngoài bánh mì ốp-la, ôm-lết, thịt nguội, Thanh Bạch có bánh mì bò kho, hủ tíu và đặc biệt là món suông. Bún suông dùng xương heo để nấu nước lèo, và đặc biệt ở đây là dùng tôm tươi lột vỏ, bỏ đầu, bằm nhuyễn sau đó vo lại thành sợi dài (như sợi bún). Nước lèo ở đây rất trong, ăn kèm với rau sống…

Nhà hàng Tài Nam trên đường Ohier (Tôn Thất Thiệp) nổi tiếng với món đuông chà là chiên bơ rất ngon nhưng cũng rất mắc tiền. Theo nhà văn Sơn Nam, vua chúa cũng còn thèm “con đuông chà là,” tên chữ là “hồ đa tử.” Hồ đa là cây dừa rừng, tức cây chà là hoang thường mọc miền nước mặn Nam bộ, giống như cây cau kiểng. Cây dừa rừng có “củ hũ,” tức đọt non, đến mùa sau Tết thường xuất hiện con đuông, giống như con nhộng. Ðuông ăn đọt dừa non nên to, mập và thường được bắt trước khi nở thành bướm.

Sơn Nam viết: “Ðem đuông nướng trên vỉ sắt, cho héo, rồi ăn, chấm với nước mắm nhĩ nguyên chất. Con đuông béo ngậy vì tăng trưởng, ăn ròng củ hũ cây chà là.”

… Vùng Thanh Ða (Bình Thạnh) nổi tiếng khắp Sài Gòn với món cháo vịt, gỏi vịt. Vào buổi tối người Sài Gòn hay ra bán đảo Thanh Ða trước là để đón những luồng gió mát từ sông Sài Gòn thổi vào và khi về, ghé mấy quán cháo vịt, gọi thêm đĩa gỏi vịt ăn kèm. Nếu là “bợm nhậu” thì gọi thêm chai bia Con cọp BGI để… đưa cay. Nếu ngại ra Thanh Ða thì trên đường Hồng Thập Tự cũng có khu bán cháo vịt thuộc loại… “ăn được.” Thịt vịt tại đây khá mềm, nhai kỹ thấy ngọt và đặc biệt không thấy mùi hôi vốn có của thịt vịt. Có thể họ tuyển loại vịt chạy đồng nên không hôi (?).

Ðinh Công Tráng là một con đường nhỏ gần nhà thờ Tân Ðịnh nhưng cũng đi vào lịch sử ăn uống của Sài Gòn với món bánh xèo. Bí quyết của bánh xèo nằm ở kỹ thuật pha bột, sao cho khi chiên lên, bánh giòn tan khiến người ăn có thể cảm được cái thú nghe miếng bánh đang được nhai dưới hai hàm răng. Lớp bột gạo pha chút nghệ khi đổ vào chảo dầu tạo nên một tiếng “xèo” khiến ta hiểu được tại sao lại gọi là… bánh xèo!

Ngày nay, đường Ðinh Công Tráng trở thành “đường bánh xèo” nhưng người sành ăn thì chọn quán bên tay trái, nếu đi từ đường Hai Bà Trưng vào. Quán không tên nhưng người ăn vẫn nhớ vì nó đã đi vào “bộ nhớ” của người Sài Gòn từ bao năm nay. Những quán đối diện bên kia đường trông có vẻ lịch sự hơn, sạch sẽ hơn nhưng vẫn chịu cảnh vắng khách vì là kẻ… hậu sinh.

Khu Ða Kao có tiệm bánh cuốn Tây Hồ (127 Ðinh Tiên Hoàng), gần chợ Ða Kao, quận 1, nổi tiếng. Tại đây, mỗi bàn có để sẵn một thẩu nước mắm và một chồng chén nhỏ để khách tùy nghi sử dụng, thêm nhiều hay ít ớt bằm theo sở thích riêng của từng người. Tuy nhiên, có khách lại thích chan luôn nước mắm vào đĩa để bánh cuốn thấm nước mắm, đậm đà hơn.

Chả quế và giò lụa được cắt thành miếng lớn, để riêng trong một đĩa nhỏ. Khách có thể chỉ ăn bánh cuốn nhân thịt mà không đụng tới đĩa giò chả, như vậy người phục vụ nhìn vào đĩa chả còn nguyên mà không tính tiền. Nếu cần, có thể gọi thêm đĩa bánh tôm hoặc bánh cuốn không nhân.

Sài Gòn cũng có bánh cuốn Thanh Trì kiểu Bắc, mỏng như tờ giấy, ăn với “ruốc” (chà bông) và nước mắm phải kèm với vài giọt cà cuống mới là “sành điệu”! Còn bánh ướt là kiểu bánh cuốn bình dân ở Sài Gòn, cũng ăn kèm với bánh tôm chiên, giò, chả và rau, giá. Những xe bánh ướt được đẩy đi khắp Sài Gòn, có cả nồi hấp nên lúc nào bánh cũng nóng và người bán bao giờ cũng chan nước mắm vào đĩa thay vì chấm kiểu “thanh cảnh” như bánh cuốn Thanh Trì.

Lại nói thêm, đường Albert (vào thời Ðệ Nhất Cộng Hòa đổi tên thành Ðinh Tiên Hoàng) khá dài nên dọc theo con đường này có nhiều địa chỉ ẩm thực nổi tiếng. Tiệm ăn Chez Albert (lấy tên theo con đường), Cà phê Hân, Mì Cây Nhãn (tên đặt theo cây nhãn hồi đó còn trồng trước sân), Thạch chè Hiển Khánh (nơi sưu tầm rất nhiều thơ ca tụng thạch chè)… Tôi chắc chắn còn bỏ quên khá nhiều điểm ăn uống khác nữa trên con đường này.

Ở góc đường Tôn Thất Ðạm và Hàm Nghi, trước kia vào thập niên 30 có một quán cháo cá nổi tiếng một thời. Buổi chiều cho đến gần khuya, khách đến ăn rất đông, nhất là khi cải lương, hát bội, hát bóng vãn hát. Theo Vương Hồng Sển trong Sài Gòn Tạp Pín Lù, quán cháo cá này của người Tàu, gốc Quảng Ðông, “cha truyền con nối suốt bốn năm thế hệ, trót trăm năm chớ không phải chơi…” Cháo tại đây nấu bằng gạo tấm hầm với cá, xương heo và thịt tôm hùm để thành một thứ hồ sền sệt khiến “người đau mới mạnh dùng không sợ trúng thực, người mệt mỏi ăn vào cảm thấy nhẹ bụng, mau tiêu. Tô cháo cá Chợ Cũ quả là một ‘tô thuốc tráng thần’…”

Cháo nóng hổi bốc hơi nghi ngút. Vừa thổi vừa húp xì xụp mới thấy được cái thú vị của món cháo cá Chợ Cũ. Thịt cá giòn, thơm, lẫn lộn hương vị của hành, tiêu, gừng và có thể ăn với “dầu chá quẩy.” Thú thật, tôi là người thích thịt hơn cá nhưng thỉnh thoảng được thưởng thức món cháo cá vẫn thấy ngon đến toát mồ hôi!

Có một tiệm cháo giò heo khá nổi tiếng trong ngõ đường Phan Ðình Phùng (ngày nay là Nguyễn Ðình Chiểu). Tiệm không có tên, chuyên bán cháo từ 6 giờ tối tới một, hai giờ sáng. Khách của tiệm này đa số là khách chơi đêm, khách đi nhảy, khuya về đói bụng đến ăn tô cháo nóng.

Tôi lại nhớ đến món phá lấu ở góc đường Lê Lợi-Pasteur, nơi đây còn có xe bò bía và nước mía Viễn Ðông. Bán phá lấu là một chú Tàu và “cửa hàng” của chú chỉ vỏn vẹn một cái khay tròn, trên đó bày đầy đủ nội tạng heo: lòng, dồi, gan, bao tử, ruột non, ruột già, tim, phèo, phổi… Trông thật hấp dẫn, ngửi thơm phức và ăn vào thì giòn tan. Phá lấu nói chung có vị hơi ngòn ngọt, gan thì bùi bùi, lòng thì hơi dai dai nhưng khi nhai kỹ mới thấy ngon… thấu trời xanh!

Nghệ thuật làm phá lấu chắc chỉ mấy chú ba mới đáng hàng sư phụ. Phá lấu làm tại nhà cũng ướp húng lìu, ngũ vị hương nhưng không thể nào so sánh với phá lấu góc nước mía Viễn Ðông. Từng miếng phá lấu được ghim sẵn bằng tăm, chấm với tương đỏ trộn tương đen. Khách ăn xong chú Ba chỉ nhìn tăm mà tính tiền nhưng tuyệt không bao giờ sai. Quá bộ vài bước là xe nước mía tươi mát đang chờ… để kết thúc một chuyến ăn hàng bên lề đường.

Gần nước mía Viễn Ðông có xe thịt bò khô của ông Năm (theo tên gọi của khách quen) và sau 1975 ông dời về đường Tự Ðức (nay đã đổi tên là đường Nguyễn Văn Thủ) thuộc khu Ða Kao.

Dân chơi Sài Gòn thường xếp hạng: “Ăn quận 5, nằm quận 3, xa hoa quận 1” nên viết về món ngon Sài Gòn mà bỏ qua khu vực Chợ Lớn là cả một thiếu sót lớn. Dọc đường Trần Hưng Ðạo nối với đường Marins (Ðồng Khánh) thuộc địa phận quận 5 có những nhà hàng, tửu lầu nổi tiếng một thời như Arc-en-Ciel, Ðồng Khánh, Á Ðông, Bát Ðạt.

Theo tôi, Chợ Lớn nổi tiếng hơn cả là đường Lacaze mà người Việt hay gọi trại là La Cai, tức đường Nguyễn Tri Phương sau này. Khu La Cai có mì vịt tiềm hầm thuốc bắc, một trong những món “tủ” của người Hoa. Bên cạnh đó còn có những tiệm hủ tíu mang tên Mỹ Tiên, Cả Cần và tiệm bánh bao Bà Năm Sa Ðéc.

Ðêm đến có các quán sò huyết dọc theo lề đường. Khách bình dân ngồi ăn nhậu thoải mái giữa dòng xe cộ ồn ào bên ánh đèn nê-ông từ các nhà hàng, vũ trường sang trọng của Chợ Lớn “by night”!

…Thôi thì đời người có lúc hưng lúc tàn, cũng như vận nước có khi thịnh khi suy. Viết lại món ngon Sài Gòn chỉ để thỏa mãn kiểu “ăn hàm thụ”như đã nói ở trên. Giờ có cho ăn thực thụ chắc cũng chẳng thấy ngon như thời còn trai trẻ.

Tất cả chỉ còn là… hoài niệm!
Nguyễn Ngọc Chính

Kinh Tế Thị Trường Tự Do : Tất Yếu Để Phát Triển ?



Đây là một câu hỏi nhức nhối, chẳng những đối với các nhà kinh tế học hay cho cả nền kinh tế nói chung, mà cả đối với tất cả những ai, đã tham gia đấu tranh cho một thế giới Tự Do và cho sự Sống chung Hòa bình giữa các cộng đồng dân tộc. Dỉ nhiên, cuộc khủng hoảng từ 2008 đã đặt lại vai trò của Tự Do thương mải, của nền Kinh tế thị trường tự do. Có người nói : « Đó là bề trái của nền Kinh tế Tự do, đó là cái lý do của những khó khăn đang gặp phải ngày nay », nhưng cũng có kẻ cho rằng : « Nền Kinh tế Tự do cuối cùng là một giải pháp cho tất cả những khủng hoảng kinh tế ».

Và quan trọng hơn, « Nền Kinh tế Tự do là chất keo, là chất men để giữ lấy một thế giới mở, đầy thông cảm, đầy hiểu biết, của toàn bộ cộng đồng nhơn loại thế giới, vì Toàn cầu Hóa sẽ hòa hợp, cân bằng lại các xã hội khác nhau, sẽ chia sẻ hài hòa các nền văn minh khác nhau, Kinh tế thị trường tư do sẽ đưa lại một thế giới đại đồng. »

Sau nhiều thập niên phát triển, nhưng chỉ từ năm 2008 đến nay, chỉ với vài năm thôi của nền khủng hoảng kinh tế - tài chánh ở các quốc gia tiến tiến, mà nền kinh tế tự do với hiện tượng toàn cầu hóa đã gần như bế tắc. Các quốc gia đang phát triển mặc dù vẫn còn tiềm lực phát triển với những chỉ số trên con số 7 % vẫn phải lo chuẩn bị đi tìm những thị trường mới, không còn trông cậy gì nơi các thị trường tiêu thụ quen thuộc (đã giúp mình phát triển) của các quốc gia tiên tiến Âu Mỹ nữa. Nói tóm lại, từ nay, các quốc gia đang phát triển hay kém phát triển trước đây đã trông nhờ vào sức lao động rẻ tiền của công nhơn mình để kiếm sống, để phát triển, dùng vũ khí sản xuất hàng rẻ để xuất cảng, thì nay phải lo làm và sống với thị trường nội địa của mình. Thị trường Huê kỳ, là một thí dụ, trước vẫn quen chuyên sử dụng hàng nhập cảng rẻ của các quốc gia chậm tiến, với chi phí lao động rẻ, nay cũng đã bắt đầu đi vào quy trình sản xuất và bán hàng “made in USA”. Một làn sóng “tự hào dân tộc hay bảo vệ nền kinh tế dân tộc” từ hai năm nay, đã và đang bắt đầu nở rộ trên khắp các quốc gia cả Âu Châu lẫn Mỹ.

Chưa hẳn tẩy chay toàn bộ những hàng hóa thông dụng « made in China », « made in Viet Nam » hay « made in các quốc gia chậm tiến với giá lao động rẻ”, nhưng cũng đã có những phong trào các người tiêu dùng Âu Mỹ đã bắt đầu đi tìm các hàng hóa nội hóa của quốc gia mình, ở Mỹ, made in USA, ở Pháp, made in France. Cộng thêm vào đấy, với tình hình của nạn thất nghiệp đang tăng, với tình hình nạn các doanh nghiệp, công xưởng đang lần lượt phá sản, đóng cửa … chẳng những mang đến một không khí, một tâm trạng lo âu, một nền tảng kinh tế quốc gia bi đát, dỉ nhiên với một  mãi lực một ngày một kém, … mà còn đưa đến một trạng thái tự vệ  (rất quốc gia dân tộc) rằng « thà mua ít nhưng mua hàng quốc gia, để cũng cố lại công ăn việc làm ».

Cũng chưa hẳn phải bế môn tỏa cảng, nhưng cũng đã có một não trạng “bài ngoại” đang bắt đầu xuất hiện ở nhiều nơi trên xứ Pháp. Từ “bài hàng ngoại” đến “bài ngoại” sẽ không xa, và chẳng chốc sẽ « kỳ thị chủng tộc ».  Đừng « nghe Tây nói Tây không kỳ thị chủng tộc, hãy nhìn kỹ những gì Tây làm với người « da mầu » !

Người ngoại quốc ở Pháp ? Từ nay chỉ được trân trọng là người “ngoại quốc du lịch”, mua sắm, ăn xài, còn người ngoại quốc sanh sống làm ăn ở bản địa ? Nghĩa là, người gốc ngoại quốc với một ngoại hình không giống hẳn nhóm dân tộc đa số ở âu châu, gốc da trắng, và tốt hơn, gốc da trắng gô -  loa (gaulois). Vậy ai là gô – loa thứ thiệt ? Ai là da trắng thứ thiệt đây ? Ngày xưa, không xa lắm, chỉ độ 50/60 năm trở lại thôi, khoảng những năm 1950 đến 1960, dân bản địa nước Pháp chê nhóm người gốc Ý -  Italie ; dùng từ péjoratif – nghĩa xấu - Rital, để miệt thị dân Ý, cho rằng dân Ý, nói dóc, hát hay, chải đầu tém, dê con em gái mình, ăn không ngồi rồi, dành bóng mặt trời và sức sống và công việc cùng bánh mì của dân Gô – loa. Sau thời Rital, đến thời các “Nhôm”, các “ Chì” (từ việt ngữ của du học sanh và lính thợ gốc Việt Nam để miệt thị dân Espagnol, Tây Ba Nha, Nhôl thành Nhôm và từ Nhôm ra Chì) rồi đến thời các Portoss - Portuguais, dân Bồ …  Nhưng dân Pháp Gô – Loa, và dân Việt, ngàn đời, vẫn ghét “Rệp” (từ Việt do Rạp biến thể) – Arabes, (ở Marseille gọi dân Arabes là Melons ở Paris gọi là Beurs) và “ Đen” – Noirs, Blacks, dân da đen - bất kể họ là người đến từ đâu đến : lẫn lộn dân từ Martiniques, Guadeloupes, Réunion, Guyane là những vùng thuộc đất Pháp, các dân ấy đều là người Pháp, và các dân Đen Phi Châu thuộc các vùng cựu thuộc địa của Pháp. Ấy là chưa nói đến nhóm Đông dương – Indochinois : Việt Miên Lèo, Tây gaulois thường lẫn lộn gọi chung là Chinois – hay Chitoc – hay cũng có vài tên Tây « biết biết » một chút, dùng từ “thuộc địa nhập cảng” : Niacque, do từ Nhà quê biến thành! Riêng dân Việt ta thường tự hào nôm na tự gọi riêng mình là dân Mít- do từ Annamites mà ra. Tự ngạo ta ! Đó cũng là một cái bản lãnh riêng biệt ngon lành của phe ta.

Người viết xin phép được dùng những từ ngữ nói trên, có lẽ lạ lẫm với các độc giả ngoài đất Pháp. Những từ ngữ nầy do dân Việt Nam hải ngoại, gốc lính thợ Đệ Nhị Thế Chiến ở lại, du học sanh thời Việt Nam Quốc Gia hay Việt Nam Cộng Hòa, di cư tỵ nạn Cộng Sản 1975 như nhóm người viết, có mặt trên đất Pháp từ những năm 50/60.

Trong những năm kinh tế phát triển mạnh, sự cọ sát của các cộng đồng gốc ngoại quốc và giới lao động Pháp cũng bớt đi, nhờ không có dành ăn, vì ai cũng có công ăn việc làm dễ dàng... Nhờ cùng là dân lao động, nhờ cùng đổ mồ hôi, nhờ ở chung một môi trường, chung trong một thương trường, cùng một sở làm, vai sánh vai, cùng cầy cùng cuốc, anh em bạn khổ với nhau, sự kỳ thị cũng tương đối vơi đi nhiều. Nhưng khi cơn khủng hoảng đến, với sự cạnh tranh, con người đâm ra ích kỷ, so đo. Ngày nay Âu châu, nước Pháp, lại bắt đầu có nạn kỳ thị ra mặt.

Và anh người Pháp gốc Việt ta, vì thấy mầu da mình tương đối trắng, nên cũng bày đặt ghét Rệp, ghét Đen ! Quên rằng thằng “tây Gô - loa” kỳ thị, ngày nào hắn đánh hết Đen đánh hết Rệp là sẽ đến phiên đánh “Chệt”, mà “Chệt” với “Mít” giống nhau y chang ! Ngày đó e rằng chạy không kịp.

Nói dông nói dài nay phải nói tới chuyện chánh : Kinh tế Tự Do là gì ? và ngày nay thế nào là nền Kinh tế Tự Do ? Thế nào là Tự Do thương mải ? Có thật Tự Do không ? nghĩa là không có luật lệ gì cả không ?

Thế nào là Kinh tế Tự Do ? :

Kinh tế Tự Do, hay Tự Do thương mãi có hai mặt : một rất tích cực, đó là chấp nhận và tổ chức một cách tích cực sự trao đổi, thông thương thương mại làm ăn, hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ, tiền bạc , vốn liếng, doanh công nghiệp giữa các quốc gia.

Nhưng mặt thứ hai tiêu cực, là nạn cạnh tranh do thị trường tự do, nhập cảng bừa bãi không bảo vệ thị trường nội địa, làm mai một tay nghề quốc gia, tạo thất nghiệp.

Nền Mậu dịch Tự Do, Kinh tế Tự Do là một trong những chương trình xây dựng bởi nhóm thắng trận Thế Chiến 2 : Mỹ Anh Pháp.  Năm 1945 Hiến Chương La Havane đã tạo ra G.A.T.T. (General Agreement on Tariffs and Trade - Định Ước về Giá cả và Thương mại). Từ GATT nảy ra Hiệp Ước Roma, Công đồng Âu Châu, Thị trường Chung Âu Châu và cuối cùng Liên Hiệp Âu Châu ngày nay. Nếu thoạt đầu chỉ liên hệ qua lại giữa các 6 quốc gia Tây Âu : Bỉ, Hòa Lan, Lục Xâm Bảo – BêNêLux, Pháp, Đức và Ý liên hiệp bổ sung tài sản kỹ nghệ Than, Thép hùn hạp làm ăn, sau đó tiến dần đến 9 quốc gia, rồi 15. Rồi Thị trường Chung, rồi khối đồng tiền Euro, rồi nhập với các quốc gia khối Đông Âu, hình thành bởi sự sụp đổ của nhóm Cộng sản Sô Viết, và tổ chức vẫn tiếp tục lớn mạnh, nay đã 28 thành viên. …Và còn nữa, mặc dù với cuộc khủng hoảng ngày nay, vẫn còn một vài quốc gia ứng viên “get line - sắp hàng” chờ ngày nhập vào Liên Âu : Turquie, Islande, Albanie, Macédoine, Serbie, Monte Negro, …trừ ba quốc gia đầu, số đông còn lại   là những tiểu quốc thuộc cựu Liên Bang Nam Tư đã tan vỡ cùng thời với bức tường Bá Linh. Nói tóm lại, với hiện tượng Tự Do thương mại, thoạt đầu chỉ Liên Âu hoá, sau đó với những ảnh hưởng các quốc gia cựu thuộc địa và các quốc đang lên, dần dần đã đến Toàn cầu Hoá.

Tuy vậy, không phải tất cả các hàng hóa đều được tự do thông thương. Vài món hàng vẫn phải bị thuế má và hạn chế. Tổ Chức Thương Mại Thế giới – OMC – WTO (World Trade Organization, thay thế GATT theo lời yêu cầu của Pháp năm 1987), vẫn không đủ thẩm quyền để giải quyết những  “nông yếu phẩm”  và “ những thương thuyết” trong Hội Nghị Bàn tròn ở Doha – le Cycle de Doha- Doha Development Round hoàn toàn bế tắc từ 2001 đến nay.

Ngoài ra, còn một số sản xuất kỹ nghệ, công nghệ (hàng hóa, dịch vụ) không được gọi là hàng hóa vì thuộc về thế giới riêng biệt của ngành ngoại giao, của địa lý chánh trị như : kỹ nghệ chiến tranh, vũ khí, công cụ quân sự, hay nhiên liệu năng lực có tính cách chiến lược. Và gần đây, với tình hình kinh tế khó khăn, với cuộc kủng hoảng kinh tế đương hoành hành, một loạt hành sử « bảo vệ kinh tế quốc gia » đang bắt đầu xuất đầu lộ diện. Từ ba năm nay, Ủy Ban Bruxelles của Hội đồng Liên Âu đã nhận diện trên 600 quy luật nhập cảng do các thành viên Liên Âu tạo thành để quy định việc nhập cảng : lay hoay, tựu chung, quanh quẩn các vấn đề an toàn, vấn đề vệ sanh, hay ô uế mội trường khi sử dụng tại quốc gia nhập cảng tiêu thụ, hay ngay tại nơi sản xuất hay ngay cả quy trình sản xuất của quốc gia xuất cảng.

Nhưng dù sao đi nữa tự do mậu dịch, nền kinh tế thị trường tự do ngày nay cũng là một thực tế không chối cải.  Nền tảng của các quốc gia đang lên, đang phát triển là do nền kinh tế thị trường tự do. Khối lượng trao đổi đến năm 2012 vẫn đều đặn phát triển, với chỉ số khổng lồ trung bình là 15 % một năm. Khối lượng tiền năm 2014 của nền thương mãi thế giới là 30 000 tỷ dollards US, tương đương với ¼ của Tổng Sản Lượng Toàn cầu. (Năm 1950 chỉ bằng 10% TSLHC). Các quốc gia “tiên tiến” ngày nay (nhóm G8) chỉ chiếm 50% của tổng số lượng hàng trao đổi, trái với năm 1950, G8 chiếm trên 80%.

Thế nhưng Tự Do Thương Mãi có thực sự là Tự Do không ?:

1/ Những sai trái:

Khủng hoảng kinh tế và tài chánh ngày nay vẫn chưa thấy lối thoát, và hầu như cũng được “toàn cầu hóa”, nên nền kinh tế tự do cũng phải nhận phần trách nhiệm. Những sơ sót của nền Kinh tế Tự Do được tô đậm nét, đúng có thể, sai chưa chắc, nhưng cái chắc chắn nhứt là sự cạnh tranh không tử tế, không bình đẳng, ăn gian nhiều hơn tử tế. Việc đầu tiên là

Dumping” – phá giá” (xuất cảng với giá “ăn gian” nhẹ hơn giá thành, thành phẩm hầu như bán với giá không lời, gần như lỗ, với những dumping trên phần thuế vụ (đồng lỏa của Nhà nước quốc gia xuất cảng) dumping xã hội, (lương công nhơn rẻ, thiếu hẳn những phần an toàn, y tế) ; dumping môi trường (phần bảo quản môi trường không có) ; dumping tiền tệ, (hối đoái thấp để hưởng phần phụ trội khi chuyển ngân).

Dumping thuế vụ: Trò chơi nầy thường được sử dụng. Hàng xuất cảng hoặc miễn thuế, hoặc đánh thuế thấp hơn với loại hàng giống vậy bán trong thị trường quốc nội. Người tiêu thụ trong thị trường quốc nội trả thuế dùm cho hàng xuất cảng. Nhưng cũng có thể nới rộng trò chơi bằng cách, không đánh thuế lương bổng, hay lương bổng nhẹ, hay miễn thuế thương vụ cho nhơn viên, hay cả một xí nghiệp chuyên nghề xuất cảng. Liên Âu đang có chương trình sẽ “hài hòa – hòa hợp” các thể chế thuế vụ khác nhau giữa các thành viên để tránh những vụ tỵ nạn thuế vụ hay ăn gian thuế như nói trên (Báo cáo Primarolo).

Dumping Xã hội: Thí dụ điển hình là Trung Hoa Cộng sản. THCS là một quốc gia, ngày nay là một cường quốc kinh tế số một thế giới, mà vẫn có một thể chế lương bổng và những điều kiện lao động của một quốc gia nghèo khó, lạc hậu, không tôn trọng luật lao động và không tôn trọng nhơn cách và nhơn phẩm của người công nhơn. Vì nhờ không tốn tiền nhiều trong khâu lao động, khâu công nhơn và điều kiện làm việc, hàng Trung Quốc mới có giá thành rẻ và cạnh tranh bán cho thế giới.

Khi các quốc gia tiên tiến đòi những điều kiện đàng hoàng cho hàng hóa trung cộng, thì Trung Cộng ăn gian, bèn đưa cho Việt Nam làm gia công, nhưng vẫn trademark China. Nhơn công Việt Nam bị bóc lột để hàng Tàu vô thưởng vô phạt bán trên thị trường Âu Mỹ.

Nhưng người Âu châu cũng đừng quên rằng họ đã cần đến 100 năm để có một thể chế lương bổng và một hệ thống bảo vệ công nhơn và an ninh xã hội hữu hiệu như ngày nay. Vì vậy cũng phải thông cảm và “cho” thời gian đề các quốc gia và công nhơn của các nước đang lên hay chậm tiến, có thời gian xây dựng một hệ thống lương bổng và một hệ thống bảo vệ quyền lao đông và an ninh xã hội có hiệu lực và tôn trọng nhơn quyền. Đừng đòi hỏi thái quá, nhưng cũng phải cảnh giác xem chừng những hiện tượng bóc lột sức lao động trẻ con, đàn bà, (trường hợp thai nghén, vân vân)

Dumping môi trường: Đây là một tình trạng khó kiểm soát. Những luật lệ không rõ ràng. Khói, CO2, sa thải khí độc, nước dơ… phá hoại môi trường thực vật chung quanh nhà máy. Nếu phạt là theo dõi quá kỹ, thì dời xưởng. Ở Californie nước Mỹ, nếu điều kiện môi trường khó quá, thì dời xưởng qua Mể Tây Cơ dễ dàng hơn. Ở Tàu khó, thì qua biên giới, qua Việt Nam sản xuất -điển hình là vụ Formosa và cá chết hàng loạt.

Còn Dumping tiền tệ. Trò chơi hối đoái. Tiền Nhân Dân Tệ Tàu giữ hối đoái rẻ đối với Dollars để xuất cảng. Nhưng khi muốn ép nhập cảng, hạn chế nhập cảng, thì nâng trị giá tiền nhập cảng cao lên bằng cách nâng cao chi phí tiền “mua ngoại tệ”.

2/ Tự Do thương mại: bài học Sáng tạo, Cạnh tranh: bài học Dân chủ và Phẩm chất.

Thế nào là cạnh tranh tốt? Thế nào là thi đua? Cạnh tranh là so sánh. So sánh là sáng tạo, là thi đua cùng một thời điểm, cùng một thị trường, cùng một môi trường, cùng làm một món hàng, cùng làm một sản phẩm. Và So Sánh, đối chiếu giữa phẩm chất/giá hàng là quan trọng. Muốn bán hàng tốt bán hàng giỏi là trả lời đúng nhu cầu của người mua. Đối chiếu cặp bài trùngPhẩm Chất / Giá hàng đúng là cái trả lời đúng của bạn hàng.

Những lý luận chống đối nền Kinh tế Thị trường tự do ngày nay phần đông đều có mầu sắc chủ nghĩa hay chánh trị.

Sự thật của cái khó khăn ngày nay của Kinh tế Thị trường tự do là những cách biệt giữa những thể chế, quy trình sản xuất khác nhau.

Thể chế chánh trị, hệ thống tổ chức khác nhau: hoặc của công nghiệp nhà nước và hoặc của tư doanh đủ là hai bản sắc của hai hệ thống sơ đồ tổ chức sản xuất khác nhau. Trong một quốc gia, hai hệ thống với hai sơ đồ tổ chức công tư khác nhau là đủ cạnh tranh, thi đua với nhau rồi. Các quốc gia khác nhau với những cơ chế tổ chức khác nhau cũng cạnh tranh nhau.

Quy trình tổ chức sản xuất khác nhau cũng có thể cạnh tranh nhau.

Vì vậy, tuy ở ngay trong một quốc gia, nhiệm vụ các vai trò khác nhau của một hệ thống kinh tế sản xuất, từ công nhơn, đến chủ nhơn nhà máy phải hợp cùng với Nhà nước để vạch một giây chuyền sản xuất hữu hiệu. Tạo một mội trường kinh tế hữu hiệu, cởi mở, bắt đầu từ một hệ thống nghiên cứu, đến ngân hàng, thuế vụ, huấn luyện công nhơn, một hệ thống hành chánh dễ dàng, cởi mở, nhanh chóng cũng đủ tạo cho một sự cạnh tranh cho sản xuất hàng hoá của mình để thi đua góp mặt đấu tranh cùng các hàng các quốc gia khác.

Khi có một chế độ hành chánh Nhà nước cởi mở, dễ dàng, khi một hệ thống thủ tục xuất cảng hữu hiệu, nhà sản xuất mới có thể chú tâm vảo việc nghiên cứu món hàng để ứng dụng vào thị trường.

Các sứ quán, các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, phải là những cửa hàng triển lãm hàng của quốc gia mình, các nhơn viên sứ quán phải là những nhà nghiên cứu thị trường nơi trú ngụ.

3/ Tự do kinh tế: phục vụ con người?

Tự Do thương mãi, Tự do trao đổi, thực sự thành công khi con người thật sự được nhập cuộc để đi tìm cái phẩm trong cuộc sống. 

Con người không tìm được cái phẩm chất trong cuộc sống, vì thế giới của môi trường xã hội không cho phép họ nhập cuộc, vì sức khỏe kém, vì trình độ kỹ thuật kém.

Không cứ khi trao đổi hàng hóa, trao đổi thương mãi là con người có thể thoát vòng ngu xuẩn và đi vào phát triển. Đúng vậy, trao đổi thương mãi, tự do thương mãi là mở cửa, là khuyến khích đi tìm cái mới, là tổ chức lại cái nhìn của con người, là kinh tế hóa con người, nhưng nó chưa thay đổi được con người. Muốn thay đổi con người, Tự do kinh tế phải được theo dõi, được huấn luyện, giáo dục để đem phát triển toàn bộ đến với con người nói riêng và xã hội chung quanh con người nói chung. 

Để nói rõ, khi bắt đầu có kinh tế thị trường nhập vào các không gian các quốc gia chậm tiến: việc đầu tiên là các gia đình khi bắt đầu khi có tí tiền của dư thừa, là đầu tư vào con cái. Nhưng con cái chưa đủ! Các quốc gia vùng Đông Nam Á hay Ấn độ tuy đã phát triển nhờ đầu tư gia đình vào con cái; nhưng họ cũng đầu tư qua các Hiệp hội để giúp đở những gia đình nghèo. Một hệ thống giáo dục và Y tế miễn phí tạo sức khỏe, tạo tay nghề, nghề nghiệp cho các giai cấp nghèo, không đủ điều kiện để đi vào hiểu biết. Tạo một không gian, một môi trường trong sạch, hiểu biết, các quốc gia ấy mới đạt được cái phẩm của ngày nay, cái giá trị của một quốc gia có một trị giá kỹ thuật cao để trao đổi thương mãi với cái đối tượng quốc gia khác.

Để kết luận: Và Việt Nam?

Inline images 1

Riêng về Việt Nam. Việt Nam ngày nay có đủ điều kiện để cất cánh phát triển. Nhưng sao vẫn ì ạch?

   “Quan Liêu, Cửa quyền, đó là thủ tục. Tham Nhũng, Hối Lộ, đó là tật xấu, phải chấp nhận”.  Bốn tật ấy, hỏi đến người ngoại quốc nào đã thử vào Việt Nam đều nói tới. “Khéo tay, Chịu khó… tuy tay nghề kém nhưng ráng học hỏi, sử dụng được”. Đó là lời khen chung của những người muốn vào “đầu tư” ở Việt Nam.

Sau khi xét hai cái nhìn ấy, thì chỉ cần bỏ bốn cái tật trên là Việt Nam sẽ có đủ điều kiện để phát triển ngay. Khổ một nỗi là bốn điều kiện trên là do anh Nhà Nước là Đảng Cộng sản cầm quyền.

Vậy thì kết luận rất dễ. Hãy thay người cầm quyền. Đấu tư vào tuổi trẻ, Giáo dục, Y tế, Tạo Sức khỏe, tạo Kỹ thuật. Chẳng chốc Việt Nam sẽ có đủ tiềm năng để phát triển. Tự do thương mải, Tự do mậu dịch trao đổi là phải trao đổi giữa hai đối tượng bạn hàng, hay hai quốc gia bằng sức bằng cân, “bên tám lạng bên nửa cân” mới trao đổi buốn bán lưởng lợi – synallagmatique – WinWin được. Nếu không suốt đời, dân Việt Nam bị phá giá, vì không đủ phẩm chất. Dùng dumping lao động, dumping thuế vụ, dumping xã hội chỉ làm nô lệ, làm “mọi” cho cả thế giới. Mãi mãi…

Hồi Nhơn Sơn Hè 2016

TS.Phan Văn Song


Tuổi già về nước (VN) sống sướng nhất?

Người Lớn Tuổi Có Nên Về Nước (VN) Sống?

Có nhiều độc giả ở vào lứa tuổi trên dưới 70 gửi thư cho tôi hỏi là có nên về Việt Nam sống nốt những ngày còn lại trên cõi thế này không? Vì dù sao quê hương vẫn là nơi ta sinh ra tại đó. Biết bao kỷ niệm thân thương, yêu dấu dù đi khắp bốn phương trời hằng mấy chục năm vẫn không thể nào quên. Nhất là khi tuổi đời chân đã vấp hoàng hôn, thân thể hao mòn không còn đủ "nội lực" để đi tiếp, để thực hiện những giấc mộng vàng nơi xứ người. Xét về mặt tình cảm của con người thì quả đúng như vậy. Tôi còn nhớ một bài trong sách giáo khoa học lúc còn nhỏ: không có nơi đâu đẹp bằng quê hương ta. Hơn nữa có một điều mà những người lớn tuổi sống lâu năm trên đất Mỹ (và cả các nước Anh, Pháp, Úc, Canada vv…) đều phải nhìn nhận là chúng ta đã và đang sống những ngày tháng buồn bã cô đơn. Chúng ta không biết làm gì để "tiêu" hết thì giờ của một ngày, trong khi đó thời gian lại qua mau, quá mau. Có người lấy sách báo, phim bộ làm thú tiêu sầu giết thì giờ. Có người vui chơi với con cháu sau giờ chúng đi học về - dù giờ giấc ngắn ngủi - vì chúng còn phải lo bài vở. Có người đi các sòng bạc để "đốt" vài khoản "tiền lẻ". Có người ra chỗ công cộng quây lại với nhau chơi cờ tướng hoặc bàn bạc chuyện chính trị chính em, nhận xét phê phán thế sự thăng trầm, rồi kiếm vài tờ báo bỏ túi để tối về nhà "nghiền". Nói chung mọi người vẫn không tránh khỏi cái cảnh ngày tháng buồn tênh đang vây bủa quanh đời sống của mình. Và nhiều cuộc tranh luận (trong gia đình, chỗ bạn bè và cả nơi công cộng) đã diễn ra quanh đề tài: người lớn tuổi có nên về nước (VN) sống không? Theo tôi, người lớn tuổi không nên về nước (VN) sống bởi những lý do sau đây. Thứ nhất: Có lẽ đây là nỗi buồn nhất (và cũng là sự khó chịu nhất?) của người "xin nhận lại nơi này làm quê hương" về cuối đời: mọi sinh hoạt từ suy nghĩ tới hành động, dù lớn hay nhỏ, đều có sự khác biệt như không có cùng một nền văn hóa, một nền giáo dục giữa người trong và ngoài nước! Người trở về có cảm tưởng mình là người khách lạ trên quê hương mình. Mọi người xung quanh, ngay cả bà con thân thuộc, đều nhìn mình như một con người khác: một Việt kiều chứ không phải một người Việt Nam cùng máu đỏ da vàng, tiên tổ. Y hệt như cái thủa 30 tháng Tư năm nào với tấn trò kỳ thị: "Bắc kỳ mới, Bắc kỳ cũ", "phe ta phe nó"… Ngay cả ngôn từ thường dùng hàng ngày cũng vậy. Cùng câu cùng chữ đó mà "hai bên" đều hiểu nghĩa khác hẳn. Ngoài ra còn có quá nhiều chữ mới được "sáng tạo" mà người ở xa về không tài nào hiểu nổi, nghe nói mà cứ ngẩn tò te. Riêng về phương diện nói tục chửi thề thì phải nhìn nhận là đồng bào ta tiến bộ vượt bực!

Thứ hai: Vấn đề ô nhiễm môi sinh. Có thể nói ở các thành phố lớn như Hà Nội, Saigon người và xe cộ lúc nào cũng kẹt cứng mặt đường. Tiếng động cơ của đủ loại xe lớn nhỏ suốt ngày đêm ồn ào gầm rú đinh tai nhức óc. Các chất khói từ động cơ nhả ra mù mịt cả đường phố cộng với bụi bặm làm cho không khí vốn không tốt càng thêm vẩn đục ô nhiễm. Những bệnh về đường hô hấp phát sinh từ đây. Đó là chưa kể đường xá vô cùng tệ hại vừa sửa xong đã hư. (Vì không mau chóng hư để có cớ sửa lại thì làm sao có thể chấm mút kiếm chác!). Ổ gà, sống trâu đầy rẫy mặt đường tạo ra biết bao tai nạn thảm khốc. Theo thống kê của nhà nước mỗi năm tai nạn giao thông giết chết cả ngàn người! Bạn đã sống ở Mỹ quen với môi trường vệ sinh sạch sẽ, không khí trong lành, đường xá thênh thang phẳng lỳ, không một chút bụi bay, không một cộng rác dưới bánh xe lăn thì làm sao bạn có thể "hội nhập"với cảnh cũ người xưa?
Thứ ba: Có lẽ do nước đổi chủ nên khí hậu cũng đổi theo chăng? So với mấy chục năm trước thì khí hậu Việt Nam (nhất là ở miền Nam) hiện nay thay đổi rất nhiều. Theo những người về thăm quê cũ cho biết khí hậu rất khắc nghiệt: nóng nực và ẩm ướt như chưa từng có, khiến con người cứ rã rời, bứt rứt, nhức nhối. Còn ở miền Bắc thì cái lạnh và buốt giá mỗi năm một tăng dữ dội, đến nỗi mạnh như trâu bò cũng phải lăn đùng ra chết. "Bên này" cái lạnh cũng chẳng thua kém gì "bên đó" nhưng chúng ta có thừa áo ấm chăn dầy và nhất là nhà nào cũng có máy "hít". Còn bên đó điện còn chưa có đủ để thắp sáng trong nhà lấy đâu ra để chạy máy "hít"! Cái sự nóng lạnh bất thường và quá độ này dễ đưa những người lớn tuổi (kém sức chịu đựng) mau về bên kia thế giới lắm.
Thứ tư: Thức ăn đồ uống phải nói là rất kém vệ sinh nếu không muốn nói là mất vệ sinh và độc hại. Chúng ta từng nhiều lần thấy báo chí trong nước loan tin (chứ không phải báo chí ngoài này bịa đặt) về thức ăn nấu nướng không hợp vệ sinh, dùng cả rau củ thịt cá hư thối. Lấy một vài điển hình. Bánh phở, món ăn thường xuyên hàng ngày của mọi người, thì cho chất "phoọc môn" dùng ướp xác người vào để bánh được dai và lâu hư. Còn rượu đế - thứ rượu người Việt Nam quen dùng từ bao đời nay - pha thuốc giết rầy vào để cho rượu trong và tăng độ nồng! Về nước uống và nước nấu ăn thì dầy đặc vi khuẩn độc hại và đục ngầu chứa đầy chất han rỉ của ống dẫn nước đã quá cũ kỹ. Rau quả thì chứa toàn độc chất. Đa số Việt kiều về nước chơi mắc chứng đau bụng tiêu chẩy vì ăn uống những thứ mất vệ sinh và độc hại này! Lại thêm những nạn "dịch" thường xuyên xẩy ra. Nào dịch gà vịt, nào dịch heo tai xanh, nào dịch thổ tả, kiết lỵ…toàn thứ giết người không gươm!

Thứ năm: Bước ra khỏi nhà là thấy thần chết bay lởn vởn trên đầu. Đường xá đã nhỏ hẹp hư hỏng tồi tệ, lại thêm xe cộ lớn nhỏ dầy đặc chạy phóng ẩu tả bạt mạng mất trật tự nên thường xuyên gây ra tai nạn chết người bỏ chạy. Đó là chưa kể tới những cuộc đua xe (của các con ông cháu cha) nổi hứng bất thần, lần nào cũng làm cho dăm bẩy mạng người đi đường chết oan. Ngoài ra với những người đi xe hơi thuộc loại đắt tiền cũng luôn là nạn nhân ngoài đường phố. Có một bọn bất lương chuyên giở trò rạch mặt ăn vạ như kiểu anh chàng Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Họ tìm cách lao xe (xe đạp hay gắn máy) của mình và cả người nữa vào đầu hoặc hông xe hơi rồi nằm lăn ra đường la lối kêu gào hoặc vờ vịt bất tỉnh nhân sự. Thế là muốn cho êm chuyện, chủ xe phải dúi vào tay "nạn nhân" một khoản tiền. Rồi còn cái "quốc nạn công an đường phố", bất cứ thuộc thành phần giai cấp nào (trừ dân cuốc bộ trên lề đường và các quan to) mọi người đều phải nộp tiền mãi lộ, khi tiếng còi của "anh đồng chí công an" ré lên, bất cần phải trái. Không dúi tiền là xe và người được "cầm chân" tại chỗ vài giờ rồi sau đó chuyển về "bót" giam giữ chơi ít ngày cho tới khi đóng đủ tiền nộp phạt!
Thứ sáu: Dù trải qua mấy chục năm rồi mà cái cảm giác bất an sợ sệt vẫn cứ ám ảnh tâm trí người Việt về nước thăm bà con. Bất cứ lúc nào công an cũng có thể tóm cổ mình vào nhà tù vu cho đủ thứ tội. Như mới đây một Việt kiều về nước ăn tết bị công an phi cảng Saigon "phát giác" có vũ khí dấu trong va ly quần áo. Không biết cơ quan an ninh phi trường của Mỹ qua mấy cổng kiểm tra gắt gao với những máy móc tối tân, có thể coi như nhất thế giới, lại không phát giác được, phải đợi tới công an cộng sản? Hay "bọn đế quốc Mỹ" đồng lõa âm mưu tạo loạn? Hay loại vũ khí này thuộc loại biết tàng hình? Rồi còn cái nạn các đồng chí thuộc đủ loại cơ quan đoàn thể tới nhà vòi vĩnh tiền bạc với cớ ủng hộ, gây quỹ vv… Như vậy dù muốn dù không chúng ta luôn luôn bị đe dọa và quấy rầy. An ninh không bảo đảm chút nào. Còn tự do thì tất nhiên vắng bóng, từ năm 1975 tới giờ vẫn không thay đổi, nói gì tới cởi mở tiến bộ như bọn "ăn cơm tự do tuyên truyền cho cộng sản" thường vẫn la lối! Cứ thử đụng vào một sợi lông chân của đảng thôi là biết tay nhau liền! Chỉ có ăn chơi trụy lạc là tự do thả dàn, chẳng những nhà nước không cấm đoán mà còn chiêu dụ thanh niên nam nữ đi vào con đường này!

Thứ bẩy: Những người lớn tuổi thường mắc nhiều chứng bệnh. Nào cao máu, cao mỡ, đau tim, đau dạ dầy, đau nhức gân cốt… Ở Mỹ đa số đều được hưởng chế độ khám chữa bệnh thuốc men miễn phí. Nay về nước sống thì lấy đâu ra tiền chi phí chữa trị những bệnh này? Đó là chưa kể tới nền y tế của Mỹ "hiện đại" gấp nhiều lần nền y tế Việt Nam và nhất là các thầy thuốc Mỹ có lương tâm nghề nhiệp hơn thầy thuốc ở Việt Nam. Không có cái trò không tiền miễn chữa bệnh!
Thứ tám: Những người thuộc lớp tuổi trên dưới 70, đa số là dân HO, hầu như tất cả đều hưởng tiền trợ cấp của chính phủ Mỹ. Nay về Việt Nam chỉ quá một tháng thôi là bị cúp trợ cấp liền. Vậy lấy đâu ra tiền sinh sống để an hưởng tuổi già nơi quê hương? Trông cậy vào con cháu ư? Nếu có con cháu giầu có thì chúng cũng chỉ chi cho một thời gian mà thôi. (Tục ngữ ta có câu: cha mẹ nuôi con như trời như biển, con nuôi cha mẹ con tính từng ngày). Có một sự thật đau lòng phải kể ra đây là lớp người mới thuộc những thế hệ sau trong nước, phất lên bạc muôn tiền tỷ nhờ mánh mung phe phẩy, tuy giầu tiền nhưng lại rất nghèo tình nghĩa! (Xã hội đã "hun đúc" họ trở thành như vậy). Sau một thời gian đầu có vẻ vui vẻ, họ sẽ coi chúng ta như những của nợ báo đời! Còn những người chẳng may có con cháu nghèo khó xin miễn bàn. Chúng chẳng nuôi nổi chúng và vợ con chúng thì còn lo được cho ai! Việt kiều mà không tiền bạc lại sống bám vào kẻ khác sẽ trở thành phó thường dân ngay lập tức và sẽ vĩnh viễn "bái bai" trò nay đón mai đưa như trước đây khi trong túi còn sột soạt rủng rỉnh đồng đô la xanh thắm!

Viết tới đây tôi nghĩ cũng đã tàm tạm đủ, chứ kể ra hết những điều tai nghe mắt thấy thì có lẽ phải viết hàng trăm trang giấy. Vậy thì để kết luận, theo tôi, nếu chúng ta nhớ quê hương đất nước, họ hàng thân thuộc bạn bè quý mến thì chỉ nên về thăm một thời gian mà thôi, không nên ở lại lâu dài. Chẳng những không được gì mà còn mất tất cả từ tình cảm tới vật chất và có thể còn... chết sớm nữa! Quê hương, nơi chôn nhau cắt rún, đã là người ai chẳng yêu thương nhung nhớ! Nếu quê hương là chùm nho ngọt, là cỏ cây hoa lá mượt mà xanh tươi thơm ngát, là bầu trời tự do lồng lộng gió mát trăng trong và ánh dương rực rỡ thì chúng ta nên về sống để làm tươi thắm thêm những ngày tháng còn lại trên cõi đời này. Nhưng quê hương bây giờ chỉ là chùm khế chua và chát thì tội gì chúng ta dấn thân vào cho tủi, cho khổ, cho đau, cho nhục cái tấm thân già gần đất xa trời!
ThanhThuongHoang

Thursday, 25 August 2016

Thuận thì sống mà chống thì chết


Sau bài viết Mãnh Lực Đồng Tiền, có nhiều người hỏi tôi tại sao tôi support ông Donald Trump?

Như tôi đã thưa với qúi vị là trong bài viết Mãnh Lực Đồng Tiền, có nhiều người  Mỹ rất xúc cảm trên câu nói của ông Donald Trump là: “ Tôi có tiền, vì vậy tôi sẽ không bị lệ thuộc vào những ai có tiền”.

Cũng chính câu nói đó cùng những đánh phá của những người cùng Đảng đã đưa tôi về những ngày tháng đau thương trong quá khứ, thời điễm đầu đời của Chính quyền đệ nhất  VNCH mà nay chỉ còn lại dư âm trên nỗi niềm mộ địa..

Tháng giêng năm 1961 Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản Sô Viết Nikita Khrushchev cam kết sẽ hổ trợ cho bất cứ một cuộc chiến tranh giải phóng nào trên thế giới nhất là đối với Việt Nam qua Hồ Chí Minh một tên tay sai đắc lực của Cộng Sản Quốc tế.


Cùng lúc đó, ngày 20 cùng tháng Tổng Thống Kennedy sau khi nhậm chức Tổng Thống thứ 35 của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ  cũng đã tuyên bố là: “... chúng tôi sẽ trả bất cứ giá nào, chịu đựng bất cứ gánh nặng nào, đáp ứng bất kỳ khó khăn nào để  hỗ trợ bất kỳ người bạn nào chống lại mọi kẻ thù, để đảm bảo sự tồn tại của tự do”. mà Tổng Thống  mãn nhiệm Eisenhower đã nói với tôi là  “ sẽ phải gửi quân “vào Đông Nam Á”

Có người cho rằng Chính quyền Kennedy còn trẻ trung chưa đủ kinh nghiệm trong các vấn đề liên quan đến khu vực Đông Nam Á. Bộ trưởng Quốc phòng ông  Robert Mc Namara 44 tuổi, cùng với các nhà hoạch định dân sự được tuyển chọn sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc quyết định của Nhà Trắng đối với một chiến lược cho Việt Nam trong vài năm tới..

Dưới sự lãnh đạo của họ, Chính quyền  Hoa Kỳ nghĩ rằng sẽ tiến hành một cuộc chiến tranh hạn chế để buộc một giải pháp chính trị ở Việt Nam. Tuy nhiên Hoa Kỳ chưa thấu hiểu được kẽ thù một Hồ Chí Minh luôn luôn chủ trương trường kỳ kháng chiến cho đến khi hắn ta thực hiện được sự thống  nhất VN để Nga Sô bành trướng thế lực.

Thang 5 năm 1961 Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson sang thăm Việt Nam và khen ngợi sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm như một Winston Churchill của Á Châu.

Cũng vào tháng 5 năm 1961 Tổng Thống Kennedy đã gởi 400 Lính “Mũ Xanh” làm “Cố Vấn Đặc Biệt” trong việc chống Chiến Tranh Du Kích trong chiến thuật Du Kích Chiến của Việt Cộng

Vai trò của Green Beret là thành lập một Lực Lượng Đặc Biệt (Civilian Irregular Defense Groupss) (CIDG) ở vùng Cao Nguyên trung tâm của Miền Nam Việt Nam dưới sự điều khiển của CIA.


Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ làm việc trực tiếp với các Bộ Lạc Người Thượng trong các Làng Buôn trong tỉnh Darlac. Họ thiết lập một loạt căn trại kiên cố dọc theo các dãy núi để tránh sự xâm nhập của Cộng Quân Bắc Việt


Mùa Thu năm đó Việt Cộng mở rộng một cuộc chiến với  26.000  Cộng quan khởi động một số cuộc tấn công  vào quân đội Nam Việt Nam. VC đã thắng trận.


Trong những năm đầu của cuộc chiến mà theo Dr. Lewis Sorley đã từng là Cố Vấn Tham Mưu cho hai Tham Mưu Trưởng chiến trường Nam Việt Nam là Tướng Creighton và Westmoreland đã nói trong buổi Hội Luận do Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Vùng StPete- Clearwater - Largo Florida tổ chức vào ngay 7 tháng 5 năm 2016 rằng: “ban đầu VNCH thua là bởi Mỹ viện trợ cho VNCH toàn là những vũ khí từ thời Đệ Nhị Thế Chiến rất cồng kềnh với vóc dáng của người VN trong khi VC đưọc Nga Sô và Trung Cộng viện trợ những súng đạn tân tiến.”


Tháng Mười 1961, để nhận thức đúng đắn tình hình quân sự tại chiến trường Nam VN hai nhà cố vấn đặc biệt và thân tín của Tổng Thống Kennedy là ông Maxell Taylor và  Walt Rostow đã đến thăm Việt Nam. Họ báo cáo với TT Kennedy rằng “Nếu bỏ ngỏ Nam Việt Nam thì đó là một vấn đề rất khó khăn để giữ Đông Nam Á”


Ông Maxell Taylor cũng đồng thời đề nghị Tổng Thống Kennedy nên mở rộng số lượng các cố vấn quân sự tại miền Nam VN cũng như gửi vào miền Nam thêm 8000 lính chiến.


Bộ trưởng Quốc phòng McNamara cũng đề nghị TT Kennedy gửi thêm sáu Sư Đoàn (200.000) lính Mỹ vào Nam Việt Nam nhưng TT Kennedy quyết định không gửi thêm bất cứ quân chiến đấu nào.


Tháng 10 năm 1961 Vào ngày kỷ niệm lễ Quốc Khánh thứ sáu của Việt  Nam Cộng Hoà Tổng thống Kennedy gửi thư cho Tổng thống Diệm và cam kết “Hoa Kỳ cương quyết giúp đở chính quyền Nam Việt Nam để giúp Việt Nam bảo vệ nền độc lập của mình..”


Sau đó, Tổng thống Kennedy đã gửi thêm các cố vấn quân sự cùng các đơn vị trực thăng để giúp quân đội  Nam Việt Nam trong cuộc chiến.


 TT Kennedy giải thích cho  việc mở rộng vai trò quân sự của Hoa Kỳ tại Nam VN  như có nghĩa là để ngăn chận Cộng Quân Bắc Việt chiếm Nam Việt Nam, phù hợp với chính sách của chính phủ  Hoa Kỳ  đã theo đuổi từ năm 1954” Số lượng quân sự của các cố vấn gửi bởi TT Kennedy cuối cùng đã vượt qua con số trên 16.000.


Tháng 12 năm 1961, Việt Cộng quân du kích bây giờ kiểm soát nhiều vùng nông thôn ở miền Nam Việt Nam và thường xuyên phục kích quân lính miền Nam Việt Nam.


27 Tháng 2 1962 một cuộc thả bom vào Dinh Độc Lập là do hai sĩ quan Không Quân VNCH. Ông Phạm Phú Quốc cho biết ông thả bom vào Dinh Độc Lập là muốn thực hiện tiến trình chuyển hướng sự lãnh đạo tại Nam Việt Nam.


Tháng 3 năm 1962, Chính quyền Nam VN tái định cư chương trình Ấp Chiến Lược để người dân nông thôn thành lập các thôn được tăng cường bảo vệ bởi lực lượng dân quân địa phương hầu ngăn chận Cộng quân len lõi vào người dân.


Tháng 5 1962 - Việt Cộng Tổ chức các đơn vị tiểu đoàn nhỏ hoạt động ở miền trung Việt Nam. Cũng trong tháng 5 năm  1962 Bộ trưởng Quốc phòng McNamara thăm Nam Việt Nam và báo cáo về Hoa Kỳ là “chúng ta đang chiến thắng cuộc chiến tranh tại nam VN”.


Tháng 8 năm 1962.  Một trại Lực Lượng Đặc Biệt khác của Hoa Kỳ được thiết lập tại Khe Sanh để giám sát quân Bắc Việt xâm nhập xuống đường mòn Hồ Chí Minh.


Ngày 03 Tháng 1 năm 1963. - Một chiến thắng của Việt Cộng trong một cuộc ác chiến đã được báo chí Mỹ đăng trên trang nhất trong đó họ tường thuật chỉ có 350 du kich VC đã đánh bại quân Việt-Mỹ và đã giết 3 thành viên phi hành đoàn trực thăng Mỹ


Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1963 các cuộc biểu tình của Phật giáo lan rộng. cùng với những việc  tự thiêu đến chết như một hành động phản đối. Việc tự thiêu được các nhà làm phim và nhiếp ảnh gia phản chiến thu thập rồi phổ biến tại Mỹ đã gây xúc động cho công chúng Mỹ cũng như Tổng thống Kennedy


Và cũng trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 8, khoảng giữa đầu tháng 7/1963 Tướng Trần văn Đôn đã bi mật liên lạc với CIA tại Saigòn trình bày về sự dàn dựng một cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống  Ngô Đình Diệm.


Ngày 22 tháng 8 năm 1963 Mỹ thay đổi Đại sứ tại Nam VN ông Henry Cabot Lodge đến nhậm chức Đại sứ Mỹ tại Saigon.


Ngày 26 tháng 8 năm 1963 Đại sứ Henry Cabot Lodge lần đầu tiên gặp Tổng Thống Diệm. Qua câu chuyện Đại sứ Lodge cho TT Diệm biết là theo chỉ thị của TT Krennedy thì TT Diệm phải thay đổi nhân sự trong guồng máy chính quyền và nhất là phải sa thải Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Tổng Thống Diệm cho biết đây là chuyện nội bộ của Nam VN và TT Diệm cho biết Hoa Kỳ chỉ là Đồng Minh với VNCH trên công cuộc giữ Tự Do cho Đông Nam Á. Sau đó TT Diệm đã từ chối bàn bạc về những sự việc khác.


Ngày 29 tháng tám, 1963 Đại sứ Henry Cabot Lodge  gửi một thông điệp hối thúc về  Washington tuyên bố rằng: “... Theo quan điễm của tôi thì chúng ta không thể có khả năng thắng cuộc chiến tranh  dưới chính quyền Diệm”


Tổng thống Kennedy sau đó đã để cho Đại sứ Cabot Lodge toàn quyền hành động ở Nam Việt Nam. Đại sứ Hoa Kỳ Cabot Lodge bí mật liên lạc với đám tướng phản loàn để tiến hành một cuộc đảo chánh. Tuy nhiên ở đó chính quyền Kennedy vẫn còn lo âu cuộc đảo chánh khó thực hiện vì vẫn còn rất nhiều Tướng Lãnh liêm sĩ rất trung thành với TT Diệm


Để dàn dựng cho tính trong sạch và hợp lý của chính quyền Hoa Kỳ trong việc đảo chánh sắp tới. Ngày 02 tháng 9 năm 1963 TT Kennedy đã có một cuộc phỏng vấn với Walter Cronkite và cho biết là chính phủ Nam Việt Nam có thể lấy lại sự hổ trợ của Hoa Kỳ “với một sự thay đổi chính sách và nhân sự trong chính quyền”


Một tháng sau.. Ngày 02 tháng 10 năm 1963 make sure không có trở ngại trong cuộc đảo chánh TT Diệm, Tổng thống Kennedy gửi Đại sứ Henry Cabot Lodge một thông điệp căn dặn ông Đại Sứ phải nắm thế chủ động trong việc móc nối và khuyến khích cuộc đảo chánh nhất  là phải nắm chắc việc xử dụng các tướng lãnh phản loàn để đãm bảo không có gì trục trặc.


Ngày 5 tháng 10 Đại sứ Cabot Lodge báo cáo về Washington là cuộc đảo chánh chính quyền đã sửa soạn xong do Tướng  Dương Văn Minh cầm đầu. Tướng Minh xin Hoa Kỳ  bảo đảm rằng viện trợ của Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam sẽ tiếp tục sau khi loại bỏ TT Diệm và khẩn thiết yêu cầu Hoa kỳ “chỉ đứng đàng sau làm thợ điện nhưng không tham dự cuộc đảo chánh”


Kịch bản này rất hợp “gu” với Hoa Kỳ. Các tướng lãnh phản loàn chỉ muốn nguỵ trang một màn kịch với diễn xuất của riêng mình mà không cần bất kỳ sự tham gia trực tiếp của Hoa Kỳ. Tổng thống Kennedy Okay ngay. CIA tại Sài Gòn sau đó đã được lịnh KHÔNG CAN THIỆP VÀO CUỘC ĐẢO CHÁNH LẬT ĐỔ TT NGÔ ĐÌNH DIỆM.


Ngày 28 tháng 10 năm 1963, Đại sứ Henry Cabot Lodge báo cáo về Hoa Thịnh Đốn là cuộc đảo chánh sắp xảy ra.


 Ngay 29 thang 10 năm 1963 Hoa Thịnh Đốn vẫn còn lo ngại về cuộc đảo chánh không thành nên đã chỉ thị cho Đại sứ Cabot Lodge dời lại nhưng Cabot Lodge cho biết đã muộn các tướng phản loàn đã tiến hành cuộc đảo chánh.


Ngày 1 tháng 11 năm 1963, đại sứ Cabot Lodge đến gặp TT Diệm tại Dinh Độc Lập từ 10 giờ sáng đến trưa. Sau khi Đại sứ Cabot Lodge rời Dinh Độc Lập thì đúng 1:30 trưa  ngày hôm đó cuộc đảo chánh bắt đầu. Quân đội của đám tướng phản loạn ầm ầm vào Saigòn bao quanh dinh Độc Lập. TT Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã bị mắc kẹt trong Dinh và từ chối tất cả lời kêu gọi đầu hàng. TT Diệm đã cố gắng điện thoại cho các tướng phản loạn nhưng thất bại. Sau đó TT Ngô Đình Diệm đã gọi cho Đại sứ Cabot Lodge và hỏi về “thái độ của Hoa Kỳ trong cuộc đảo chánh này”: Đại sứ Cabot Lodge trả lời là:”...Bây giờ là 4:30 sáng nên Hoa Thịnh Đốn không thể có thái độ được”. Sau đó Đại sứ Cabot Lodge giả nhân giả nghĩa như Mèo Khóc Chuột quan ngại đến tính mạng của TT Diệm. TT Ngô Đình Diệm cũng trả lời lại là “ Tôi đang cố gắng phục hồi trật tự”


Vào lúc 8 giờ đêm hôm đó TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu đã thoát ra khỏi Dinh Độc Lập và đến một nơi khác an toàn hơn. Đó là một căn nhà thuộc vùng ngoại ô của một đại thương gia người Tầu


Sáng hôm sau 02/11/1963 lúc 3:00 giờ sáng một trong những người tuỳ tùng của TT Diệm phản bội đã thông báo nơi trú ẩn của Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu. Đám tướng phản loàn bắt đầu cuộc săn lùng. Vào 6 giờ sáng hôm đó nhận thấy tình hình vô vọng TT Ngô Đình Diệm đã yêu cầu cho ông đầu hàng từ phía nhà thờ Công giáo. TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị tống vào mặt sau của xe tăng bọc thép chở lính. Trong khi di chuyễn về Saigon. Chiếc xe tăng dừng lại và cả hai TT Ngô Đình Diệm lẫn Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị sát hại.


Saigon nửa khóc, nửa cười trên xác chết của TT Diệm và sự sụp đổ của Chính quyền đệ nhất VNCH. Một chính quyền vừa mới bước ra khỏi “coma” của 100 năm bị Pháp đô hộ chưa bình phục hẵn mà đã bị bức tử vì vị lãnh đạo đất nước đã khí khái giữ vững tinh thần độc lập của mình và không chịu lệ thuộc dưới bất cứ một siêu quyền lực nào.


20 ngày sau khi giết TT Ngô Đình Diệm qua tay đám tướng phản loàn. Tổng Thống Kennedy  đã bị ám sát tại Dallas Texas

Donald Trump cũng đã tuyên bố một câu khí khái na ná như của TT Ngô Đình Diệm ngày nào. Trump bảo:”Tôi có tiền thì tôi sẽ không lệ thuộc dưới bất cứ ai có tiền”

Câu nói ấy cho tôi liên tưởng một âm thanh trong quá khứ khi tuổi đời mới 20. Lờ mờ trong ký ức là tiếng khóc và giọt nước mắt không kiềm chế đưọc đã rơi xuống khi phải hạ một tấm hình của một chí sĩ QUỐC GIA, MỘT VỊ LÃNH TỤ YÊU THƯƠNG ĐẤT NƯỚC VÀ ĐÃ PHẢI CHẾT KHI BẢO VỆ TINH THẦN  ĐỘC LẬP CUẢ ĐẤT NƯỚC MINH.

Liệu Donald Trump có thực hiện được nguyện vọng và chí hướng của mình trước những bàn tay lông lá đang tung hoành??


Tôn Nữ Hoàng Hoa

23/8/2016


Làm sạch giáo dục văn học thời hậu cộng sản



Văn học, được coi là tiền đề của mọi sự phát triển ở mọi quốc gia. Kinh nghiệm cho thấy, ở những nước nào có nền văn học tự do thì những nước đó, kinh tế và kiến trúc cũng sẽ phát triển, song song với việc bảo vệ môi trường. Nền văn học nước nhà suốt hơn 70 năm qua là một nền văn học kiệt quệ. Trong thời đại mới, làm sao để vực dậy nền văn học đó?

Thay mới từ sách giáo khoa.

Nếu đặt giả thuyết rằng nên làm điều gì ngay sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tại Việt Nam, tôi nghĩ đó là dốc sức phục hồi lại ngôn ngữ cho dân tộc, bắt đầu từ giáo dục phổ thông. Từ lớp 1 cho đến lớp 12 ở nước ta hiện tại, chương trình Văn-Sử- Triết, trong tay những người cộng sản không dùng để đào tạo một con người theo hướng khai phóng và nhân bản, mà dùng cho việc tuyên truyền cho đảng phái. Việc tuyên truyền lộ liễu như thế có khá nhiều tác hại: làm du nhập những từ tiếng Hán không cần thiết, hủy hoại tư duy của học sinh bằng lối văn nịnh bợ vô thưởng vô phạt, hủy hoại tính trong sáng của tiếng Việt…

Việc Đảng Cộng Sản bị dân tộc nguyền rủa là điều đang diễn ra trên thực tế. Sau khi chế độ độc đảng sụp đổ, họ cũng vẫn sẽ bị nguyền rủa, cực điểm trong vòng ước tính là 6 tháng đến 9 tháng. Sau đó, không thể cứ dồn toàn lực tinh hoa để chửi bới đảng viên cộng sản, những người bây giờ đang tạm coi là trí thức cấp tiến cần nghĩ ra một chương trình hành động để cứu rỗi ngôn ngữ của dân tộc. Chắc chắn sẽ xảy ra một điều đầu tiên là thu hồi toàn bộ sách giáo khoa các văn-sử-địa để viết lại. Lúc đó, cần có một ủy ban cứu nguy giáo dục đứng ra để chọn lựa những tác phẩm có giá trị, giàu tính nhân sinh- nhân bản để thay thế những tác phẩm tuyên truyền .

Cho đến xóa sổ các giáo trình đại học.

Trước khi là sinh viên một trường đào tạo ngành văn khoa khá nổi tiếng ở nước ta hiện tại, trước đó tôi đã có thời gian học rất ngắn tại một số trường nữa. Cuối cùng, tôi nghĩ là nên vào trường văn- viết văn thì may có thể thay đổi được điều gì đó. Nhưng mọi thứ đối với tôi gần như tuyệt vọng khi vào học một khoa văn ở trường đại học đào tạo văn khoa nổi tiếng nhất nước. Tôi cứ nghĩ là chỉ có mấy môn chính trị bắt buộc là phải giả vờ công nhận Marx-Lenin và các lãnh tụ cộng sản trong bài thi cuối kỳ. Không ngờ, mọi môn học, dù là chuyên ngành, đều chứa chấp chủ nghĩa Marx-Lenin. Mọi cuốn giáo trình đều phải chêm vào mấy câu “nâng bi” cho chủ nghĩa Marx, cho Bác và cho Đảng thì mới được in.

Xin lấy một ví dụ, cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học xuất bản năm 2008 của nhóm tác giả Nguyễn Thiện Giáp-Đoàn Thiện Thuật và Nguyễn Minh Thuyết. Trong trang 11, nhóm tác giả trích dẫn một ý của Mác và Ăng-ghen. Ta chưa cần xét nội dung cuốn sách cũng như nội dung trích dẫn Mác và Ăng-ghen là đúng hay sai, nhưng nếu chứng minh được Mác là tên đồ tề như các nền dân chủ đi lên từ độc tài cộng sản vẫn thường làm, thì số phận gì sẽ xảy ra đối với cuốn sách đó? Trong nỗ lực xóa bỏ tàn dư chủ nghĩa cộng sản, phải xóa tất cả những gì mang tính tuyên truyền. Vậy là, cuốn sách Dẫn luận ngôn ngữ học kia phải bị thu hồi, và các tác giả kia cũng đừng mong viết sách giáo trình mà không bị lên án. Trường hợp kinh tởm nhất với tôi, đó là cuốn Giáo trình Mỹ học đại cương của “nhà giáo ưu tú, tiến sĩ khoa học” Đỗ Văn Khang, khi ông này đem cảnh Hồ Chí Minh câu cá để ví dụ cho cái trác tuyệt, hay công nhận một thứ mà tổ tiên của nó không công nhận: nền Mỹ học Marx-Lenin (Marx-Lenin mù tịt về mỹ học). Hàng trăm cuốn giáo trình có cùng một tội như vậy, trong ngày đó chúng ta phải xóa sổ hết những cuốn sách như vậy.
Xong rồi, những môn khác như Logic học đại cương vốn không có tội tình gì cũng trích dẫn lời của ban tuyên giáo rằng Mỹ đánh Iraq là để chiếm dầu chứ không phải vì chống khủng bố, cùng vô số lần thêm danh Marx-Lenin vào để minh họa cho các khẳng định. Trong thời đại mới, xin nhấn mạnh rằng những người có trách nhiệm cần phải xóa sổ những cuốn sách như thế ra khỏi giảng đường Việt Nam. Còn rất nhiều, rất nhiều sách giáo trình như vậy sẽ cần phải viết lại.

“Thanh lý môn hộ” ngành văn khoa.

Việc tiếp theo, có nên sa thải những tác giả sách giáo khoa trước kia tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản không? Nếu giữ họ lại và cho làm y như trước kia thì rất nguy hiểm, vì trong họ còn tàn dư tư duy cộng sản và hoặc vô tình hoặc cố ý sẽ làm cho các tài năng sư phạm văn học trung lập không ngóc đầu lên được. Trong một môn học phân chia các thời kỳ, thì sẽ có sinh viên phê phán nặng nề thời kỳ văn học cộng sản. Những thầy cô trước đây là cộng sản, chắc chắn sẽ trù dập sinh viên đó. Vậy, có nên làm mạnh tay với những đảng viên cộng sản này bằng cách sa thải họ ra khỏi trường đại học hay không?

Nếu cách chức họ đi thì sẽ phát sinh thù hằn dân tộc.

Do đó , tôi đề xuất một giải pháp là Bộ giáo dục trong chế độ mới không dốc tiền nuôi một ban chuyên đi viết sách nữa. Thay vào đó, chúng ta sẽ dùng giải pháp là mở cuộc thi viết sách. Sách được dùng trong nhà trường phải được qua bỏ phiếu trong quốc hội. Về nhân sự giảng dạy các trường, phải là bầu cử và bỏ phiếu định kỳ để quyết định một giáo sư nào được ở lại, một giáo sư nào phải ra đi.

Văn-sử-triết là ba bộ môn bất phân. Sau khi chế độ cộng sản bị giải tán, nhân lực tuyên truyền của họ nằm vùng trong khoa văn-sử-triết của các trường đại học cũng sẽ bị “thanh trừng”. Đây là một định luật xã hội. Theo định luật, xã hội nào còn tàn dư tư duy cộng sản thì tiến trình hoàn thành thể chế dân trị của xã hội đó càng bị trì hoãn. Kinh nghiệm cho thấy, khi giải tán từ một chế độ độc tài này sang một chế độ dân chủ, thì phải có và nên có một chế độ chuyển tiếp mà tôi tạm là chế độ độc tài- dân chủ.

Chế độ đó sẽ phải làm rất nhiều để thanh lọc nền đào tạo văn khoa. Biện pháp thứ nhất cần làm, tôi thiết nghĩ loại bỏ tất cả những cuốn sách soạn bởi các tác giả từng là đảng viên cộng sản- hoặc các tác giả từng góp phần viết những cuốn sách ca ngợi chế độ cộng sản bất nhân tàn bạo. Những tác giả như thế không xứng đáng để đứng tên trong những cuốn sách trong chế độ mới.

Thực tế thì, tác giả của những cuốn giáo trình như Dẫn luận ngôn ngữ học hay Mỹ học trên đây đã cố tình đem vào trích dẫn Mác-Ăngghen, nếu chẳng phải là để ghi điểm trong lòng ban tuyên giáo và trong khối đảng ủy giáo dục đó sao? Một hành động ngày hôm qua được cho là khôn , thì ngày hôm sau đã là rồ dại. Hôm qua họ ăn uống và hưởng lợi trên sự độc quyền giáo dục, thì hôm nay họ phải chịu đào thải khỏi bánh xe tiến hóa của dân tộc. Số phận của các tác giả như thế, hẳn sẽ không do pháp luật hay lòng nhân từ nào định đoạt. Họ phải được ra xét xử trên tinh thần phổ thông đầu phiếu. Mà, nếu trên tinh thần phổ thông đầu phiếu, lực lượng dân chủ chiếm đa số hẳn sẽ có số phiếu áp đảo để đẩy các tác giả thân cộng ra khỏi nhà trường và giảng đường.

Một điều nữa nhất định phải làm, theo tôi nghĩ, đó là sa thải tất cả hiệu trưởng các trường đào tạo văn-sử-triết và thay mới hoàn toàn bằng những giảng viên có tư tưởng cải cách. Đây là một điều rất cần kíp, và cần thực hiện mạnh tay. Nếu không, tư duy cộng sản sẽ như con đỉa bám dai trên tâm hồn thanh niên Việt.

Giải tán Hội nhà văn Việt Nam.

Một công việc khác, cũng cần làm một cách rất cần kíp, đó là phải giải tán Hội nhà văn Việt Nam. Hội này do Hữu Thỉnh- một người đạo văn làm chủ tịch, suốt mấy chục năm. Đây thực chất là một anh công an, đi sang Hội nhà văn để làm cai văn nghệ. Tiếng kêu oán thán của các nhà văn thành viên hội này đã chất cao lên đến tận trời xanh. Hội nhà văn Việt Nam dưới thời Hữu Thỉnh có mục đích duy nhất là tuyên truyền và kiểm duyệt, do đó đã đánh chết mọi tài năng văn chương của dân tộc. Không còn nghi ngờ gì nữa, Hội nhà văn Việt Nam phải được giải tán dưới chế độ mới. Sau đó hội sẽ mở lại, cũng dưới tinh thần phổ thông đầu phiếu, và không được ăn trên tiền thuế của người dân nữa. Chủ tịch Hữu Thỉnh- tất nhiên, sẽ bị nguyền rủa như những người cộng sản đã và sẽ bị như vậy. Tuy vậy, việc gắp bỏ những con sâu như thế ra khỏi làng văn học vẫn là điều cần thiết. Để xã hội trở về trạng thái ổn định, những nhà văn ca ngợi chủ nghĩa cộng sản phải bị loại bỏ khỏi sân chơi.

Khi đã loại bỏ những con sâu như vậy rồi, những nhà văn chân chính còn lại đối diện với “đống đổ nát” của nền văn chương “cách mệnh xã hội chủ nghĩa”. Ngôn ngữ dân tộc đã bị làm cho bại hoại suốt 70 năm qua.

Gunter Grass, văn hào Đức- Nobel văn chương 1999 là người được mệnh danh là nhà văn vĩ đại nhất của nước Đức trong thế kỷ XX. Ông vĩ đại không chỉ bởi những tiểu thuyết như Cái trống thiếc, người dân Đức tôn vinh ông vì công sức phục hồi ngôn ngữ cho nhân dân Đức. Sau thời đại của đảng độc tài Đức Quốc, ngôn ngữ của dân Đức bị hủy hoại. Cũng vậy, ở Việt Nam, sau thời đại của đảng độc tài Cộng sản, cần có một một Gunter Grass phục hồi lại lương tri và tính trong sáng cho ngôn ngữ dân tộc An Nam.

Có lẽ, dân tộc Việt Nam lúc đó cần nhiều nhà văn giỏi lắm thay.

Tôn Phi