TỔ QUỐC

Friday

Norovirus: Một Hiểm Họa Trên Du Thuyền



Cần ngừa nhiễm vi khuẩn Noroviruses.


Nguyễn Thượng Chánh, DVM


Norovirus (còn gọi là Norwalk virus) là tác nhân gây rối loạn tiêu hóa thường hay thấy xảy ra trên các du thuyền cruise ship. Người ta cũng gọi đó là stomach flu.
Du thuyền chứa trên 4000 người, tập trung trong một diện tích nhỏ hẹp và có giới hạn. Họ sống và sinh hoạt chung với nhau trong một tuần lễ, cộng thêm mỗi ngày du khách đều đổ lên bờ để đi du ngoạn, ăn uống tại chợ búa của các hải đảo địa phương vùng Caraibe, nơi mà vấn đề vệ sinh không được mấy bảo đảm cho lắm.
Và cũng không thể bỏ qua khâu vệ sinh (thức ăn,nước uống, nước piscine,lau chùi…) thuộc phần trách nhiệm của công ty du thuyền.
Đó là những nguyên nhân có thể dẫn đến sự bộc phát của dịch bệnh rối loạn tiêu hóa do Norovirus gây ra.
Bị nhiễm Norovirus thì kể như chuyến đi chơi bị hỏng bét và hết vui.
CDC. Outbreak updates for International cruise ships
http://www.cdc.gov/nceh/vsp/surv/GIlist.htm
Norovirus thuộc họ Caliciviridae và là một loại ARN virus...
Mấy lúc gần đây, tại Bắc Mỹ và Hoa Kỳ đã xảy ra nhiều dịch bệnh rối loạn tiêu hoá do Norwalk virus gây nên. Được biết Norwalk virus là một Norovirus (NoV) mà ngày xưa người ta thường hay gọi là Norwalk like virus (Virus NLV).
Virus Norwalk được tìm thấy dưới kính hiển vi điện tử năm 1978 từ mẫu phân của một bệnh nhân ở Norwalk, Ohio. Virus nầy có thể sống rất dai trong điều kiện môi sinh khắc nghiệt như nó có thể sống hằng năm trong điều kiện đông lạnh hay ở nhiệt độ nóng 60 độ C trong 30 phút hoặc ở môi trường chlore 6,25mg/lít.
Nhiễm từ đâu?
-Thức ăn, thức uống,chén, dĩa,dao, nĩa muỗng, đã bị nhiễm sẵn virus
-Nhiễm từ tay đã sờ mó, chạm vào vật dụng dơ bẩn, cầu thang, chốt cửa có virus, sau đó bốc thức ăn bỏ vào miệng
-Tiếp xúc trực tiếp, bắt tay với người đang bị nhiễm virus đã có biểu lộ ra triệu chứng
Bệnh lây lan rất nhanh trên tàu.Tương tợ như virus bệnh cúm, Norovirus cũng có rất nhiều chủng loại bởi vậy khó có thể có được một sự miễn dịch lâu dài.Các chủng loại được căn cứ trên địa dư vùng Norovirus xuất hiện như: Hawaii, Snow Mountain, Colorado, Norwalk, Ohio...
Triệu chứng chung là nhức đầu, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy, đau nhức các bắp cơ, sốt nhẹ, nóng lạnh. Bệnh thường khỏi sau hai ba ngày. Trẻ em thường nôn mửa nhiều hơn người lớn.
Norovirus có khả năng lây nhiễm rất cao. Virus hiện diện trong phân và trong nước ói mửa.
Mấy năm gần đây tại Hoa kỳ và Canada đã xảy ra nhiều dịch bệnh do Norwalk virus gây ra trên các du thuyền cruise ships như Carnival Cruise Lines Liberty (Nov 2006), Freedom of the Sea và Sun Princess (Dec 2006), RMS QE2 (Jan 2007).
Năm vừa qua, ngày15 Feb 2010, một dịch bệnh rối loạn tiêu hóa đã xảy ra trên du thuyền The Celebrity Cruises ship Mercury xuất phát từ Charleston, South Carolina để đi đến vùng eastern Caribbean. Có trên 400 hành khách đã ngã bệnh như đau bụng, nôn, mửa và tiêu chảy.

Bệnh cũng thường hay xảy ra trong bệnh viện, nhà nuôi dưỡng người già nursing home, trong nhà trẻ và trường học, v.v…
Người già, những người có sức miễn dịch suy yếu sẵn, phụ nữ mang thai và trẻ em là những người có thể bị nhiễm bệnh nặng hơn các đối tượng khác.
Phòng ngừa
Trong cuộc sống hằng ngày đôi khi chúng ta quên tuốt luốt là vô số vi khuẩn và virus đang rình rập quanh ta chờ có dịp để lây nhiễm và tấn công...
Bàn tay thường là trung gian đem mầm bệnh vào người.
Mỗi khi bắt tay hay sờ mó một vật gì chẳng hạn như nắm khóa cửa, robinet, chốt xả nước bàn cầu, v.v… chắc chắn là bàn tay chúng ta đã bị nhiễm rồi.
Hiện nay trên tất cả các du thuyền đều có trang bị rất nhiều loại chất chà tay có chứa alcool (alcohol based hand rubs) để du khách sát trùng hai bàn tay. Những hóa chất nầy dưới dạng gel alcool đựng trong những chai và được bố trí khắp nơi trên du thuyền.
Sát trùng tay có tính cách bắt buộc mỗi khi chúng ta vô phòng ăn, đi vệ sinh và lúc lên xuống tàu.
Rửa tay kỹ lưỡng và thường xuyên cũng là một cách đề phòng sự lây nhiễm của Norovirus.
Tham khảo:
-CDC.
Norovirus Q/A
http://www.cdc.gov/ncidod/dvrd/revb/gastro/norovirus-qa.htm
Fact about Noroviruses on cruise ships
http://www.cdc.gov/nceh/vsp/pub/Norovirus/Norovirus.htm
-Bs Nguyễn Trần Hoàng. Tiêu chảy khi đi du lịch
http://www.yduocngaynay.com/8-8HD_NgTrHoang_TieuChayKhiDiDuLich.htm
-Bs Thú y Nguyễn Thượng Chánh.
Rửa tay để bảo vệ sức khỏe
http://www.yduocngaynay.com/2-2NgTChanh_RuaTay.htm
Virus thực phẩm
http://www.yduocngaynay.com/2-2NgTChanh_VirusAlimentaires.htm
Nguyễn Thượng Chánh, DVM
Montreal, Jan 01,2011

Cuối Năm Tản Mạn Chuyện Cộng Đồng, Quê Hương


Văn nghệ IRCC: 35 năm cộng đồng người Việt ở San Jose

2010 đánh dấu 35 năm khai sinh cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, kể từ khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Mỹ định cư sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30.4.1975.

130 nghìn người đã được Hoa Kỳ đón nhận cho định cư vào năm 1975. Những người Việt tị nạn đến Mỹ lúc đầu sống rải rác ở nhiều tiểu bang, sau tập trung về miền nắng ấm, nhiều nhất là bang California. Những năm tiếp theo với làn sóng “Boat People” trong hơn một thập niên, rồi H.O., con lai và O.D.P. đem nhiều người đến Mỹ và cũng tập trung về những nơi đã có đông người Việt sinh sống là California, Texas, Washington. Tính đến nay có khoảng 1 triệu 200 nghìn người Mỹ gốc Việt, đông nhất ở California với khoảng một nửa, sau đến Texas với 200 nghìn và bang Washington 60 nghìn.

Vùng San Jose có người Việt định cư ngay từ năm 1975. Sang thập niên 1980 với sự bùng nổ của kĩ nghệ điện tử, người Việt các nơi rủ nhau đổ về đây sinh sống. Nếu Quận Cam ở miền Nam California có số người Việt cao nhất thì San Jose ở miền Bắc là thành phố lớn có số cư dân gốc Việt đông nhất, gần 100 nghìn người, chiếm gần 10% dân số thành phố.

Một thời ở San Jose đã có nhiều trường điện tử do người Việt lập ra, huấn luyện cấp tốc, cung cấp hàng vạn thợ lắp ráp (assembler) và kĩ thuật viên (technician) cho các hãng xưởng. Thung lũng Điện tử là tên người Mỹ gọi, nhưng người Việt còn đặt cho vùng đất lành chim đậu này cái tên thân thương là “Thung lũng Hoa vàng”.

Xem niên giám điện thoại, chỉ họ Nguyễn không thôi đã 6 nghìn, họ Trần 3 nghìn. Thời vàng son đã có đến 5 nghìn cơ sở thương mại do người Việt làm chủ. San Jose một thời sôi nổi sinh hoạt từ văn hoá, xã hội đến chính trị, thương mại. Các sô ca nhạc mỗi cuối tuần ở CPA (Center for the Performing Arts), Flint hay Santa Clara Convention Center lúc nào cũng đông khán giả đến thưởng thức các giọng ca hàng đầu hải ngoại: Khánh Ly, Ý Lan, Như Quỳnh, Khánh Hà, Chế Linh, Thanh Tuyền, Hương Lan, Tuấn Ngọc, Nguyên Khang. Ngay cả những Diva của Việt Nam cũng đã xuất hiện trên sân khấu San Jose: Hồng Nhung, Quang Dũng, Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng, Mỹ Linh.

Nay với mức thất nghiệp toàn quốc ngắm nghé 10%, California 12.4% và riêng Thung lũng Điện tử 10.5% thì phải thắt lưng buộc bụng. Đâu ai còn thích vui chơi như thời vàng son của dăm năm trước. Năm 2010, văn nghệ tuy có khởi sắc hơn năm qua nhưng Thung lũng Hoa vàng chưa sinh động trở lại. Đáng ghi nhận là nhạc sĩ Lê Huy trong cố gắng đưa đến cho khán giả những giọng ca vàng, những tài năng mới trong vùng với các sô gồm nhiều ca khúc chọn lọc đã được yêu thích qua các thời đại. Trong khi đó có những chương trình đã lên lịch, quảng cáo dán khắp nơi rồi phải hủy bỏ vào giờ chót vì vé bán không được.

Nếu có trình diễn, số khán giả cũng ít. Sô kỉ niệm 20 năm ca hát của Ý Lan, một giọng hát được yêu mến, vừa diễn ra trong tháng Mười Hai ở Santa Clara Convention Center với số ghế 700 mà vé bán không hết. Cũng ở thính phòng này, vào mùa hè có ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng cùng Mỹ Tâm từ trong nước qua hát với một số ghế trống. Nếu các sô ca nhạc không thành công, ngoài nội dung thiếu hấp dẫn, một phần khác do bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế còn xấu.

Buổi ca nhạc Đàm Vĩnh Hưng đã có sự cố khi ông Lý Tống giả gái để xịt hơi cay vào mặt nam ca sĩ đang ăn khách của Việt Nam. Đây cũng là câu chuyện gây nhiều chú ý trong năm và sẽ còn kéo dài qua năm 2011 khi ông Lý Tống tiếp tục phải ra hầu toà.

Năm qua vùng Vịnh San Francisco còn có văn nghệ tuy cây nhà lá vườn nhưng mang ý nghĩa ghi dấu 35 năm lịch sử người Mỹ gốc Việt. Trước hết là chương trình của cơ quan xã hội, định cư di dân IRCC được tổ chức tại CPA với hơn 2,000 khán giả đến dự để nhìn lại một chặng đường với những đóng góp của cộng đồng cho thành phố San Jose, cho đất nước Hoa Kỳ. Đây là một thành công mang tính sinh hoạt cộng đồng vì IRCC là cơ quan xã hội do người Việt điều hành – ông Vũ Văn Lộc là giám đốc và đã có mặt ở San Jose từ hơn 30 năm qua – đã giúp định cư nhiều nghìn tị nạn và di dân. IRCC nay vẫn hoạt động, trong khi các cơ quan khác đã đóng cửa. Cũng để ghi dấu 35 khai sinh cộng đồng người Việt tại Mỹ, Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Berkeley đã có một chương trình ca nhạc kịch do các em sinh viên biên soạn và trình diễn, chủ đề “Sóng gió cuộc đời”, diễn ra tại thính đường Zellerbach trong khuôn viên trường và thu hút 1,500 khán giả. Tuy thuộc thế hệ thứ hai nhưng các em đã ghi lại trung thực hành trình đến Mỹ, cuộc sống vất vả, những hi sinh để nuôi các em nên người trong khi cha mẹ phải đối đầu với những khó khăn hội nhập vào đời sống mới.

Sinh viên Đại học Berkeley làm văn nghệ ghi dấu lịch sử 35 năm người Việt tại Mỹ

Thấm thoát đã 35 năm. Bây giờ không còn nhiều cảnh gia đình “chồng tách vợ li” (technician và assembly). Thời cực thịnh của kĩ thuật vi tính đã qua, nhiều hãng điện tử đã dọn đi, công xưởng bỏ hoang, hoa vàng chỉ còn lưa thưa. Kinh tế xuống cũng kéo theo thời vàng son của văn nghệ Việt ở San Jose, kéo theo nhà cửa chìm dưới nước hay bị tịch thu, cơ sở thương mại dẹp tiệm, nhiều người mất việc. Vietnam Town trên đường Story, nơi gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng, dự trù xây xong từ cuối năm 2006 với 250 đơn vị, nay mới sắp khai trương và cũng chỉ hoàn tất được một nửa.

Sang lãnh vực chính trị, bầu cử 2010 đưa đến vui buồn lẫn lộn cho người Việt San Jose. Nghị viên Madison Nguyễn tái đắc cử, tuy phải qua hai vòng bỏ phiếu, và vừa được Thị trưởng Chuck Reed đề cử làm phó thị trưởng trong những năm tới. Các ứng viên Bửu Thái, Keith Khoa Nguyễn tái đắc cử vào hội đồng giáo dục. Cộng đồng Việt có thêm hai ủy viên giáo dục là Vân Lê và Scott Hưng Phạm, trong khi Kathy Trần và Bryan Công Đỗ không thành công.

Nhìn rộng ra toàn bang California và nước Mỹ, tiếng nói đại diện cho người Việt ở Quốc hội Tiểu bang California không còn nữa vì dân biểu Trần Thái Văn hết hạn phục vụ 3 nhiệm kì và không thể tái tranh cử vì luật giới hạn. Ông ra tranh chức dân biểu liên bang Địa hạt 47 ở Quận Cam nhưng không thành công. Người gốc Việt duy nhất trong Quốc hội Mỹ là Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh cũng đã không giữ được ghế sau một nhiệm kì. Như thế, cộng đồng Việt nay chỉ còn Dân biểu Tiểu bang Hubert Võ là dân cử cao cấp nhất ở bang Texas, nơi có số người Việt đông thứ nhì tại Mỹ. Quận Cam với Giám sát viên Janet Nguyễn là người có chức cao nhất trong khoảng 20 dân cử gốc Việt ở bang California. Đã 35 năm qua, người Việt chưa có được những đại diện dân cử cấp cao hơn trong chính quyền đó là điều đáng buồn nếu so sánh với cộng đồng tị nạn cộng sản Cuba.

Sang lãnh vực truyền thông báo chí, năm qua nở rộ những chương trình truyền hình kĩ thuật số phát sóng tại điạ phương. Cùng lúc có những chương trình phát hình đến nhiều thành phố với các tiết mục giải trí lấy từ kênh trong nước. Ngoài truyền hình, từ nam bắc California sang đến Houston, Texas trên sóng phát thanh nghe rổn rang tiếng Việt gần như cả ngày, cùng các ngôn ngữ Mễ, Hàn, Hoa. Đúng là xứ sở của tự do truyền thông.

Về báo chí, tuy báo mạng phát triển nhưng báo in vẫn sống. Quận Cam với Người Việt, Việt Báo và thêm mấy nhật báo nữa được khai sinh đôi ba năm nay. Ở San Jose, các nhật báo có tuổi như Thời Báo, Việt Nam, Việt Nam Tự Do, Cali Today vẫn phát hành đều, số trang tuy có ít hơn. Trước đây mỗi ngày 20 hay 24 trang, giờ còn 16. Thời cực thịnh số báo cuối tuần có thể từ 40 đến 50 trang, nay xuống 24 đến 30. Tuần báo có Mõ San Francisco, Sống Mới sống mạnh, mỗi số dày trên 200 trang. V-TimesViệt Tribune sinh sau, sắp qua tuổi thứ 5, cũng đã vững vàng. V-Times là tờ báo duy nhất ở San Jose nhận đăng quảng cáo cho Vietnam Airlines, và như một số báo Việt ngữ ở California, hiện có sự cộng tác của nhiều người viết từ trong nước.

Báo Việt ngữ ở San Jose

Nói về truyền thông thì không thể quên việc Hà Nội muốn dùng nó để quảng bá cho chính sách của nhà nước tại hải ngoại. Hà Nội có thể dùng truyền thông để đánh phá, gây chia rẽ cộng đồng, nhưng để thông tin trung thực về sinh hoạt trong nước thì người hải ngoại vì trải nghiệm, vì qua những giao tiếp với quê nhà và vì có những luồng thông tin quốc tế đáng tin cậy hơn nên họ không dễ gì tin những gì nhà nước nói.

Mặt khác Hà Nội luôn tìm mọi cách kiểm soát không cho những thông tin trái chiều với quan điểm của nhà nước được phổ biến trong nước, chủ yếu là các trang mạng hay blog lề trái. Dùng tường lửa và tin tặc là cách để Hà Nội đối phó với những thông tin này. Trong năm qua nhiều mạng ở hải ngoại đã liên tục bị đánh phá khiến các tổ chức theo dõi tự do thông tin và nhân quyền phải lên tiếng phản đối. Một quan chức công an của Việt Nam tiết lộ họ đã đánh sập được 300 trang mạng. Tháng Mười Một vừa qua, trang talawas với đóng góp của nhiều trí thức trong và ngoài nước tự đình bản sau 9 năm hoạt động.

Những năm gần đây với sự bộc phát của các blog cá nhân nên các mạng thông tin tiếng Việt của các đài quốc tế như VOA, BBC, RFA nay cũng có những blog riêng. VOA tiếng Việt từ hơn một năm qua có những người viết blog thường xuyên là Bùi Tín, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Xuân Hoàng và bạn hữu, Trịnh Hội và Trần Vinh Dự. Mỗi người phụ trách một chủ đề riêng với nhiều bài viết giá trị về chính trị, văn học, kinh tế, kí sự, sinh hoạt đời sống. Nhưng phần ý kiến độc giả đã cho những kẻ mượn diễn đàn để chửi đổng hay tuyên truyền thay vì tranh luận. Có đôi điều người viết đề nghị cùng VOA tiếng Việt với hi vọng giúp độc giả học hỏi được văn hoá phản biện và làm đẹp cho tiếng Việt:

1/ Không đăng những ý kiến viết tiếng Việt mà không có dấu.

2/ Diễn đàn blog của VOA mở ra là tạo môi trường cho phản biện, mà phản biện thì không phải là chửi đổng hay xả rác. Những ý kiến có nội dung như thế không nên đăng.

Trong xã hội tự do dân chủ, tranh luận liên quan đến chính trị thì không bao giờ dứt nhưng cuối cùng người dân có quyền lựa chọn người đại diện cho quan điểm, lập trường của họ. Còn ở Việt Nam, bàn về chính sách, về lãnh đạo nhiều khi không được phép, trong khi đó người dân lại không được quyền thay đổi hay chọn người đại diện thay họ lãnh đạo đất nước. Vì thế nhiều tranh cãi liên quan đến Việt Nam không đem lại kết quả có ích và một số người vào diễn đàn chỉ với mục đích tuyên truyền hay chửi.

Cuối năm, cùng một bạn văn ghé phở Tầu Bay ăn trưa. Tiệm đông khách đứng chờ là dấu hiệu lạc quan cho kinh tế tiểu thương đang vực dậy. Sang quán cà-phê Starbucks lại gặp một dấu chỉ trái chiều, siêu thị Mỹ bên cạnh vừa đóng cửa. Mấy hôm trước ghé Fair Valley Mall, khu ăn uống với sức chứa trên 800 khách mà đông nghẹt, phải chờ lâu mới tìm được bàn. Ở đây với 20 cửa hàng bán đủ loại thức ăn nhanh Mỹ, Mễ, Tầu, Hàn, Nhật, chỉ thiếu Việt. Bao giờ bánh mì Lee’s sẽ vào được đây?

Ghé thăm toàn soạn Thời Báo được ông chủ nhiệm tặng cho cuốn lịch treo tường in ở Việt Nam với hình các thiếu nữ mặc áo dài rất xinh. Ngoài bìa và bên trong có hàng chữ tiếng Anh: “Year of the Rabbit” – Năm con Thỏ. Lịch Việt nhưng sao lại lai Tầu? Người Việt gọi năm 2011 là Tân Mão, năm con Mèo, “Year of the Cat”. Người Hoa mới gọi là Thỏ. Lẽ nào ảnh hưởng của Trung Quốc đã lây lan từ trong nước ra đến hải ngoại. Đó có thể là điều thật. Thỉnh thoảng gặp người từ quê nhà sang Mỹ chơi, nghe họ kể chuyện mà tưởng như Trung Quốc đã kiểm soát Việt Nam, không chỉ Hoàng Sa, Trường Sa, Tây nguyên, sinh hoạt kinh tế mà ngay cả Bộ chính trị.

Một năm nữa sắp qua, Việt Nam rồi sẽ tiến về đâu. Vẫn hồ hởi lên đường xã hội chủ nghĩa hay sẽ hoà nhập được với thế giới của tự do dân chủ và tiến bộ? Có hi vọng gì không trong năm mới này?

[Ảnh trong bài của tác giả]

© 2010 Buivanphu

“‘Hiệu trưởng mua dâm’

Vì 16 Quan Mua Sex Được Tha, Mẹ Bé Gái Xin Cho Con Ra Tù

Trong khi các quan chức vui sex trẻ em vẫn không bị xử lý, hai bé gái bị lạm dụng sex vẫn còn bị giam... Do vậy, một bà mẹ nữ sinh phải lên tiếng.
Bản tin nhan đề “‘Hiệu trưởng mua dâm’, mẹ nữ sinh lên tiếng” đăng trên thông tấn VietnamNet ngày 30/12/2010 đã ghi nhận:
“...Ngày 24/12/2010, bà Nguyễn Thị Thơm (SN 1968, thường trú tại tổ 10, thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, Hà Giang) là mẹ của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thúy – một trong 3 bị can vừa được VKSND tỉnh Hà Giang đề nghị truy tố về tội môi giới mại dâm trẻ chưa thành niên đã có đơn mời luật sư Trần Đình Triển bào chữa cho con gái mình.
Chị Thơm đã trực tiếp xuống Hà Nội để gặp luật sư Triển tại Văn phòng Luật sư Vì Dân để gửi đơn và làm các thủ tục pháp lý.
Luật sư Triển đã nhận lời bào chữa cho bị can Thúy theo nguyện vọng và đơn của gia đình. Ông Triển khẳng định sẽ bào chữa miễn phí cho cháu Thúy trong phiên xử sơ thẩm tới đây...
...Trao đổi với VietNamNet, chị Nguyễn Thị Thơm cho biết: “Tôi rất khó hiểu với kết luận điều tra này, những người bị tố cáo có hành vi mua dâm được tuyên trắng án, không đủ cơ sở để chứng minh họ có tội, trong khi đó, con gái tôi cũng là nạn nhân mà vẫn bị ngồi tù, không được cơ quan điều tra xét đến tình tiết cháu cũng là nạn nhân của ông Sầm Đức Xương và nhiều cá nhân khác như các cháu đã tố cáo trước tòa!”.
“Trong phiên xử phúc thẩm đầu năm 2010, các luật sư bào chữa đã lập luận trước HĐXX về việc các cơ quan tố tụng vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng, cùng các lời khai của các cháu trước phiên tòa. HĐXX trên cơ sở đó đã tuyên hủy án và yêu cầu điều tra lại từ đầu. Tuy nhiên, những điều này trong kết luận điều tra mới nhất cũng không được nhắc đến” – chị Thơm cho hay.
Sau khi kết thúc điều tra lần 2 cũng không cho gia đình được gặp cháu, chỉ một lần VKS cho phép. Theo lời chị Nguyễn Thị Thơm, cháu rất gầy yếu và bị nhiều bệnh. Cháu kêu lên với mẹ mình: “Mẹ ơi, trong này con khổ lắm!”.
Chị Thơm có hỏi cháu, tại sao lại viết đơn từ chối Luật sư, cháu Thúy trả lời: “Mẹ không biết gì cả...!”. Sau lần gặp đó, chị Thơm xin vào gặp cháu nhưng không được cho phép...”
Theo lời một nhà phân tích ở Calif., nếu chuyện này xảy ra ở các nước Mỹ-Âu là sẽ rình rang, sẽ bị các hội bênh vực phụ nữ và trẻ em kết án, vì chỉ một cú rờ mó con nít là đủ ở tù rồi -- huống gì nơi đây là 16 quan chức luân phiên hiếp dâm trẻ em rồi cho tiền, và rồi được miễn xử lý.
Người ta không hiểu tại sao cơ quan Liên Hiệp Quốc về trẻ em như UNICEF lại không lên tiếng? Hay là cũng bị mắc bẫy chân dài Hà Nội?

Giáo Hội Việt Nam trước cơn sóng dữ


Vào dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, đài phát thanh RFA đã phát loạt bài nói về tội ác của Cộng Sản tại trại giam Cổng Trời do thông tín viên Mặc Lâm thực hiện. Trong bài đầu tiên, tác giả đề cập đến chuyện bách hại xảy ra tại nhà thờ lớn Hà Nội vào mùa Giáng Sinh năm 1959. Kết quả là linh mục chánh xứ Trịnh Văn Căn (sau là Hồng Y thứ nhì của giáo hội Công Giáo Việt Nam) bị 12 tháng

Ảnh: Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo VN. Rottenburg-Stuttgart

tù treo, cha phó Nguyễn Văn Vinh cùng một số tu sĩ, giáo dân khác bị bắt đưa vào trại giam Cổng Trời và tất cả đã bỏ mình trong chốn địa ngục trần gian ấy. Điều đáng nói ở đây là thủ phạm trực tiếp của vụ bách hại chính là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo, tiền thân của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Việt Nam hôm nay, tổ chức do nhà nước thành lập này đã gây biết bao nỗi đoạn trường cho giáo hội Công Giáo, đã giúp Cộng Sản len lỏi vào hàng ngũ lãnh đạo giáo hội và hiện đang tiếp tục đóng vai trò trung gian để “nối kết” giáo hội Công Giáo và nhà nước Cộng Sản qua chiêu bài “đối thoại”. Xin bấm vào “link” để xem (và nghe) loạt bài này.

Đọc lại những trang sử viết bằng máu và nước mắt của giáo hội Miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản, những ai còn có chút lòng với Giáo Hội không khỏi cảm thấy bùi ngùi và căm phẫn cho cái chính sách tàn độc của những người Cộng Sản, từ Liên Xô qua Trung Quốc, đến Việt Nam. Và cảm thông cho cái thái độ im lặng, nhẫn nhục và bất hợp tác của các vị chủ chăn miền Bắc trong một thời gian dài. Các ngài chẳng có sự lựa chọn nào khác, vì chủ trương nhất quán của Cộng Sản là tiêu diệt Công Giáo thẳng tay, không thương tiếc, không khoan nhượng. Những giáo sĩ, giáo dân tội nghiệp kia nếu muốn trung thành với niềm tin của mình thì bắt buộc phải bước đi trên những con đường khổ nạn. Qua những kinh nghiệm đau thương, giáo hội Miền Bắc đã chín chắn hơn, hiểu rõ CS hơn và cung cách tiếp cận, ứng xử với CS cũng già dặn hơn như chúng ta thấy được qua biến cố Đồng Chiêm hay Thái Hà. Người không tán thành thì chỉ trích thái độ của các giám mục miền Bắc là “não trạng tiền Vatican” và họ cổ võ việc “đối thoại” với Cộng Sản vô thần.

Đối thoại dĩ nhiên là điều tốt, nhưng dưới chế độ Cộng Sản vô thần, không bao giờ người công giáo được đối thoại theo đúng nghĩa: nói chuyện với nhau một cách bình đẳng, không có cái cung cách kẻ trên – người dưới, kẻ vênh váo – người khúm núm; trình bày một cách thẳng thắn những gì muốn nói với nhau, và lắng nghe nhau trong tinh thần tôn trọng: nếu anh sai tôi có quyền chỉ cho anh thấy cái sai mà không hề bị anh để ý, trả thù; nếu tôi nói đúng thì anh phải thành tâm, phải sửa đổi. Nếu ngồi vào bàn chỉ để nghe người ta “lên lớp”, “hô khẩu hiệu”, còn mình thì cười cầu tài hay nói vuốt theo, mình chỉ có thể tán thành chứ không có quyền phản đối, khi ý kiến hai bên bất đồng thì họ giành quyền bác bỏ ý kiến của mình và hành động theo ý của họ thì đó không phải là đối thoại mà là mối tương quan của kẻ thống trị và người bị trị.

Giáo hội Công Giáo Việt Nam hôm nay bị chỉ trích từ nhiều phía về sự thụ động trước những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự sống còn của dân tộc, hay những tệ trạng xã hội, những bất công, nghịch lý xảy ra hàng ngày, khắp nơi trên mọi lãnh vực và xảy ra khắp mọi miền đất nước. Để biện hộ cho thái độ bàng quang, vô cảm này, người ta thường trưng ra cái lý do “giáo hội không làm chính trị”. Thoạt nghe cũng có vẻ có lý. Nhưng suy xét cho kỹ thì rõ ràng không phải vậy, mà đó chỉ là cái cớ để né tránh những va chạm với kẻ có quyền thế nhằm đổi lấy sự an toàn cho bản thân và nhận đươc những ân sủng được ban phát bằng cách này cách khác. Đồng ý là giáo hội có sứ mạng riêng, không lập đảng giành lấy chính quyền để cai trị quốc gia, hay hô hào dùng bạo lực truất phế người này, hạ bệ người kia; những việc đó không phải là ơn gọi của những người chọn con đường tu trì đang làm nhiệm vụ cai quản giáo hội. Nhưng lên tiếng trước những bất công và nghịch lý của xã hội, cổ võ cái đúng, phê phán cái sai không phải là làm chính trị. Cho dù phải chịu bách hại, phải chấp nhận hy sinh thì những người chọn con đường bước chân theo Thầy Chí Thánh cũng vẫn luôn được mời gọi làm chứng cho lẽ phải.

Xin đơn cử một thí dụ về thái độ cần phải có của những người được Thiên Chúa trao phó trọng trách dẫn dắt đoàn chiên của Ngài: Hiện nay Việt Nam là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất Đông Nam Á. Theo thống kê chính thức của nhà nước thì mỗi người phụ nữ Việt Nam phá thai 2,5 lần trong đời. Nếu kể cả những trường hợp không chính thức (phá thai chui, phá thai ở bệnh viện nhưng không ghi vào sổ hay phá thai bằng những phương pháp dân gian…) thì số lần phá thai trong đời người phụ nữ Việt Nam còn cao hơn nữa, có thể là cao nhất thế giới cũng nên. Xin được hỏi Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã làm gì trước những tội ác kinh khủng này? Điều đáng nói là xã hội (trong đó có những con chiên mà các ngài có nhiệm vụ chăn dắt) ngày càng trở nên thờ ơ vô cảm trước tệ trạng này, họ không xem đó là tội ác nữa. Hay là các ngài vô tư quá không nhìn thấy? Hội Đồng Giám Mục có dám đặt vấn đề với những người có trách nhiệm với xã hội về việc này không? có dám gióng lên tiếng nói của lương tri trước thảm cảnh hàng triệu thai nhi vô tội bị “tàn sát” hàng năm không ? hay đó là việc của nhà nước? Giáo Hội “không làm chính trị” nên không tiện đề cập đến?

Một hiện tượng bất công đang diễn ra, không thể chấp nhận được đối với những người còn lương tâm là việc Chủ tịch tỉnh, các quan chức hàng đầu trong tỉnh Hà Giang hè nhau đi mua dâm nữ sinh, mà người dắt mối chính là ông hiệu trưởng ngôi trường các em học, sau đó chính các em nữ sinh lại bị ở tù trong khi các quan vô sự. Mới đây, các cơ quan điều tra đã đưa ra kết luận là “không đủ chứng cớ” để buộc tội các quan, nghĩa là họ được “hạ cánh an toàn” trong khi hai cô bé nạn nhân nhỏ bé tội nghiệp cô thân cô thế kia vẫn đang (và sẽ) phải tiếp tục ngồi tù. Những đấng bậc có trách nhiệm về đạo đức đâu cả rồi mà không ai có tiếng nói trước chuyện tưởng như hoang đường ấy đang xảy ra trên đất nước Việt Nam ?

Những người mang sứ mệnh Ngôn Sứ trên vai đã làm gì trước cảnh hàng trăm, hàng ngàn đồng bào bị chính quyền cưỡng bức, đánh đập, xua đuổi ra khỏi mái nhà, khu đất mà tổ tiên họ bao đời vun xới để “thu hồi” đất bán cho những doanh nghiệp với giá gấp trăm, gấp ngàn lần số tiền rẻ mạt họ trả cho những khổ chủ tội nghiệp kia. Số tiền lời thì quan chức chính quyền chia nhau bỏ túi! Thật, những người dẫn dắt giáo hội đã không có tiếng nói nào cả, thậm chí khi chính những tín hữu cô đơn, đau khổ kia chạy đến cùng chủ chăn của mình để kêu cầu (trường hợp Cồn Dầu), thì nhận được câu trả lời lạnh lùng, vô cảm, vô tri: “rất tiếc, tôi không làm được gì cả… ”, và bỏ mặc đàn chiên của mình trước đàn sói dữ. Những giáo dân khốn khổ kia chưa bỏ cuộc, họ tiếp tục kêu cầu đến những cấp cao hơn: Hội Đồng Giám Mục, Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Đồng Giám Mục. Tiếng kêu của họ nhờ những phương tiện truyền thông đã vang đi khắp nơi trên thế giới. Lần này, người ta cảm thấy được an ủi cộng thêm một chút vui mừng (?) khi thấy lá thư của Giám Mục Nguyễn Thái Hợp chủ tịch Uỷ Ban Công Lý và Hòa Bình gởi cho chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng. Nhưng rồi sau khi lá thư được công bố thì những người dân vô tội kia vẫn bị đưa ra tòa, bị xử án, không có một dấu hiệu nào cho thấy nhà của họ, đất của họ sẽ khỏi bị chính quyền cướp mất, thậm chí họ còn tiếp tục chịu những đe dọa, khủng bố của nhà cầm quyền. Đến nay người ta chưa thấy một tiếng nói khác từ phía giáo quyền, mà chỉ thấy hình ảnh “hữu nghị thắm thiết” giữa giám mục của họ với ông xếp của lũ cướp ngày kia. Nếu sự “can thiệp” của hội đồng giám mục ngưng lại ở đó thì có lẽ không quá đáng khi bảo các ngài đã “đánh trống bỏ dùi”. Trong việc này, có thể một trong 2 trường hợp sau đây đã xảy ra: Trường hợp 1: Hội Đồng Giám Mục thực lòng muốn can thiệp nhưng chính quyền không đếm xỉa đến, cứ tiếp tục hành vi cướp đất của dân. Điều này chứng tỏ họ không xem Hội Đồng Giám Mục là đối tác để đối thoại, và Hội Đồng Giám Mục cũng im lặng, mặc nhiên chấp nhận cách cư xử bất công (và bất nhân) này. Trường hợp thứ 2 là thấy dư luận (trong cũng như ngoài nước) “bức xúc” quá nên các ngài cho tung ra một lá thư để cho dư luận xì xú bắp, rồi thôi. Trong cả 2 trường hợp, các vị chăn dắt Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã không làm tròn vai trò của những chủ chăn đối với đoàn chiên, tự chối bỏ vai trò làm chứng và bênh vực cho lẽ phải.

Vào cuối tháng 11-2010 đại hội Dân Chúa, được Hội Đồng giám mục cho là một biến cố trọng đại của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, vừa qua đi với lễ nghi long trọng và những bài tham luận không lấy gì làm đặc biệt, đề cập đến những vấn đề chung chung, vô tội vạ, ai cũng thấy, trong khi những điều tối quan trọng lại cố tình tránh né, lãng quên. Những vấn đề “nóng” như: sự băng hoại tột cùng nền đạo đức; niềm tin của giáo dân vào những vị đại diện Thiên Chúa bị tổn thương trầm trọng; sự can thiệp thô bạo của thế quyền vô thần vào nội bộ các tôn giáo (nói chung) và Công giáo (nói riêng); những bất công, áp bức tràn lan khắp nơi mà nạn nhân chính là những con người bé nhỏ, cô đơn mà giáo hội có bổn phận phải bênh vực; phụ nữ, trẻ gái, công nhân Việt Nam bị buôn bán như những món hàng… không hề được nêu lên trong đại hội “hoành tráng” ấy.

Đại hội dân Chúa vừa được tổ chức có rất nhiều điểm giống với cách tổ chức của những cuộc đại hội đảng: những cuộc vận động, tuyển chọn đại biểu, những thành phần “không nên cho tham dự” bị loại ra bằng cách này hay cách khác… Cho dù vị giám mục đại diện hội đồng giám mục giải thích như thế nào, cũng không thuyết phục được người tín hữu về việc dòng Chúa Cứu Thế, một hội dòng bề thế, hiện diện ở Việt Nam hàng thế kỷ nay, đã đóng góp rất nhiều cho công việc quảng bá Tin Mừng, đã đồng hành với Giáo Hội Việt Nam qua nhiều thăng trầm lại không có đại diện trong đại hội này. Điều đáng chú ý là dòng Chúa Cứu Thế không được đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam dành cho nhiều thiện cảm (nếu không muốn nói là căm ghét, muốn khai trừ) chỉ vì các cha dòng Chúa Cứu Thế không chấp nhận cúi đầu chấp nhận cái ác, không chịu im lặng trước bất công.

Nhân đề cập đến dòng Chúa Cứu Thế, xin được mở một dấu ngoặc nhỏ: Giáo dân Việt Nam ai cũng thấy sự khác thường và vô lý khi dòng Chúa Cứu Thế ở Sài Gòn muốn phong chức cho các cha, các thầy lại phải lên tận vùng Cao Nguyên mời Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh “xuống núi” để truyền chức khi mà ngay tại Sài Gòn có một hồng y và một giám mục, xa hơn thì Xuân Lộc, Bà Rịa, Phan Thiết, Mỹ Tho… nơi nào cũng có giám mục. Tại sao đi đến tận Kon Tum mời một vị chủ tế? Và không phải ngẫu nhiên khi vị chủ chăn đáng kính này cũng là một đối tượng “được” nhà nước đặc biệt chú ý vì sự khẳng khái của ngài. Chẳng lẽ không được lòng nhà nước vô thần cũng có nghĩa là không được lòng giáo quyền? có khi nhà nước chưa khai trừ thì giáo quyền đã khai trừ trước. Người giáo dân Việt Nam không dám tin điều này, nhưng trước những sự kiện hiển nhiên như vậy, xin những người có trách nhiệm hãy lý giải làm sao cho thuyết phục. Cách nay một vài năm, chú tôi, một linh mục cai quản một giáo xứ ở địa phận Xuân Lộc, đã bị giám mục địa phận cách chức, cho về ngồi chơi xơi nước dù chưa đến tuổi nghỉ hưu chỉ vì ông dám lên tiếng phản đối nhà nước lấn chiếm đất của giáo xứ ông cai quản. Trên đất nước Việt Nam còn bao nhiêu vị linh mục bị “kỷ luật” ví dám phản đối hành động cướp ngày của nhà nước như chú tôi?

Hôm trước, đọc bài Trung Quốc: Giáo hội tự trị – Việt Nam: Tôn giáo lễ hội của cha pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh thấy ngài phân tích thật đúng, tôi cảm phục những tiếng nói can đảm (và cô đơn) như vậy của cha Tỉnh, cha Đỗ Xuân Quế và một số hiếm hoi những vị chủ chăn “uy vũ bất năng khuất”. May mà giáo hội Việt Nam hôm nay còn có các ngài. Dù biết có thể sẽ phải trả giá bởi những cách trả thù hèn hạ của chính quyền, có khi phải trả bằng cả chính mạng sống của mình nhưng các ngài vẫn can đảm cất tiếng. Sống với Cộng Sản lâu ngày, các vị có trách nhiệm trong giáo hội của mình cũng bị ảnh hưởng cái bệnh “hoành tráng về hình thức, đại khái về nội dung”, nặng phần phô trương bề mặt hơn là đi vào chiều sâu của tâm linh qua các lễ hội đình đám ở các giáo xứ, giáo phận. Tôi không vơ đũa cả nắm, vì không phải tất cả các linh muc, giám mục đều như vậy, nhưng phải đau lòng nhìn nhận rằng hiện tượng phô trương ngày càng phổ biến trong giáo hội Việt Nam. Thông thường, các Giám Mục, Linh Mục cử hành lễ kỷ niệm vào những dịp ngân khánh (25 năm), kim khánh (50 năm) ngày chịu chức. Ngày nay, nhiều vị tổ chức kỷ niệm hàng năm, rất “hoành tráng”, để phô trương thanh thế, để tiêu tiền hơn là để cảm tạ hồng ân về đoạn đường đã đi qua và cầu xin ân sủng trên bước đường sắp tới.

Vài ngày nữa đây, sẽ là lễ bế mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thiết lập Giáo Hội tại Việt Nam, kỷ niệm 50 thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam, có mời đại diện nhà nước Việt Nam, nghe nói là chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Đã đến tham dự, lẽ nào lại không lên đọc diễn văn, thế là người Cộng Sản vô thần lại được dịp dùng chính diễn đàn của đại hội để hô khẩu hiệu, để dạy dỗ hàng giáo phẩm và giáo dân Việt Nam. Nghĩ tới việc đó, ai còn có lòng yêu mến giáo hội không khỏi ngán ngẩm, cay đắng và đau lòng.

Sự kiện gần đây ở giáo hội bên Trung Quốc là gáo nước lạnh dội và niềm hy vọng của những ai còn mơ hồ về “thiện chí đối thoại” những người Cộng Sản vô thần: Giáo Hội Công Giáo Hoàn Vũ, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã tỏ thiện chí muốn bắt tay với chính quyền Trung Cộng bằng những nhượng bộ quan trọng: công nhận một số giám mục, linh mục của giáo hội do nhà nước thành lập, đồng ý cho chính quyền Cộng Sản được có ý kiến trong việc lựa chọn giám mục. Thế nhưng Cộng Sản đã trở mặt: chính quyền Trung Cộng mới đây ngang nhiên phong chức giám mục không cần sự đồng ý của tòa thánh Vatican, cưỡng bách các giám mục hiệp thông với Vatican phải tham dự lễ tấn phong. Họ vừa cho mở đại hội giáo dân, đại diện chính quyền đến dự đại hội đã công khai công kích Vatican. Đại hội này đã bầu một giám mục quốc doanh làm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Trung Quốc…. Đến nỗi Đức Giáo Hoàng, người chủ trương đưa bàn tay ra hòa giải với những người Cộng Sản vô thần, dù không muốn, đã phải công khai, mạnh mẽ lên tiếng chỉ trích Bắc kinh xâm phạm trắng trợn tự do tôn giáo của người dân. Thêm một chứng cứ về sự trở mặt của Cộng Sản.

Tại sao các vị lãnh đạo giáo hội Việt Nam cứ phải đặt vấn đề “đối thoại” với “đối đầu” trong tương quan với nhà nước? Tại sao không thể cư xử với nhau bằng mối tương quan giữa những con người trưởng thành: tôi luôn luôn cố gắng đến với anh với lòng tử tế, cư xử với anh bằng tình người và anh cũng hãy cư xử với tôi trong tinh thần ấy. Nếu anh có gì sai thì tôi có quyền nói là nó sai, anh không được cưỡng bách tôi phải làm ngược với lương tâm của tôi. Nói như vậy với nhà nước có phải là “làm chính trị” không? hay là cứ phải “tốt đạo đẹp đời” mới được? và “tốt đạo đẹp đời” theo lối giải thích của Cộng Sản là gì nếu không phải là ngoan ngoãn cúi đầu “chấp hành” mọi sự áp đặt của nhà nước?

Hãy nhìn thẳng vào hiện tình của Giáo Hội Việt Nam hôm nay để thấy rằng giáo hội Công Giáo Việt Nam đang đứng trước những cơn sóng dữ. Bàn tay thuồng luồng của Cộng Sản vô thần ngày càng luồn sâu vào những hoạt động của giáo hội không khỏi làm cho những giáo dân, giáo sĩ yêu mến giáo hội lo âu. Nhưng người Công Giáo không được quyền đánh mất niềm tin. Bước qua năm 2011 chúng ta cùng thành tâm cầu nguyện cho giáo hội mẹ được thổi vào luồng sinh khí mới, luồng sinh khí của Chúa Thánh Linh. Giáo hội chính là Nhiệm thể của chúa Kitô, chúng ta xác tín rằng Ngài không để giáo hội mà Ngài đã tạo dựng bằng chính máu của mình bị dẫn dắt vào con đường lầm lạc bởi những người đã và đang thỏa hiệp với loài quỷ dữ. Xin cùng nhau nguyện cầu cho những ai đang lầm lạc được sớm thức tỉnh để quay về như đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, nguyện cầu cho họ đừng quên rằng người Cha nhân từ luôn ngóng đợi từng giờ, từng phút để được ôm đứa con yêu dấu vào lòng và nói với nó lời thứ tha khi nó thành tâm quay về…

Ngày cuối cùng của năm 2010 đầy biến động.

VQ Bỉ

© Kim Nguyên

-------------------

"Trại Giam Cổng Trời" (phần 1)

Nghe
Mặc Lâm, phóng viên RFA

2010-12-24

Trại giam Cổng Trời có lẽ là một địa danh ít người Việt biết đến trước khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc.


Một trại giam tại miền Bắc (ảnh minh họa).


Đây là nơi giam giữ các trọng tội hình sự và các tù nhân tôn giáo

"Trại Giam Cổng Trời" (phần 2)

Trong loạt bài "Trại Giam Cổng Trời" hôm nay, Mặc Lâm tiếp tục trình bày những uẩn khúc mà tín đồ cũng như tu sĩ công giáo Việt Nam gặp phải trong giai đoạn từ năm 1959 cho đến 1964.

Photo: RFA

Linh Mục Nguyễn Văn Vinh

2010-12-26


Trại Giam Cổng Trời" (phần 4 -5-6)

2010-12-27

Người tù nào mới lên tới Trại giam Cổng Trời đều có tâm trạng chung là cuộc đời mình đến đây là chấm dứt.

RFA file



Trại Giam Cổng Trời" (phần 5)
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2010-12-27

Nhiều chi tiết về các vụ bắt giữ các tù nhân cũng như hoàn cảnh của họ khi bị bắt vô Trại Giam Cổng Trời đã được phơi bày.






Một tù nhân tại trại tù miền Bắc



"Trại Giam Cổng Trời" (phần 6)
Mặc Lâm, biên tập viên RFA

2010-12-27

Một góc khác của trại giam Cổng Trời là các vụ giết người của đầu gấu mà cán bộ trại giam phải chào thua.





Photo courtesy of vietcatholicnews


Một cảnh đấu tố địa chủ trong đợt cải cách ruộng đất thập niên 1950




“BÁC” HỒ: PHÚT NÓI THẬT!


LGT: Đây là loạt bài “Phỏng Vấn Các Nhân Vật Đông Tây Kim Cổ” viết theo lối fiction (giả tưởng) nhưng lại “gần như thật” vì tác giả y cứ vào tài liệu và quá trình hoạt động của các nhân vật được phỏng vấn.

Ký giả Vịt Trời mà một trong những bút hiệu khác của nhà văn Nguyễn Thiếu Nhẫn, tác giả tập truyện best seller “Người Đàn Bà Mang Thai Trên Biển Đông”. Ông hiện là chủ nhiệm, chủ bút tuần báo Tiếng Dân phát hành ở San José.

*

Nhiều năm trước đây, lúc còn là ký giả của báo Nhân Dân, ký giả Vịt Trời có lần đã được theo Phó Tổng Biên tập Bùi Tín vào lăng “Bác” để phỏng vấn “Người”. Do đó, giữa “Bác” Hồ và ký giả Vịt Trời là sự quen biết lớn, đi lại thân tình. Cuộc đời dài 79 năm của “Bác” chứa đựng nhiều bí mật. Một số chi tiết về cuộc đời của “Bác” được các ngòi bút đàn anh của ký giả Vịt Trời viết thành truyện trinh thám, chuyện khoa học giả tưởng… rất ly kỳ, được phổ biến rộng rãi.

Cách đây 8 năm, ngày 19-5-2002, nhân sinh nhật lần thứ 102 của “Bác”, ký giả Vịt Trời đón xe Honda ôm đến quảng trường Ba Đình vào lăng viếng “Bác”, nhân tiện phỏng vấn “Người” ít câu theo yêu cầu của một số độc giả.

Lăng “Bác” được bảo vệ cẩn mật. Có hẳn một Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng. Khi ký giả Vịt Trời còn cộng tác chung với đồng chí Bùi Tín tức ký giả Thành Tín ở báo Nhân Dân, Tư lệnh Quân khu Thủ đô là Thiếu Tướng Lư Giang và Tư lệnh bảo vệ lăng là đồng chí Võ Bẩm. Tấm giấy ra vào lăng do đồng chí Võ Bẩm cấp năm xưa vẫn còn trong túi. Ký giả Vịt Trời ung dung bước vào. Thấy hàng chữ đỏ KISS ME trên giấy ra vào lăng của ký giả Vịt Trời, đồng chí vệ binh khẩn trương đưa ký giả Vịt Trời vào lăng gặp “Bác”.

-Ký giả Vịt Trời (KGVT): Xin kính chào “Bác”! “Bác” có nhận ra cháu không?

-Bác Hồ: Chào chú! À, để xem… à, chú Vịt Trời! Chú ngồi xuống đây. Bác nhớ chú rồi, trước đây chú công tác ở báo Nhân Dân. Uống với Bác một cốc nước chè xanh, Bác sống đạm bạc chẳng có gì thết đãi chú!

-KGVT: Cảm ơn “Bác”! Chỗ “Bác” cháu thân tình, “Bác” cũng chả cần bày ra cái trò ma sống đạm bạc ấy làm quái gì. Bảo cô nào phục vụ “Bác” cho cháu xin bình trà Long Tĩnh với vài lát sâm già của Bắc Triều Tiên tặng. Đi đường xa mệt bỏ mẹ!

-Bác Hồ: Được! Để Bác gọi bọn nó. Này, chú đến đây thăm Bác hay có việc gì không?

-KGVT: Dạ thưa “Bác”, cuộc đời cách mạng của “Bác” người ta đã nói nhiều rồi. Nhưng chắc vẫn còn chưa nói hết. Hôm nay xin “Bác” cho biết thêm vài điều.

-Bác Hồ: Để Bác nói cho chú Vịt Trời nghe, mấy lần trước chú đến gặp Bác đều có người đi cùng. Thế nên Bác không có dịp tâm tình với chú. Nay có hai Bác cháu mình thôi, chú muốn biết thêm điều gì cứ hỏi!

-KGVT: Dạ, cháu xin cảm ơn “Bác”. Trước tiên cháu xin hỏi về tiểu sử của “Bác”. Theo như các tài liệu của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, thì “Bác” sinh ngày 19-5-1890, có phải không ạ?

-Bác Hồ: Tài liệu thì ghi thế, nhưng Bác nói thực với chú, chính Bác đây cũng không biết Bác sinh ngày nào nữa. Thế nên khi viết thư cho chính quyền Pháp ở Đông Dương, Bác dùng một ngày tháng năm sinh khác. Khi sang Pháp, làm đơn xin học để sau này làm công chức thuộc địa, Bác lại dùng một ngày tháng năm sinh khác.

-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì cái ngày 19-5 do đâu mà có?

-Bác Hồ: Tình cờ thôi chú ạ! Chắc chú nhớ giữa tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc. Ở phía Nam có quân Anh, Ấn và quân đội Pháp được quân Anh cho nấp bóng. Mười tám vạn quân Quốc Dân Đảng do Lư Hán chỉ huy là mối đe dọa hết sức nguy hiểm, bởi vì phó tướng phụ trách về chính trị của Lư Hán là Tiêu Văn đã nhìn thấy Bác và các đồng chí xung quanh đều là Cộng sản, y cứ gườm gườm muốn ăn tươi nuốt sống bọn Bác.

-KGVT: Thưa “Bác”, vậy để tránh mối nguy đó, “Bác” và các đồng chí lãnh đạo đã làm gì?

-Bác Hồ: Bác phát động “Tuần lễ Vàng”, nói là để lấy vàng mua vũ khí đánh Pháp ở miền Nam, thật sự là để Bác hối lộ cho Lư Hán cùng hai phó tướng Tiêu Văn và Chu Phúc Thành để bọn chúng rút về cho sớm, nhường phần đất Bắc vĩ tuyến 16 cho quân Pháp vào tiếp thu.

-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì ta đuổi sói đi lại rước hổ về nhà!

-Bác Hồ: Thì đành là thế, nhưng chú nên hiểu điều này, là tuy quân xâm lăng Pháp lúc nào cũng âm mưu thôn tính nước ta nhưng ít nguy hiểm cho Đảng Cộng sản Đông Dương, cho chính quyền Việt Minh hơn là quân Quốc Dân Đảng. Bác ký hiệp định sơ bộ 6-3-1946 đồng ý cho quân Pháp để bộ lên Hải Phòng, rồi tháng 5-1946 vào Hà Nội. Để tỏ tình thân hữu với quân xâm lăng Pháp, Bác ra lệnh phải treo cờ khắp Hà Nội.

-KGVT: Thưa “Bác”, thế quần chúng có phản ứng gì với việc treo cờ đón quân xâm lăng Pháp?

-Bác Hồ: Dĩ nhiên là quần chúng thắc mắc. Nhận thấy việc này có thể gây nên làn sóng phản đối việc làm của Bác và Chính phủ, Bác và các chú Tô, chú Văn, chú Khu, chú Giám mới phao tin lên chuyện treo cờ là để kỷ niệm sinh nhật của Bác 19-5. Từ đó về sau mới thành lệ. Nói cho chú biết thế thôi, chả phải bác sinh ngày ấy đâu.

-KGVT: Thưa “Bác”, tài liệu sách vở của Đảng và Nhà nước đều nói “Bác” xuất dương năm 1911 là để tìm đường cứu nước. Vậy sao khi sang Pháp, “Bác” lại xin vào học ở Trường Đào tạo Công chức Thuộc địa?

-Bác Hồ: Sau này mới phịa ra, chứ hồi năm 1911 Bác có biết gì đâu mà xuất dương tìm đường cứu nước! Mộng của Bác lúc ấy là về nước làm một công chức cho chính quyền thuộc địa, cơm no áo ấm, hãnh diện với làng nước. Không may, đơn ấy bị bác. Cũng nhờ mấy năm ở Pháp mà Bác có được một cái tên và chụp được mấy tấm ảnh mà sau này trong một thời gian dài đã góp phần tạo thêm uy tín cho Bác đấy, chú Vịt Trời ạ.

-KGVT: Thưa “Bác”, chuyện có vẻ hay nhỉ, xin “Bác” kể cho cháu nghe với!

-Bác Hồ: Hồi ấy ở Paris có tờ báo tiếng Pháp lấy tên là “Người cùng khổ” do nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền và luật sư Phan Văn Trường chủ trương. Hai người lấy chung bút hiệu là Nguyễn Ái Quốc. Bác cũng tập tễnh viết một bài văn ngắn đưa vào cho hai vị ấy chữa lại rồi đem đi đăng, vẫn ký Nguyễn Ái Quốc. Thấy cái tên hay, sau này Bác lấy làm tên Bác luôn. Chắc chú cũng có đọc những gì Bác viết, tiếng Việt Bác viết còn chả tới đâu, nói gì tiếng Pháp. Thế nhưng sau này các chú lại nhanh trí phịa ra là Bác làm báo tiếng Pháp ở Paris. Tài thế!

-KGVT: Thưa “Bác”, hôm nay cũng chẳng phải là phỏng vấn gì, chỉ là hai bác cháu mình tâm tình với nhau. “Bác” có gì hay hay trong đời cách mạng, xin “Bác” cứ kể để cháu nghe mà học hỏi. Chuyện gì cũng được “Bác” ạ!

-Bác Hồ: Bác có cái này, kể cho chú nghe để chú học khôn. Mình vẫn có thể tự đề cao mình! Mình viết sách kể lể những chi tiết về cuộc đời cách mạng của mình, dĩ nhiên là những chi tiết ấy bịa ra sao cho có lợi cho mình.

-KGVT: Thưa “Bác”, làm thế người ta cười mình chết!

-Bác Hồ: Chú dại lắm! Biết thế nào được mà cười! Thí dụ như Bác viết “Đời hoạt động của Bác Hồ” hoặc viết “Vừa đi đường vừa kể chuyện” lấy tên Trần Dân Tiên, T.Lan. Trần Dân Tiên là ai, bao nhiêu tuổi, tác giả một quyển sách viết về cuộc đời Chủ tịch của một nước, thế mà chả ai biết ông ấy là ai! Làm sao mà biết được, khà khà, chính là Bác đây!

-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” thật là cao kiến!

-Bác Hồ: Lại chả cao! Không cao kiến mà lại làm Chủ tịch nước!

-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” về nước lần đầu năm 1941.Cứ theo tài liệu, ‘Bác” sinh năm 1890, vậy năm ấy “Bác” 51 tuổi. Mấy ông mà cháu quen biết, có ông đã hơn 51 tuổi rồi mà đêm nào cũng hát karaoké, rồi lại nhảy đầm liên miên, anh anh em em với các cô tiếp viên ngọt xớt, thế năm 1941 “Bác” mới có 51 tuổi mà sách vở nào người ta cũng gọi Bác” là ông Cụ, ông Cụ Ké. Như thế họ có xử ép “Bác” lắm không?

-Bác Hồ: Chú nói đến đâu, Bác lại giận cái lũ khốn ấy đến đấy!

-KGVT: Thưa “Bác”, ai lại cả gan làm “Bác” giận thế?

-Bác Hồ: Thật là Bác già mà còn dại chú ạ! Bác mắc lỡm cái đám tay chân của mình. Cái bọn ấy nó xúi dại Bác là cứ tuyên bố là Bác độc thân, để Bác có thêm uy tín này nọ để bịp người ta. Còn Bác thì lúc ấy nghe bọn nó nói cũng bùi tai nên nghe theo. Chứ năm ấy Bác mới ngoài năm mươi tuổi, cha già dân tộc, nghe thì hách thật, chứ thật ra nhiều đêm nó cũng… trằn trọc lắm chú ạ! Chú cũng biết Bác nào có bất lực gì cho cam! Bác cũng như mọi người thôi!

-KGVT: Thưa “Bác”, thế nhưng với quyền hành mà “Bác” có, “Bác” muốn chuyện gì thì không được, chứ chuyện “giải quyết” thì có khó gì?

-Bác Hồ: Vẫn biết thế chú Vịt Trời ạ. Thế nhưng cứ lén lén lút lút, mất cả thoải mái đi. Thà là nói huỵch tẹt ra một lần, chứ cứ nay khui ra chuyện này, mốt lòi ra chuyện nọ, Bác khổ tâm lắm chú ạ!

-KGVT: Thưa “Bác”, hồi sửa sai Cải cách Ruộng đất, “Bác” có khóc với đồng bào, xin nhận lỗi phải không ạ?

-Bác Hồ: Có! Nhưng mà chỗ Bác với chú, Bác nhắc chú nghe một chuyện hơi xưa một chút. Tào Tháo là người đa nghi, khi ngủ không muốn ai lại gần, sợ bị ám sát. Liền nói với tả hữu là mình có bệnh ngủ mê giết người, chớ nên lại gần kẽo mất mạng. Ngày kia Toà Tháo ngủ trưa, giả vờ làm rớt tấm chăn, tên quân hầu liền lại gần nhặt lên, đắp cho Tào Tháo. Tào Tháo liền lấy gươm chém chết tên quân hầu rồi ngủ lại như cũ. Tỉnh dậy, giả vờ khóc lóc thương tiếc tên quân hầu. Từ đấy về sau, khi Tào Tháo ngủ không ai dám lại gần. Bác học ở Tào Tháo cái cách khóc ấy đấy chú ạ! Thỉnh thoảng sau khi làm cái gì bậy, Bác lại khóc kiểu ấy. Thiên hạ chẳng biết đâu mà mò!

-KGVT: Thưa “Bác”, té ra “Bác” khóc kiểu ấy không phải có một lần duy nhất?

-Bác Hồ: Hồi tháng 3-1946, Bác đi ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm Pháp ký với Pháp một thỏa ước cho phép Pháp được đổ bộ lên miền Bắc để thay quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch mà “tiếp phòng” miền Bắc. Nhiều người cho rằng Bác làm như vậy là phản bội cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam đã bắt đầu ngày 23-9-1945, là bán nước. Nhưng chú nghĩ xem. Bác thì sợ quận Lư Hán hơn. Pháp vào, quân Quốc Dân Đảng rút đi, Bác mới rảnh tay tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia. Lúc Bác đi ký hiệp ước về tới Hà Nội, có một cuộc biểu tình được tổ chức ở Nhà hát lớn. Bác đứng trên bao lơn Nhà hát lớn, Bác khóc hô hố, đấm ngực thề rằng: “Tôi, Hồ Chí Minh không bao giờ bán nước!” Thế mà có khối người tin đấy chú ạ!

-KGVT: Thưa “Bác”, thế thì “Bác” đáng bậc thầy của Tào Tháo rồi.

-Bác Hồ: Chú giỏi lắm! Đời Bác đã nghe người ta nịnh nhiều rồi, nhưng chỉ có câu nịnh của chú là Bác thích nhất! Tào Tháo có khóc thì tên hầu cũng bị giết; còn Bác khóc thì Pháp đã đổ bộ lên miền Bắc, khóc lần nữa thì bao nhiêu vạn mạng người cũng đã chết trong Cải cách Ruộng đất. Nhưng không làm thế thì làm sao mà lấy không ruộng đất của dân có ruộng được!

-KGVT: Thưa “Bác” phải lắm ạ! Bác khóc lóc đâu ra đấy! Thưa “Bác” có những người xấu mồm họ nói hồi ở Trung Quốc, “Bác” chỉ điểm cho Tây bắt nhà cách mạng Phan Bội Châu?

-Bác Hồ: Chuyện cũ quá rồi chú ạ. Nhắc lại lỡ ra người ngoài nghe không tốt đâu. Để Bác kể chuyện này cho chú nghe, vui lắm! Chuyện Bác gạt được người ta mấy chục năm bằng một tấm hình.

-KGVT: Hình gì thế, thưa “Bác”?

-Bác Hồ: Hồi làm thợ chụp hình bên Tây, có một lần Bác đến nghe mấy ông Tây nói chuyện về chủ nghĩa Cộng Sản. Bác có đứng lên thắc mắc mấy câu, có chụp một tấm hình. Sau này tấm hình ấy được chú thích: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tour năm 1920.” Có thế mà gạt người ta cho đến gần đây mới bị lật tẩy.

-KGV: Lật tẩy làm sao, thưa “Bác”?

-Bác Hồ: Đảng Cộng sản Pháp cho biết trong Đại hội Tour chả có ma nào người Á châu tên Nguyễn Ái Quốc cả. Còn những người có mặt trong tấm hình ấy cũng chả hề có mặt tại Đại hội Tour.

-KGVT: Thưa “Bác”, lừa gạt người ta có gì vui đâu, mà cũng đâu có lợi ích gì?

-Bác Hồ: Lạ nhỉ! Chú không thấy chuyện lừa gạt nười khác là vui à? Có lợi lắm đấy. Chuyện Bác phịa ra Bác tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tour tạo ra một huyền thoại làm tăng uy tín của Bác.

-KGVT: Thưa “Bác”, mấy lúc sau này, cháu nghe người ta nói nhiều chuyện về vợ con của “Bác”. Họ nói “Bác” có nhiều vợ lắm?

-Bác Hồ: Bác có chính thức lấy ai đâu mà gọi là nhiều vợ. Bác là đàn ông mà! Đi đây đi đó, Bác cũng có quen biết cô này, cô kia, sống chung với nhau một thời gian có gì là sai đâu?

-KGVT: Thưa “Bác”, cháu nói nói chuyện ấy sai bao giờ đâu. Cháu chỉ lạ là tại sao các đồng chí lãnh đạo lại giấu diếm chuyện ấy thôi!

-Bác Hồ: Thật là vẽ chuyện! Bác muốn làm người thì các chú ấy lại bắt Bác làm thầy tu! Này, chú có nghe bên Liên Xô lúcnày ra sao không?

-KGVT: Thì cũng nhì nhằng thôi, thưa “Bác”. Cháu nghe có người đòi kéo xác Lênin ra khỏi Lăng ở Quảng trường Đỏ, “Bác” ạ!

-Bác Hồ: Bác cũng đang lo chuyện ấy đấy. Kéo đi đâu thì kéo cho rồi. Để mãi ngứa ngáy quá.

-KGVT: Thưa “Bác”, bị kéo xác ra khỏi Lăng là một điều tệ hại. Sao “Bác” lại muốn thế?

-Bác Hồ: Chú nhìn xem Bác đây này, cái mặt xem tròn trịa hồng hào như thế. Chú nhớ tờ tạp chí Time tháng 9-1969 không. Cái bìa in hình Bác chụp tháng 5-1969, cái mặt đâu có được như thế. Sau người ta bơm, người ta độn đủ thứ vào mới được như ngày nay. Mặt thì thế, chứ bên trong mốc hết rồi chú ạ, Ngứa ngáy lắm. Hồi đó Bác cũng dại, thấy cái Lăng của cụ Lênin ham quá. Bây giờ cả Cụ, cả Bác đều không biết sau này ra sao. Thật là vật đổi sao dời chú Vịt Trời ạ!

-KGVT: Thưa “Bác”, sau này cháu có nghe các đồng chí lãnh đạo Đảng hay nói ta lấy kim chỉ nam là Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy tư tưởng Hồ Chí Minh là cái gì vậy, thưa “Bác”?

-Bác Hồ: Lại mấy thằng vẽ chuyện. Nói nhỏ cho chú nghe cái này: Làm đếch gì có cái tư tưởng đó. Hồi Đại Hội Hai của Đảng ở Việt Bắc năm 1951, Bác lỡ miệng nói với Nguyễn Văn Trấn là Bác chẳng có tư tưởng nào cả ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác. Thì Bác có sao nói vậy, ai ngờ hắn để tâm nhớ, sau này viết trong quyển sách “Viết cho Mẹ và Quốc Hội”. Trong lúc người ta tuyên bố rầm rĩ về tư tưởng Hồ Chí Minh, tuy rằng có xạo thật, nhưng cũng làm vinh dự cho Bác, thế mà Nguyễn Văn Trấn nói thế thì có khác gì nói Đảng nói láo, nói Bác dốt đặc!

-KGVT: Thưa “Bác”, thế tại sao lại phải nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh một cách trễ tràng như vậy?
-Bác Hồ: Trước đây chú không nghe nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh, phải không? Chú thắc mắc tại sao bây giờ lại có chứ gì? Hồi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, đảng ta đứng trước một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tư tưởng ý thức hệ chủ nghĩa. Tuyên huấn Trung ương có sáng kiến tâp họp một số lời nói, bài viết, kể cả hành động của Bác để xây dựng riêng một hệ tư tưởng mới, mang tính dân tộc hơn để gần gũi hơn với quần chúng Việt Nam. Do đó mới nảy ra mấy chữ tư tưởng Hồ Chí Minh.

-KGVT: “Thưa “Bác”, thế thì có tư tưởng Hồ Chí Minh thật đấy chứ?

-Bác Hồ: Có quái gì! Tội nghiệp cho Tuyên huấn Trung ương và mấy chú lý thuyết gia khổ công tìm kiếm, hệ thống hóa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh! Cho mãi tới giờ chú có biết tư tưởng Hồ Chí Minh là gì không? Cóthấy không? Ra làm sao? Bác đây còn chưa biết là mình có cái tư tưởng đó nữa kìa. Nhưng tội nghiệp cho các chú ấy, sắp chết đuối thấy cái gì nổi trên mặt nước thì cứ vớ lấy. Thế thôi!

-KGVT: Thưa “Bác”, “Bác” và “Bác” Mao tuổi cũng suýt soát nhau, lãnh đạo hai nước ở cạnh nhau. Cháu xin hỏi thật “Bác”, công tâm mà nói thì giữa “Bác” và “Bác” Mao ai vĩ đại hơn?

-Bác Hồ: Chú nên nhớ một điều là nước Tàu rộng gấp 30 lần nước ta, dân số đông gấp 16 lần nước ta. Người ta nói Mao chủ tịch đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của mấy chục triệu người trong kế hoạch “Bước nhảy vọt vĩ đại” và “Đại Cách mạng Văn hóa”, là lãnh tụ làm chết nhiều nhân mạng nhất từ cổ tới kim trong lịch sử nhân loại. Hừ, chưa chắc!

-KGVT: Chưa chắc điều gì, thưa “Bác”?

-Bác Hồ: Cứ lấy thành tích của Bác và Đảng Cộng sản Việt Nam nhân lên 16 lần rồi đem đặt vào nướcTàu. Chưa chắc ai đã hơn ai đấy chú ạ. Cải cách Ruộng đất chỉ phát động trên miền Bắc với 20 triệu dân, nước Tàu thời Mao Chủ tịch có 800 triệu. Nhân số người chết trong Cải cách Ruộng đất lên 40 lần đi. Trong mấy năm cải cách ngắn ngủi, ở một miền Bắc nhỏ bé như vậy mà Bác còn làm được như thế thì giao nước Tàu vào tay Bác xem! Chưa biết mèo nào cắn mĩu nào đấy chú!

-KGVT: Thưa “Bác”, lúc “Bác”còn sống, trong những cuộc mít-ting quần chúng phải tung hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, lúc ấy “Bác” nghĩ gì, cảm tưởng của “Bác” ra sao ạ?

-Bác Hồ: Thì cũng như mọi người phải tung hô “Hoàng thương vạn tuế” hồi xưa vậy”. Còn cảm tưởng của Bác thì cũng giống như các ông vua khi nghe thần dân tung hô “Hoàng thượng vạn tuế” vậy thôi.

-KGVT: Thưa “Bác”, hồi “Bác” mất, cháu thấy Chú Duẫn, Chú Khu, Chú Đồng, Chú Tố Hữu khóc lóc quá mức. Chắc các Chú ấy thương “Bác” lắm?

-Bác Hồ: Ối dào! Chú mà cũng tin bọn ấy nữa à?

-KGVT: Tin chứ “Bác”! Thưa “Bác”, còn một số đồng bào cũng khóc!

-Bác Hồ: Quần chúng mà được thông tin đầy đủ như ở miền Nam hoặc các nước tự do, Bác mất, người ta còn khóc gấp mười lần nữa đấy chú ạ! Chả phải khóc bao nhiêu ấy đâu!

-KGVT: Tại sao vậy, thưa “Bác”?

-Bác Hồ: Còn sao nữa! Quần chúng sẽ vừa khóc vừa nói với nhau: “Tức thật, mãi bây giờ mới chịu chết!” Họ khóc vì tiếc đấy chú ạ!

-KGVT: Thưa “Bác”, họ tiếc thương “Bác”?

-Bác Hồ: Khỉ! Chú lại nịnh Bác nữa rồi! Chắc lại định xin Bác chức gì đây? Kìa, chú Vịt Trời, chú làm gì mà hốt hoảng thế ; chú trông thấy cái gì à?

-KGVT: Thưa “Bác” phải, mấy cái nấm mốc nó mọc đến cổ “Bác” rồi đấy “Bác” ạ!

-Bác Hồ: Bác biết rồi, chắc cũng chẳng còn bao lâu Bác cũng rời chỗ này. Cái thằng Boris Yeltsin nó mới đòi đuổi nhà cụ Lê ở Quảng trường Đỏ, nay mai thế nào lại chả tới lượt Bác! Mẹ! Đời nước lớn, nước ròng…

Ký giả VỊT TRỜI

Email: laomoc45@yahoo.com

Thursday

SÀI GÒN TRONG MẮT TÔI

Từ khi về hưu, coi như hàng năm, chúng tôi đều về Việt Nam để thăm anh chị em, bà con, bên chồng cũng như bên vợ, và đồng thời du lịch để thăm lại, hay biết thêm về những mảnh đất quê hương mà chúng tôi chưa có dịp đi. Sài Gòn là trạm đầu tiên khi đến Việt Nam, trạm dừng chân giữa các chuyến đi xa về tỉnh hay du lịch, và là trạm cuối cùng trước khi từ giả quê hương. Vì vậy, thời gian tổng cộng ở Sài Gòn cũng khá nhiều, dài nhất là trong thời gian trước khi lên máy bay trở về quê hương mới.

Với tâm tình của người xa xứ, trong những giờ phút đầu tiên khi bước ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn vẫn mang một hình ảnh đẹp trong tôi, hình ảnh kỹ niệm của một thời quá khứ xa xưa, mặc dầu đất nước đã trải qua nhiều đổi thay. Chúng tôi không để ý đến cái nóng bức, cái ồn ào, tiếng bóp còi inh ỏi nhức tai, cảnh xe cộ chạy xô bồ, khói xe mù mịt của Sài Gòn, bởi vì chúng tôi đang xúc động gặp lại người thân, tíu tít hỏi thăm nhau, trò chuyện vui vẻ, trong chiếc xe đến đón có máy lạnh, cửa kính đóng kín cách biệt với thế giới bên ngoài. Rồi khi về tới nhà, cũng trong căn phòng có máy lạnh và quạt máy suốt ngày đêm, anh chị em quay quần trò chuyện. Sau một hay hai ngày ngơi nghĩ để thích ứng với giờ giấc mới, chúng tôi bắt đầu những chuyến đi xa, Miền Tây, Miền Trung hay Miền Bắc để thăm gia đình, bà con, và du lịch.

Xen kẻ với những chuyến đi xa này, là một hay hai ngày ngắn ngủi dừng chân tại Sài Gòn, trong căn phòng có máy lạnh với nhiều tiện nghi của một căn nhà Âu Mỷ, nên chúng tôi chưa có dịp tiếp xúc nhiều với Sài Gòn.

Cuối cùng, trước khi từ giả Việt Nam, là một thời gian dài cả tuần lễ chúng tôi phải ở Sài Gòn, để thăm bà con, bạn bè, mua sắm, du lịch gần, v.v. Đó là thời gian tôi tiếp cận nhiều với Sài Gòn.

Sài Gòn ngày nay

Dĩ nhiên, Sài Gòn ngày nay có nhiều cao ốc diểm lệ, nhiều khách-sạn-5-sao, nhiều khu biệt thự sang trọng không thua nước ngoài, như khu gia cư Phú Mỹ Hưng, nhiều khu kỹ nghệ (công nghiệp) phồn thịnh, nhiều con lộ-4-làn-xe hơi thẳng tắp ở mỗi chiều xe, ngăn giữa bởi hàng cây xanh tươi đẹp, nhiều cầu vượt xoắn ốc tối tân, nhiều vòng xoay to lớn (như ở Hàng Xanh).

Bởi vì dân số gia tăng vượt quá vận tốc phát triển đô thị, nay có tới 12 triệu dân ô hợp, đằng sau cái kiến trúc phồn hoa nỗi bật của Sài Gòn, vẫn tồn tại những khu ổ chuột của giới lao động. Đường sá củ trong nội thành trở nên chật hẹp so với hơn 8 triệu xe gắn máy, hàng trăm ngàn xe du lịch đủ loại, v.v. Vì thiếu bảo quản, đường sá đầy “ổ gà”, cộng thêm các thiếu sót về hệ thống thoát nước, lụt lội xảy ra thường xuyên trên khắp Sài Gòn chỉ sau một trận mưa lớn. Các vùng đất thấp thì bị ngập lụt, không những do mưa, mà còn do thủy triều (triều cường) của Sông Sài Gòn và các rạch phụ lưu tràn qua đê. Chỉ cần ngồi trên xe khi qua các cầu thuộc trung tâm Sài Gòn cũng đủ thấy và ngửi được mùi hôi tanh của các sông rạch với màu nước đen sì lềnh bềnh rác rến, mặc dầu các bờ sông được xây bằng bê tông đẹp và kiên cố.

Cũng vì vậy, Sài Gòn nóng bức hơn 1 độ bách phân so với thập niên 1960s, vì nhà cao ốc, vì thiếu công viên cây xanh, vì xe cộ tỏa nhiệt do thiêu đốt nhiên liệu, do tỏa nhiệt của hàng mươi triệu máy điều hòa không khí được gắn ở bất cứ công sở lớn nhỏ nào của chính phủ hay thương mại, và nhà của giới trung lưu hay dưới trung lưu cũng đều có 1-2 máy.

Dĩ nhiên, hậu quả của các phương tiện tối tân kia là Sài gòn bị ô nhiểm nặng nề, ô nhiểm không khí với chất thải độc hại (CO, CO2, S, Chì, v.v.). khói và bụi bậm, ô nhiểm âm thanh với tiếng còi xe nhức tai, ô nhiểm nước sông rạch, và nước uống. Dân Sài Gòn bây giờ không ai còn dám uống nước máy đun sôi, người giàu kẻ nghèo đều dùng nước chai (như La Vie) để uống, hay nấu nướng. Ra đường, đa số các cô, các cậu Sài Gòn đều kè kè mang theo một chai nước uống.

Tôi thường đi xe bus hay rảo bộ lang thang trên khắp đường phố Sài Gòn. Có 2 điều làm tôi không hiểu.

Từ hơn 10 năm nay, ở mọi đầu ngõ hẻm nào cũng đều trương bảng “Phường văn hóa”, hay “khu phố văn hóa”, v.v. Thú thật tôi không hiểu từ “văn hóa” đơn độc ở đây nghĩa là gì, phải chăng viết tắt của chữ “nếp sống có văn hóa cao”, tức là khu phố phải sạch sẽ, con người phải tao nhã có giáo dục, có lối sống lành mạnh và văn minh. Trong hơn 10 năm qua, tôi vẫn thấy ở nhiều nơi bảng đó dựng bên đống rác dơ nhớp, trên tường viết “Cấm đái bậy”, bên trong là các quán nhậu mọi người mời ép nhau uống rượu say mèm với tiếng reo “dzô, dzô” ồn ào. Tôi không biết có sự khác biệt nào giữa “Văn hóa” và “không văn hóa”.

Tại một đầu đường gần nhà bà con của tôi, có một ngôi nhà khá lớn và đẹp, cửa đóng then gài, bên trên có bảng “Nhà Truyền Thống”. Thoạt tiên tôi nghĩ là “Nhà Truyền Thông”, tức là một trạm thông tin, trong đó có báo chí, sách v.v. cho công chúng, như các thư viện (Library) ở mỗi khu vực có dân cư, như tại xóm Calcot của tôi ở Reading Anh quốc. Nhưng sau khi hỏi cả 10 người dân Sài Gòn, 9 người không biết “Nhà Truyền Thống” là nhà gì, chỉ có một người cho tôi biết đó là nhà lưu niệm, lưu giữ những chứng tích tài liệu chiến công của khu vực có “truyền thống cách mạng”. Như vậy, đây là một loại nhà “Bảo tàng” (Museum) của khu vực. Cách viết tắt này làm tôi phải điên đầu.

Cô gái Sài Gòn

Hậu quả của môi trường ô nhiểm, người Sài Gòn bây giờ cũng ăn mặc khác xưa để thích ứng với môi trường mới.

Ngày xưa, vào thời tôi còn là sinh viên, các cô nử sinh trong chiếc áo dài trắng tha thướt, tóc thề xỏa ngang vai, chậm rải trên chiếc xe đạp hay chiếc Velo solex chạy thong thả, dưới bóng cây rạp mát của đường phố Sài Gòn. Vào thời đó, dưới mắt tôi, các thiếu nử Sài Gòn xinh đẹp làm sao, với thân hình mảnh mai, thấy rõ eo số 8 trong chiếc áo dài đầy khêu gợi, mang kính đen in rõ làn da trắng mịn của khuôn mặt.

Cô gái Sài Gòn năm 1959 và ngày nay

Còn bây giờ, các cô gái Sài Gòn chạy xe Honda vun vút, lách qua lách lại trong dòng xe hỗn loạn, đầu đội nón vải rộng vành, bên trên là mủ an toàn. Trên khuôn mặt. không biết có xinh đẹp hay không, đen hay trắng trẽo, là một khẩu trang lớn, chỉ nhìn thấy cặp mắt. Để chống nắng, các cô phải mặc áo khoát, áo dài phủ tay và mang găng, không còn thấy cái eo đẹp của cô gái dậy thì. Óc tôi vốn đầy tưởng tượng, với đà ô nhiểm này, các cô gái Sài Gòn tới một ngày nào đó sẽ ăn mặc theo lối Trung Đông, mặc dầu không theo Hồi Giáo, với chiếc mạng che mặt chỉ chừa 2 con mắt ?

Giọng nói Sài Gòn

Theo báo chí và nhiều người, trong số 12 triệu dân, “người Sài Gòn chánh hiệu” chỉ chiếm 40%, phần còn lại là dân tứ xứ, hỗn tạp, đến từ mọi địa phương của đất nước, nhiều nhất từ các tỉnh phía Bắc. Tương tự như Hố Nai của thời 1956, người di dân mang theo cả họ hàng, hay cả làng xóm, và tại Sài Gòn họ định cư và sống chung với nhau trong cùng khu phố rộng lớn, dễ thấy nhất là vùng đất mới khai khẩn chung quanh Tân Sơn Nhất, nơi trước kia vốn là đất đai thuộc khu quân sự.

Cũng dễ hiểu, Sài Gòn vốn là kinh đô kinh tế, nơi “đất hứa” của mọi người Việt nội địa, cũng như Hoa Kỳ là “đất hứa” của dân Việt hải ngoại (và nội địa nữa). Nhưng khác với Hoa Kỳ, mỗi sắc dân nhập cư ở Hoa Kỳ chỉ là thiểu số (5% tối đa), và thường chưa chiếm được ưu thế trong ngôn ngữ, chính trường và kinh tế. Nhưng ở Sài Gòn thì khác. Chỉ cần lắng nghe giọng nói khi vừa bước vào phi cảng Tân Sơn Nhất, ngồi trên taxi, trên xe bus, vào chợ Bến Thành, hay các công sở chính quyền cấp cao hay thương mại lớn, ta cũng dễ nhận biết đa số không phải “người Sài Gòn” chính gốc, và qua giọng nói (accent) ta cũng dễ nhận biết họ từ vùng hay tỉnh nào đến.

Vì vậy, giọng nói và ngôn ngữ Sài Gòn cũng biến dạng khá nhiều. Nhiều người cho rằng “giọng nói” và “người Hà Nội” bây giờ khác hẳn với Hà Nội thời trước 1954, thì Sài Gòn ngày nay cũng vậy, khác hẳn với Sài Gòn thời trước 1975. Người trong nước ít ai để ý đến sự khác biệt này, nhưng những Việt kiều như tôi, sau mấy chục năm mới về lại thăm quê hương thì nhận thấy rõ ràng, đôi khi làm tôi “shock”.

Việc từ ngữ đỗi thay là một chuyện thường tình. Chẳng hạn, có một số từ ngữ tiếng Anh của người Anh, ngay nghĩa của nó, được biến đỗi ở Hoa Kỳ, ở Úc, ở Ấn Độ, ở Nam Phi, v.v. mà chỉ có dân địa phương mới thấu hiểu. Vì vậy, những từ thông thường và dễ hiểu như “kỹ nghệ” đổi qua “công nghiệp”, “thủy triều cao” qua “triều cường”, v.v. thì không có gì phải nói, vì chúng làm đa dạng và phong phú ngôn ngữ Việt Nam. Tuy nhiên, có những từ mới tôi cảm thấy khó chịu. Chẳng hạn, trong khoa học nông nghiệp, trước kia chúng tôi thường dùng “loài Cam quít” (Citrus) để mô tả những loại cây như cam, quít, bưởi, tắc, chanh. v.v. Còn bây giờ dùng “loại cây có múi”, thấy ngộ nghĩnh ngây ngô làm sao. Trái mít, trái sầu riêng cũng có “múi” vậy. Đứng về mặt thực vật học, trái khóm, thơm cũng cấu tạo bởi các “múi”, ta đâu có thể phân loại các loài cây này trong Citrus. Ngoài ra, đọc trong báo chí, với tĩnh từ “bức xúc” thông dụng hiện nay tôi thường phì cười và hay nghĩ bậy, nhất là khi nghe các cô các bà nói. Theo đà tiến hóa và thích nghi (adaptation), cái gì không thích nghi và ít ai xử dụng thì bị đào thải. Ngôn ngữ cũng vậy. Bây giờ có ai viết hay nói “Xưởng đẻ Từ Dủ”, hay “máy bay lên thẳng”, v.v. như thời 1975 nữa đâu ?

Cách xưng hô bây giờ cũng khác xưa. Tôi thấy hơi chướng tai khi nghe các cháu tôi, vốn gốc “Nam Kỳ rặc” nhưng sinh sau 1975, xưng hô cha con với nhau bằng “Bố”, hay gọi “trái” (cây) bằng “quả”.

Ngoài ra, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nghe giới trẻ Sài Gòn gọi tôi bằng “Chú”, mặc dầu các em, các cháu này không có liên hệ tộc họ gì với tôi. Họ là sinh viên, là nhân viên trong các cơ sở thương mại hay chính quyền.

Ngày xưa khi tôi còn trẻ ở Việt Nam, hay bây giờ khi ở hải ngoại, không ai gọi tôi bằng “Chú”, ngoại trừ các con của anh tôi, hay con của các bạn bè thật “thân thích” mà tuổi tác của tôi nhỏ hơn ba mẹ chúng 5-10 tuổi. Nếu bạn bè đồng tuổi, hay hơn kém một vài tuổi, con của họ đều kêu tôi bằng “Bác”. Còn người lạ, không quen biết, thì kêu tôi bằng “Anh” (nếu tôi lớn tuổi hơn) hay nói trỏng bằng “Ông”, hay bằng “Bác” (nếu tôi đáng tuổi của bậc làm cha mẹ), hay “Cụ” (nếu tôi trên 60-70 hay hơn). Ở thôn quê Miền Tây, một số nông dân lớn tuổi thân thiết với tôi thường gọi tôi một cách thân tình là “Chú mày”, chứ không chữ “Chú” đơn độc. Như vậy, ngày xưa qua cách xưng hô, ta có thể hình dung sự liên hệ thân thích, thân tình, tuổi tác, hay địa vị xã hội.

Còn bây giờ, ngoài xã hội, trong lúc giao tế chỉ có “Anh” (cho phái nam), “Em” (cho cả 2 phái), “Cô” hay “Bà” (phái nử, tùy tuổi tác” và “Chú” (phái nam, lớn tuổi). Ngay cả các ông cụ 70-90 tuổi đều là “Chú” cả trong giao dịch. Chỉ có các Việt kiều, hay “đại gia” tuổi 70-80 thì được các cháu trong các “cà phê ôm” kêu bằng “anh” ngọt xớt để họ quên cái tuổi già có thể chết vào sáng mai. Không ai bây giờ xưng hô “Bác” với nhau, ngoại trừ khi gọi “Bác tài” (tài xế xe đò).

Tôi rất kinh ngạc khi nghe các vị Giáo Sư Đại Học gọi sinh viên mình, và các Giảng Nghiệm Viên dưới quyền mình bằng “con”, mặc dầu các vị Giảng Nghiệm Viên này chỉ kém Giáo Sư 5-10 tuổi. Cũng vậy, các vị có chức quyền đều kêu các tài xế riêng bằng “con” mặc dầu không có cách biệt tuổi tác. Tôi không biết đây là một cách xưng hô phỗ quát hay chỉ lẻ tẻ ở vài cá nhân.

Một lần tôi nhận được một email chuyển tới (forward) trong đó 2 vị cấp lớn thư từ qua lại, xưng hô “anh” và “em” với nhau. Tôi cứ tưởng 2 vị này có liên hệ bà con. Sau này, tôi khám phá thêm 2 vị này không có bà con gì cả, mà chỉ có một thời từng là đồng nghiệp, một người là “thủ trưởng” của người kia. Vào thời của tôi, thật là xấc xược nếu gọi ai bằng “Chú” khi tuổi tác của họ đáng vào bậc làm cha, làm ông của mình.

Chuyện trên xe bus

Chỉ có hai phương tiện giao thông chúng tôi thường xử dụng ở Sài Gòn là taxi và xe bus. Đối với tôi, đó là cách đi lại an toàn hơn cả. Tôi không dám ngồi đèo sau xe gắn máy 2 bánh Honda, vì tai nạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào ở Sài Gòn này.

Nhờ đi xe bus, qua các hệ thống chằng chịt đường phố Sài Gòn, tôi có dịp ngắm nhìn Sài Gòn trong chi tiết, có dịp tiếp xúc với giới bình dân, học sinh, sinh viên nghèo cùng ngồi trên xe. Tôi thích đi xe bus, vì tương đối thông dụng, cũng tiện nghi (có máy lạnh), lại rẽ tiền (chỉ 3000 đồng cho mọi đường trong nội thành Sài Gòn), lại thường xuyên, chỉ 10-15 phút có một chuyến xe trên các trục chính, như Chợ Bến Thành – Chợ Lớn (tuyến số 1), Chợ Bến Thành – Bến Xe Miền Tây (tuyến số 2), chợ Bến Thành – Gò Vấp (tuyến số 3), hay mỗi 20-30 phút trên các tuyến đi xa như Chợ Bến Thành – Bình Dương (tuyến 116). Đặc biệt tuyến xe số 38 (và còn nhiều tuyến khác tôi chưa đi), là tuyến qua nhiều khu đại học, hành khách đa số là sinh viên, ngoài máy lạnh, có máy bán vé tự động (3000 đồng/vé) và máy thối lại tiền dư, có máy tự động thông báo trạm sắp đến và chỉ dẩn cách mua vé với máy bán vé tự động. Cũng văn minh ra phết đấy chứ, kém gì nước ngoài !

Đi xe bus cũng ít bị kẹt xe hơn ngay cả trong giờ cao điểm. Lý do là xe gắn máy có thể chen lấn với xe gắn máy, với xe hơi nhà, với taxis, và có thể vượt đèn đỏ vào giờ cao điểm. Tâm lý chung của người lái xe hơi nhà, xe taxis là sợ xe mình bị quẹt trầy trụa, hay sợ bị bồi thường nặng khi gây tai nạn, nên đều nhường bước xe gắn máy, mặc cho họ tung hoành. Ngược lại, người xử dụng xe gắn máy không dám chen lấn với xe bus, và xe ben chở hàng, vì 2 loại xe lớn này nỗi tiếng là chạy “không nhừơng ai”, “chạy bạt mạng”, nên ai cũng sợ, không dám đùa với “tử thần”, ai ai cũng đều phải “xếp de”, nhường loại xe này. Nhờ vậy, đi xe bus cũng nhanh chóng, hơn cả taxis.

Trong giờ cao điểm, từ 6 giờ sáng đến 9 giờ sáng, và vào buổi chiều tan sở, hầu hết xe bus đều chật đầy người, chứng tỏ người Sài Gòn đã bắt đầu chuyển qua xe bus để đi làm, đi học, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn hiện nay, giá xăng quá mắc, 17.000 đến 20.000 đồng/lít, trong lúc đi xe bus chỉ từ 3.000 (cho 1 chặng) đến 6.000 đồng (nếu phải đổi thêm 1 chuyến nữa). Mua vé tháng thì lại càng rẽ hơn.

Vào giờ cao điểm, khi bước vào xe bus, tôi phải đứng cùng chung với nhiều người. Các cậu nam sinh hay nam sinh viên, mặc dầu thấy tôi đứng bên cạnh ghế ngồi của họ, các em này vẫn làm ngơ mặc dầu tôi đã ở tuổi “thất thập cổ lai hi”. Tuy nhiên, nếu bên cạnh tôi là một em nử sinh, thì lúc nào các em này cũng đứng dậy nhường ghế cho tôi, mặc dầu tôi từ chối bảo rằng tôi có thể đứng được, nhưng các em đều ép tôi phải ngồi. Tôi đã kinh nghiệm điều này cả chục lần đi xe bus. Hóa ra, các em nử sinh được giáo dục và áp dụng kỹ về phép lịch sự này, trong lúc các nam sinh không được giáo dục hay không muốn áp dụng?

Phải công nhận rằng các cô, cậu tiếp viên bán vé (nôm na bình dân là “lơ xe”) rất lịch sự, lể độ với hành khách. Tôi không rành đường sá, nên nhờ các cô/cậu tiếp viên thông báo khi sắp tới trạm xuống. Tôi rất hài lòng về sự lễ độ và chăm sóc hành khách, nhất là đối với người già cả.

Tìm đúng trạm xuống thì thật dễ dàng vì nhờ sự giúp đở của các tiếp viên xe bus, nhưng khi đi tìm trạm lên xe bus là một bối rối của tôi, phải sau nhiều lần tôi mới có kinh nghiệm. Quen với hệ thống xe bus nước ngoài, khi xuống trạm nào thì trạm lên phải nằm bên kia đường. Thế mà tôi tìm mải không ra. Mắt tôi cứ ngó lên các trụ đèn, các cột cao bên vệ đường để tìm bảng trạm đậu xe bus. Tôi đã đi quá xa, vẫn không tìm thấy. Tôi bèn hỏi khách bộ hành, họ bảo tôi phải đi ngược lại, tới chỗ đó đó. Tôi đi ngược lại tới đúng chỗ họ chỉ, vẫn không thấy bảng trên góc cột. Tôi bèn hỏi lần nữa. Lần này, người bộ hành chỉ tôi xuống mặt đường, bảo là đúng chỗ trạm xe bus. Thì ra, dưới mặt đường có khung vẽ đề chữ “Trạm xe buýt”, màu sơn trắng đã hoen úa qua bụi bậm và thời gian. À, thì ra người Sài Gòn ngày nay chỉ “nhìn xuống”, chứ không ai “nhìn lên” như người Sài Gòn ngày xưa, hay như tôi hiện nay.

Nhờ đi xe bus, tôi cũng khám phá nhiều điều lạ, mà tôi chưa hề nghĩ tới. Một lần, trên tuyến xe qua nhiều đại học, có máy bán vé tự động. Tôi bỏ 3000 đồng vào máy tự động và sắp nhấn nút để lấy vé, thì anh tài xế ngăn lại, anh xé từ một tập vé rồi đưa cho tôi một vé. Tôi liếc nhìn, đây là vé tháng. Về nhà, tôi thắc mắc hỏi đứa em về chuyện này. Đứa em cười và nói “Lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ, trong thời buổi kinh tế thị trường mà sống theo đồng lương cố định thì chỉ còn có chết đói”. Em tôi giải thích. Vé tháng thì rẽ hơn 3000 đồng, nhất là đối với sinh viên có chánh sách giúp đở hẳn hòi. Người tài xế chỉ cần mỗi ngày móc nối mua một vài tập vé tháng dành cho sinh viên, rồi bán lại cho hành khách, thì sự khác biệt giữa giá cả của 2 loại vé này có thể mang thêm lợi tức cho gia đình tài xế. À ra thế! Chỉ có lươn lẹo một chút mới có thể sống, mà không thiệt cho cá nhân nào cả (chỉ thiệt cho hảng xe).

Cũng nhờ đi xe bus, chung đụng với giới bình dân, nghèo khó, tôi thường hỏi chuyện với người bên cạnh. Chỉ qua hình dáng, ăn mặc và cách nói, ai cũng biết tôi là Việt kiều, vô hại, nên thả giàng tâm sự. Một chị cho tôi biết chị ở tuổi 40, nhưng có nét khắc khổ của người trên 50. Chị gốc người nhà quê trong tĩnh Vĩnh Long, quá khổ cực với ruộng đồng, chị bỏ xứ lên Sài Gòn cách đây 20 năm. Tại Sài Gòn, chị gặp anh cũng bỏ xứ Tây Ninh. Chồng chị chạy xe ôm. Ngày nào ế ẩm, kiếm được 40.000 đồng (2 đô) là mừng, ngày nào có nhiều khách kiếm tới 120.000 đồng (6 đô). Anh chồng kiếm được bao nhiêu đều cắt củm gởi tiền về Tây Ninh nuôi cha mẹ già. Anh không đóng góp đồng nào với chị, mặc dầu chị cung cấp 2 buổi ăn trưa và chiều. Về phần chị, nhờ khéo tay, chị bán hoa và cung cấp “lẵng hoa” cho những ai đặc hàng. Chị nói tiếp: Những ngày rằm và mồng một là những ngày mang nhiều lợi tức vì ngày nay người nghèo đến chùa cầu xin phước lành, người giàu đi chùa cầu xin giàu hơn, chồng con giữ vững vàng “chiếc ghế”. Tuy nhiên, theo chị, nhờ Sài Gòn sống theo văn minh mới với văn hóa “lẳng hoa”, nên chị mới có thể nuôi chồng và đứa con gái đang học lớp 12. Tôi ngạc nhiên hỏi về “văn hóa lẳng hoa”. Chị cho biết ngày nay lớn nhỏ, giàu nghèo gì, ai ai cũng đều tổ chức lớn tiệc “đầy tháng”, “thôi nôi”, “sinh nhật”, “thượng thọ”, ngoài ra còn có các ngày lễ kỹ niệm của Đảng, của Nhà nước, ngày phụ nữ, ngày nhà giáo, ngày của Mẹ (Mother day), v.v. là những ngày cấp dưới phải nghĩ đến cấp trên, ngoài “phong bì”, “quà cáp”, phải có một “lẳng hoa”. Ngoài ra, ngày tốt nghiệp, ngày được thăng chức, chúc mừng nhau tối thiểu cũng một “lẳng hoa”, mà bây giờ, khi ra khỏi ngõ thì gặp toàn “Tiến sỉ”, “Thạc sỉ”, “Cữ nhân”, nên dịch vụ trồng hoa và cung cấp “lẳng hoa” trở thành một “công nghiệp”.

Tôi hỏi chị là có ý định trong năm tới cho con gái học đại học không. Chị bảo là bây giờ học đại học tốn kém lắm, nhưng dầu có nghèo gì đi nữa chị cũng cho con gái vào đại học, may ra mới có cơ hội thoát được cảnh nghèo.

Trong một chuyến khác, người ngồi kế bên tôi là một cô gái trẻ, không đẹp, vẻ mặt thông minh và dễ thương. Cô ta gọi tôi bằng “chú” và xưng “con”. Tôi hỏi cô ta có phải là sinh viên không, bởi vì tôi muốn tìm hiểu về giới sinh viên Việt Nam. Cô cho biết là vừa tốt nghiệp Đại Học về Kinh Tế/Ngân Hàng cách đây mấy tháng. Cô ta đang chạy tìm việc làm một cách vô vọng. Theo cô, thì trước đây 9-10 năm, ai tốt nghiệp bằng này đều có công ăn việc làm tốt, trong các xí nghiệp nội địa hay công ty nước ngoài. Vì vậy, cha mẹ bắt cô theo học ngành này. Bây giờ, nhu cầu đã bảo hòa, không xí nghiệp ngân hàng nào thuê nhân viên mới. Tôi hỏi thêm là ở các ngành nghể khác có dễ tìm việc không. Cô ta trả lời là dễ hay khó là tùy hoàn cảnh mình. Ngoại trừ các công ty nước ngoài tuyển chọn nhân viên theo khả năng, dựa vào bằng cấp, đậu cao hay thấp, dựa vào đại học có nổi tiếng hay không, và phải qua phỏng vấn tuyển lựa sát hạch khả năng rất khắc khe. Còn muốn vào làm ở các công ty xí nghiệp thuộc quốc doanh thì không khó nếu ta thuộc giới “có quyền” hay “có tiền”. Tôi hỏi cô ta thêm nếu không tìm được việc làm thì sao. Cô ta nói là cha mẹ cô bảo cô tiếp tục học “Thạc Sỉ” (Master) ở các đại học nước ngoài tại Sài Gòn, may ra có cơ hội dễ cạnh tranh tìm được việc hơn. Vì vậy, Sài Gòn cũng như Việt Nam hiện nay đang lạm phát với những cơ sở giáo dục “cấp đại học” và “sau bậc đại học” của nước ngoài. Qua báo chí, những đại học có nguồn gốc nước Anh ở Sài Gòn được quảng cáo mang danh như “Đại học London”, “Đại học Oxford” vốn là những Đại học nỗi danh của Anh quốc. Thật sự, các đại học mang danh trên đã “treo đầu heo bán thịt chó”, chỉ là các trường dạy nghề Polytechnic vô danh ở các quận thuộc London, Oxford hay ở nhiều tỉnh nhỏ khác trước 1990, nay được nâng lên thành Đại học Cộng Đồng, thâu nhận sinh viên không đủ tiêu chuẩn học lực để học ở các đại học chính thống. Các University chính thống thật sự của nước Anh chỉ dạy sinh viên ngoại quốc tại nước Anh mà thôi, chứ không có mở chi nhánh tại Việt Nam hay ở nước khác. Tuy nhiên tại Việt Nam mang bằng cấp nước ngoài dầu bản chất thế nào vẫn có giá trị hơn?


Trần Đăng Hồng

 
Design by Việt Ly Hương |FreePolitic - |
Site Meter