Friday

Đừng bốc phét nữa

Cái nhìn của người trong nước về tương Giáp.

Đừng bốc phét nữa

Thoạt đầu tôi định chỉ viết một lời bình sau khi đọc Thời thanh niên sôi nổi của chị Đoan Trang trên ĐCV, nhưng e rằng sẽ không đủ ý, đành viết bài này vậy.

Tôi là một gã Bắc kỳ. Từ lớp vỡ lòng đến đại học tôi được học dưới cái gọi là “mái trường XHCN”. Anh tôi là một bộ đội phục viên. Cháu ruột là đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh đang tại chức. Tôi đi nghĩa vụ quân sự 3 năm, mang quân hàm trung úy, chức đại đội phó, có tham gia một vài trận đánh ở chiến trường Campuchia.

Dài dòng một chút để các bạn hiểu: tôi không liên hệ gì đến Việt Nam Cộng Hòa. Tôi không hận thù, không chống cộng. Tôi chỉ muốn được chia sẻ chút suy nghĩ của mình trước những thậm từ mà thiên hạ đang sử dụng để tung hô tướng Giáp: “mãi mãi là một biểu tượng sống động của trí tuệ”; “Thiên tài quân sự”; “Đại trí, đại nhân, đại dũng”; “Vị tướng huyền thoại”; “Nhà quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại”; “Một nhân cách lớn”.

Có thiệt vậy không?

Những Điều Tận Mắt

Khoảng đầu năm 1983, ông Giáp đến thăm một trường đại học. Khi đó ông đã thôi chức Bộ trưởng quốc phòng, đang là Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch. Tôi thấy ông vẫn mặc quân phục, mang quân hàm đại tướng. Bọn sinh viên chúng tôi đang ở tuổi trên dưới 20, rất ngưỡng mộ ông, kéo đến nghe ông nói chuyện. Không ngờ những bài phát biểu của ông rất nhạt, chung chung, vô thưởng vô phạt, với những sáo ngữ mòn cũ, giáo điều thường thấy trong các nghị quyết của chi bộ, chi đoàn như là Đảng ta, nhân dân ta anh hùng, quân đội ta anh dũng, thực hiện di chúc thiêng liêng của Bác Hồ, quyết tâm, vượt mức, lập thành tích, quán triệt, phát huy,…

Không có gì sắc sảo, mới lạ. Màng nhĩ của tụi tôi bấy giờ đã khá quen với những ý tưởng và ngôn từ của các giáo sư đại học thời Tây còn lại, hoặc những vị cỡ như Bùi Tín nói về thời sự quốc tế, Trần Quốc Vượng nói về Hà nội học, hay Xuân Diệu bình thơ. Vì thế nghe tướng Giáp nói xong chúng tôi thất vọng quá. Sau này tôi lại thấy mỗi khi đi thăm các cơ sở, ông Giáp đều bắt đầu lời phát biểu kiểu như: Thay mặt đ/c Lê Duẩn uỷ viên BCT tổng bí thư…, đ/c Trường Chinh ủy viên BCT chủ tịch hội đồng nhà nước…, đ/c Phạm Văn Đồng ủy viên BCT, chủ tịch hội đồng chính phủ, và các đ/c khác trong trung ương… tôi xin gởi lời thăm đến các đồng chí…

Thì ra ở đâu ông cũng ăn nói na ná như nhau.

Ngày 30 – 4 -1995, kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam. Năm chẵn, nên tổ chức rất hoành tráng ở t/p HCM. Truyền hình Mỹ chiếu trực tiếp lễ duyệt binh, có phần phỏng vấn tướng Giáp và tướng Westmoreland. Ý họ là để cho hai vị tướng đã từng đối đầu ở chiến trường có dịp trò chuyện với nhau. Sau lời phát biểu khá khiêm tốn của tướng Westmoreland, đến lượt tướng Giáp – ông nói đại ý rằng chúng tôi vô cùng tự hào vì Việt Nam là một thuộc địa nhỏ bé nhưng đã đánh thắng được hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Một thiên tài quân sự, một chính khách lỗi lạc, một nhà ngoại giao tài ba, mà lại phát biểu như vậy sao. Tôi tự hỏi.

Từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò

Ngày 22-11-1944, ông Giáp cùng với 34 chiến sĩ đã qua một cơn chuyển dạ đớn đau, rồi sinh hạ QĐNDVN duới gốc đa Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang. Đến tháng 5-1948, tức 3 năm rưỡi sau, ông Giáp được ông Hồ Chí Minh phong cho chức Đại tướng. Khi ấy ông Giáp mới 37 tuổi. Riêng điều này thì “huyền thoại” thiệt. Cả thế giới đến nay mới xuất hiện hai đại tướng được phong vượt 17 cấp bậc như thế! Ông Giáp ở Bắc Việt Nam, và Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên! Từ đó người ta gọi ông Giáp là “tướng Giáp”. Ông giữ những chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh QĐNDVN cho đến năm 1982.

Vào cuối thâp kỷ 60, trước và sau khi ông Hồ chết, nội bộ ĐCSVN xảy ra “Vụ Án Xét Lại Chống Đảng” do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phát động. Ông Giáp trở thành đích ngắm của vụ án, nhưng ông lại không bị đánh trực tiếp, mà đòn hiểm lại nhằm vào những người đồng chí trung thành của ông ở chiến dịch Điện Biên Phủ: Thượng tướng Chu Văn Tấn tư lệnh Quân Khu Việt Bắc, Thiếu tướng Đặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần, Tướng Lê Liêm một ủy viên đảng ủy, Trung tướng Trần Độ chỉ huy đại đoàn 312, mũi tấn công chính vào sở chỉ huy Pháp, và là người tiếp nhận sự đầu hàng của tướng de Castries, Đại tá Đỗ Đức Kiên cục trưởng tác chiến, Đại tá Phạm Quế Dương, ông Hoàng Minh Chính, và nhiều người khác nữa. Tất cả bị vu cáo cùng một tội “chống đảng, xét lại, làm gián điệp cho nước ngoài”. Điều trớ trêu là tướng Giáp biết rõ là ngụy tạo, nhưng ông không bao giờ mở miệng, hoặc có một động thái nào để bảo vệ, hay giúp đỡ những người bạn cũ đang bị đối xử rất tàn ác.

Đại hội Đảng V – 1982, ông Giáp bị đưa ra khỏi bộ chính trị, mất chức bộ trưởng bộ quốc phòng, và được “phân công” về làm trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch. Thực chất đây là một vụ cách chức, hay nói trắng ra là ông Lê Đức Thọ đã hạ nhục ông Giáp một cách không thương tiếc. Ông Giáp vẫn không có một hành động gì dù nhỏ nhất như là từ chức, xin về hưu để tỏ thái độ, và giữ gìn khí tiết của một người làm tướng. Ông tỏ ra như một đứa con ngoan vâng lời cha mẹ. Dân Bắc kỳ phải ngán ngẩm mà than rằng:

Xưa làm bộ trưởng quốc phòng

Nay làm bộ trưởng đặt vòng tránh thai

Hay:

Bác Hồ nằm ở trong lăng,

Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng, giật mình

Rằng giờ chúng nó linh tinh

Tuổi tên của mình chúng ném xuống ao

Ao nào thì có ra ao

Cái tròn cái méo, cái nào cũng sâu

Hỏi rằng tướng Giáp đi đâu

Dạ thưa tướng Giáp… lo khâu đặt vòng.”

Một bài vè khác thì chẳng còn úp mở gì:

Ngày xưa đại tướng cầm quân

Ngày nay đại tướng cầm quần chị em

Ngày xưa đại tướng công đồn

Ngày nay đại tướng công l… chị em.

Khi hai ông Duẩn – Thọ về thăm Bác, tưởng rằng vòng kim cô trên đầu tướng Giáp sẽ được gỡ ra. Nhưng không, nó còn bị siết chặt hơn bởi một cặp bài trùng mới: Đỗ Mười – Lê Đức Anh (được biết đến là MA, viết tắt từ Mười – Anh). MA đã giáng một đòn trực tiếp vào ông Giáp với một bản cáo trạng gồm 8 tội danh:

1. Ông Giáp từng là con nuôi của chánh sở mật thám Đông Dương, Louis Marty.

2. Ông Giáp cầm đầu vụ án Xét Lại Chống Đảng từ năm 1957-1958.

3. Ông Giáp bán bí mật quân sự cho Đại Sứ Liên Xô Serbakov.

4. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Giáp hèn nhát, sợ chết quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài. Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch.

5. Ông Giáp nhận định tình hình kém, vội vàng giải tán 80.000 quân, để khi Pháp – Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ.

6. Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội, nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn.

7. Ông Giáp hèn nhát, sợ B-52 của Mỹ rải thảm, nên không đi B (chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975).

8. Ông Giáp đã có vợ, nhưng lại ăn nằm với một phụ nữ đã có chồng. Cô này đến nhà riêng ông Giáp dạy đàn piano.

Đỗ Mười kết luận phải khai trừ ông Giáp ra khỏi ĐCSVN. Lê Đức Anh nương tay hơn, chỉ gạt ông Giáp ra khỏi ghế “ủy viên trung ương” – một vị trí an ủi mà thời Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vẫn còn bố thí cho ông.

Người ta ví von rằng trận đòn mà MA đánh ông Giáp cũng giống như trận đòn mà Đặng Trần Thường đánh Ngô Thì Nhậm ở Quốc Tử Giám cách đây 200 năm. MA đánh Giáp bằng những tội danh rất hiểm. Thường đánh Nhậm bằng roi tẩm thuốc độc. Nhậm đau lắm nhưng vẫn đối đáp khí khái, ăn miếng trả miếng, bảo vệ được thanh danh, để lại tiếng thơm cho đời sau. Còn tướng Giáp thì vẫn nhũn như con chi chi, nhịn nhục, không dám nói năng gì. Có phải lòng kiêu hãnh của một vị đại tướng đã thành gỗ đá, không bao giờ bị thương tổn?

Có người lại bảo ông Giáp phục kích, chờ cơ hội. Đúng, ông Giáp đã chờ cho đến khi cả hai ông MA đã vào tuổi 90, sức khỏe cạn, quyền lực hết, không còn ảnh hưởng nhiều đến phong cảnh chính trị Việt nam thì ông Giáp mới dám mở miệng để đòi lại danh dự. Tiếc thay, tướng Giáp chỉ đòi công lý cho cá nhân ông, còn những đồng đội trung thành của ông ở Điện Biên Phủ ông chẳng hề bận tâm.

Dân Hà nội thì đàm tiếu rằng con đường tòng chính của tướng Giáp đầy gian nan vất vả, ông đã hành quân qua một chặng đường dài từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà Bò. Cây Đa Nhà Bò là một trạm hộ sinh nằm trên phố Lò Đúc, Hà Nội, dành cho những phụ nữ thuộc giới bình dân, chuyên đỡ đẻ, nạo phá thai, khám phụ khoa, thông vòi trứng, hút điều hòa kinh nguyệt, điều trị rong kinh huyết trắng. (Ngẫm ra, dân Hà Thành thâm thiệt!)

Viết về tướng Giáp mà không phân tích một trận đánh do ông chỉ huy, thì rất là thiếu sót. Tôi quyết định chọn trận đánh cuối cùng trong cuộc đời cầm quân của ông. Đó là một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng đẫm máu giữa hai người anh em cùng ý thức hệ cộng sản: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐND) do tướng Giáp chỉ huy và Hồng Quân Trung Hoa (HQTH) do tướng Dương Đắc Chí là tư lệnh.

Cuộc chiến Việt – Trung tháng 2-1979.

QĐND hoàn toàn bị bất ngờ:

Để trừng phạt Việt nam, HQTH đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, bao gồm 300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối, hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay phía sau.

Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng HQTH đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công. Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp trung đoàn, hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ, và ngày giờ khai hỏa của đối phương, nói gì đến tình báo chiến lược.

Mờ sáng ngày 17-2-1979, HQTH tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1.400 Km, trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

Việt nam hoàn toàn không hay biết gì. Khi HQTH tràn qua biên giới, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và đại tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng, đang thăm viếng xứ Cao Miên. Dân chúng không được thông báo trước, trẻ em, người già, và phụ nữ có thai, không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa. HQTH đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngọan mục. Không hiểu tướng Giáp biện minh thế nào cho việc không hay biết gì về giờ nổ súng của đối phương.

Thất bại về tình báo và nhận định tình hình:

Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia. Đặng đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông, phải dạy cho chúng một bài học. Có lẽ vì lời của Đặng quá khiếm nhã, báo chí Trung Quốc chỉ dùng nửa sau của câu nói.

Ngày 28-1-1979, Đặng thăm Mỹ, và tuyên bố “Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, “Trung Quốc kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam”. Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ. Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước cộng sản sẽ nổ ra.

Sau 3 ngày thăm Mỹ, Đặng đến Nhật. Tại đây, Đặng vẫn giọng điệu hung hăng “để trừng phạt Việt nam, dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động”; “không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”, “Đối phó với loại người vô ơn như thế, không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả”. Các nhà ngoại giao Nhật ngạc nhiên vì lời lẽ và thái độ phi ngoại giao của Đặng.

Cũng khoảng thời gian này, TASS – hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Trung Quốc đang áp sát biên giới Việt–Trung.

Từ Nhật về, Đặng chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17-2. Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ (1962); không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi trên duới 50 cây số từ biên giới.

Bằng chứng Đặng sẽ trừng phạt Việt nam đã rõ như ban ngày, nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam tin rằng Trung Quốc là một nước XHCN anh em, và nhân dân Trung Quốc yêu chuộng hòa bình, sẽ không ủng hộ chiến tranh. Trung Quốc sẽ không tấn công, hoặc nếu có thì chỉ từ cấp sư đoàn đổ lại.

Thiếu tin tình báo, nhận định và phân tích tình hình sai, không nắm được thời điểm nổ súng, thời gian, không gian, và quy mô chiến dịch của đối phương, đã dẫn đến việc tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới. Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, và một vài trung đoàn độc lập.

Một thất bại về chiến thuật:

Kế hoạch hành quân của Trung Quốc chia làm 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: từ 17-2 đến 25-2, phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam, làm chủ thị xã Cao Bằng, Lào Cai, và hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, để mở đường cho cuộc tấn công vào Lạng Sơn.

Giai đoạn 2: từ 26-2 đến 5-3, chiếm được thành phố Lạng Sơn, và hai thị trấn Sa Pa va Phong Thổ.

Giai đoạn 3: từ 5-3 đến 16-3, bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên giới, trước khi rút về.

Ngày 21 tháng 2, khi chiến dịch đang diễn ra rất ác liệt, tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã tiến về bờ biển Việt nam. Cầu hàng không của Liên Xô giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria đã chở vũ khí tới Hà Nội.

Trước tình hình đó ngày 23-2-1979, Đặng sợ Liên Xô nhúng tay, nên lên tiếng về “cuộc chiến sẽ giới hạn trong vòng 50 km, và sẽ rút quân trong 10 ngày tới. Rõ ràng Trung Quốc không có ý định tấn công vào Hà nội. Họ chỉ ba hoa rằng “ăn sáng ở Lạng Sơn và ăn tối ở Hà Nội.”

Việt Nam lại tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài, và Hà nội sẽ bị tấn công. Từ nhận định sai lầm này mà dẫn đến việc dồn hết công sức, và tâm trí vào việc xây dựng “Phòng Tuyến Sông Cầu”, để cố thủ Hà nôi. 7 tỉnh biên giới gần như bị bỏ ngỏ, phải tự chiến đấu trong tuyệt vọng, tự gánh vác lấy sức nặng của cuộc chiến, không được chi viện. Trận chiến tại Đồng Đăng là một thí dụ:

Đồng Đăng là một thị xã nằm sát biên giới Việt-Trung, cách thành phố Lạng Sơn 14 Km về phía Đông Nam. Trận đánh bắt đầu sáng 17-2 và là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, thuộc sư đoàn Sao Vàng, QĐND. Phía Trung Quốc dùng 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh, (Tương quan lực lượng là khoảng 10 đánh 1). Pháo đài Đồng Đăng tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã, (Pháo đài này được Pháp xây dựng rất kiên cố, vì ở đây đã diễn ra khá nhiều va chạm đẫm máu giữa Pháp và nhà Thanh trước đây). Việt nam chỉ có 2 tiểu đoàn trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không hề được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được 22 ngày đêm. Cuối cùng HQTH cũng đã làm chủ được khu vực bên ngoài Pháo Đài, nhưng Trung Quốc không gọi được đối phương cố thủ bên trong ra đầu hàng. Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, phun chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn. Khi chiếm được Pháo đài Đồng Đăng, HQTH đã dùng 10 tấn thuốc nổ để phá hệ thống cố thủ này.

Việt Nam lúc đó đã có ít nhất 5 sư đoàn đang ở miền Bắc, trong đó có sư 308 – là một sư đoàn thiện chiến đã từng đánh ở Điện Biên Phủ và Khe Sanh. Nếu 5 sư đoàn này được tham chiến vào buổi bình minh của cuộc chiến thì tình thế sẽ hoàn toàn có lợi cho phía QĐND. HQTH không thể tiến sâu vào lãnh thổ VN, không thể làm chủ được thời gian, không thể đạt được những những mục tiêu như họ muốn, và họ sẽ không có lý do gì để tuyên bố là “Chiến Thắng”. Đây là một sai lầm mang tính chiến thuật mà tướng Giáp và bộ tổng tham mưu của QĐND phải chịu trách nhiệm.

Một kết thúc mập mờ dẫn đến một sai lầm chiến lược:

Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của sư đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hỏa lực, ngày 4-3-1979, Lạng Sơn thất thủ.

Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang, và quyết định rút quân.

Cùng ngày 5-3, Việt nam phát lệnh “Tổng Động Viên”. Những quân đoàn chủ lực của QĐND có xe tăng, pháo binh, và không quân từ chiến trường Campuchia trở về, cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc, Việt Nam đã vào vị trí vây hãm HQTH. Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích, mà phần thắng sẽ thuộc về tay QĐND.

Nhưng tiếc thay, Việt Nam lại tuyên bố “Thiện Chí Hòa Bình”, rằng truyền thống ông cha ta… rằng lòng cao thượng… rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta … , Việt Nam sẽ để cho HQTH rút quân an toàn.

Sự thực trên đường rút quân, HQTH vẫn chém giết, vơ vét, và phá hoại. Vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại Đổng Chú, huyện Hòa An, Cao Bằng là một thí dụ. HQTH đã dùng búa, dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, 20 trẻ em, và 2 người đàn ông, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối. HQTH có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở, chiếm giữ những điểm cao quan trọng, và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui.

QĐND đã không tổ chức những trận đánh cấp tập, vu hồi, tạt sườn trên đường rút quân của HQTH. Kết thúc cuộc chiến một cách mập mờ, nửa vời, đánh rắn giữa khúc, nửa nạc nửa mỡ. HQTH coi thường ý chí và kinh nghiệm chiến đấu của QĐND, và còn mỉa mai rằng chưa được “vuốt râu cọp”. Họ không tôn trọng danh tiếng của một đạo quân thiện chiến.

Quyết định “Thiện Chí Hòa Bình” của Việt Nam hình như là một thái độ thủ hòa, nhưng hòa vào một thế vô cùng bất lợi. Từ đó, trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới, Trung Quốc luôn ở thế kẻ cả, áp đảo, và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ. Đây là hệ luỵ từ sai lầm mang tính chiến lược do tướng Giáp và Bộ tổng tham mưu gây ra.

“Anh Đặng”

Đặng Tiểu Bình là người đã phát động cuộc chiến đẫm máu, man rợ, gây ra bao nhiêu đau thương và dẫn đến những hệ lụy cho đất nước Việt Nam nhiều năm sau đó. Đặng đã từng gọi lãnh đạo của Việt Nam là “những thằng du côn của phương Đông”, “lũ tiểu bá”, “đám vô ơn, bội bạc”. Thế mà 10 năm sau, khi những vết thương trên thân mình Tổ Quốc vẫn còn đang chảy máu, ngày 3-9-1990, ba ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng bí mật đến Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên, hy vọng được yết kiến Đặng Tiểu Bình. Đặng không gặp, để cho hai đàn em Giang Trạch Dân và Lý Bằng tiếp. Cả ba ông Linh, Mười, Đồng rất tiếc vì đã không gặp được “anh Đặng”. Ông Võ Văn Kiệt ở nhà cũng tiếc hùi hụi, phàn nàn rằng “nếu có anh Đặng, thì anh Tô (Đồng) mới nên đi.”

Kẻ tử thù của của nhân dân Việt nam, nay được các nhà lãnh đạo Việt Nam gọi bằng “ANH” thân thiết qúa.

Cũng khoảng thời gian đó, tướng Giáp đến thăm Trung Quốc, và xin được gặp tướng Dương Đắc Chí – tổng tư lệnh trong cuộc chiến biên giới với Việt Nam năm 1979. Nhưng Dương tướng quân từ chối, nói: “Đời nào tôi lại gặp ông ta. Mộ của các cán bộ chiến sĩ vẫn còn chưa xanh cỏ!”

Chỉ vài thông tin để các bạn thấy được cái gọi là “Đại trí, Đại nhân, Đại dũng” của những lãnh tụ cộng sản Việt Nam, trong đó có Đại Tướng Võ Nguyên Giáp.

(Trong bài này tôi có tham khảo tài liệu của các tác giả Bùi Tín, Trần Quang Cơ, Trần Vũ,

và Bharat Raksha và trang mạng Talawas. Tôi cảm ơn các tác giả kể trên).

Tháng 3, 2011

© Trần Hồng Tâm

Động đất mạnh tại Nhật Bản 8.9 độ

Động đất mạnh tại Nhật Bản 8.9 độ và gây ra sóng thần lớn đe dọa khắp Thái Bình Dương, California cảnh giác sóng thần
Thursday, 10 March 2011 23:11

Vào lúc 1:10 phút, theo ghi nhận riêng của báo Cali Today, California chính thức báo động cảnh giác sóng thần tại nhiều thành phố duyên hải trên hệ thống truyền hình CNN.
Cali Today News – Theo nguồn tin mới nhận, một trận động đất 8.9 độ (theo Sở Địa Chấn Hoa Kỳ, nhưng cơ quan địa chấn Nhật đo lường ở mức 8.4 độ) đã xảy ra ngoài khơi bờ biển đông bắc Nhật Bản vào ngày hôm nay, thứ sáu, đã gây ra sóng thần cao đến 4 mét, cuốn theo ra biển nhiều xe cộ, tòa nhà và tàu bè.


Cảnh tương đáng sợ nhất là những trận hỏa hoạn kinh hoàng bùng nổ do động đất gây ra đã bùng phát lan tràn và ngoài sức khống chế của cả vùng duyên hải Nhật Bản. Ngay cả ở Tokyo, nhiều toà nhà cao tầng cũng bốc cháy.
Nhiều tòa nhà trong vùng rộng lớn rung chuyển đáng sợ trong suốt trận động đất chính và nhiều trận hậu chấn sau đó.
Theo các phóng sự truyền hình của Nhật, thì đã xảy ra nhiều trận lụt lội nghiêm trọng, và nước cuốn theo nhiều xe, nhà. Một chiếc tàu lớn cũng bị sóng thần cuốn trôi tại Kesennuma, ở Miyagi.


Tuy các giới chức trách nhiệm đang cố gắng thống kê thiệt hại, nhưng còn quá sớm để có những con số chi tiết.
Sau trận động đất chính, còn có nhiều hậu chấn mà có trận còn có độ lớn đến 7.4 độ.
Theo ông Junichi Sawada, một viên chức của Sở Quản Trị Thiên Tai và Hỏa Hoạn của Nhật Bản thì “Đây là một trận động đất lớn ít khi xảy ra, và mức thiệt hại có thể gia tăng theo từng phút.”
Chính quyền còn công bố lệnh cảnh giác sóng thần cho toàn vùng duyên hải Nhật Bản. Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương đặt tại Hawaii còn tuyên bố rằng lệnh cảnh báo sóng thần còn có hiệu lực cho nhiều nước như Nhật, Nga, quần đảo Marcus, và vùng đảo Bắc marianas. Cảnh báo sóng thần cũng loan báo cho Guam, Đài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia và tiểu bang Hawaii.

Tâm động đất ở độ sâu 10 cây số, nằm cách thủ đô Tokyo 380 dặm về phía đông bắc.
Những thiệt hại sẽ rất là to lớn. Theo ghi nhận ban đầu theo các phóng sự truyền hình Nhật Bản thì nhiều làn sóng nước đầy bùn đã tràn qua các cánh đồng gần thành phố Sendai, cuốn theo nhiều nhà cửa, và một số nhà cửa đang bị bốc cháy.
Một đám cháy lớn đã xảy ra gần nhà máy lọc dầu Cosmo ở thành phố Ichihara ở khu Chiba, gần Tokyo và đám cháy đó hiện đang vượt qua mức khống chế.
Tại downtown của thành phố Tokyo, những toà nhà lớn chấn động dữ dội, và các công nhân chạy ra đường để tìm sự an toàn, sợ cảnh nhà sập. Một tòa nhà ở Tokyo còn bị bốc cháy.
Tại trung phần thủ đô Tokyo, các tàu lửa phiải dừng lại và hành khách đi bộ dọc theo đường ray đến nhà ga. Theo truyền hình NHK, có hơn 4 triệu tòa nhà bị mất điện ở Tokyo và vùng phụ cận. Trần nhà ở Kudan Kaikan, đại sãnh đường ở Tokyo, bị sập, làm bị thương nhiều người.
Hàng chục đám cháy được ghi nhận ở vùng phía Bắc của Fukushima, Sendai, Iwate và Ibaraki. Nhà cửa bị sập tràn lan và tại Miyagi còn bị đất chuồi.
Phi trường chính ở Tokyo bị đóng cửa. Một mảng trần nhà thật lớn của phi trường mới xây một năm trước ở Ibaraki, cách Tokyo 80 cây số, bị sập xuống đất.
Nhiều thiệt hại tràn ngập đến mức khó thể nào kể hết.
Hệ thống điện thoại nhà và cell phones gần như hoàn toàn bị tê liệt.
Chính quyền Nhật đang cố ghi nhận những thiệt hại, và con số này có thể ở mức đáng sợ và chúng tôi sẽ gửi đến qúy độc giả trong vài giờ tới.
Trần Thị Sông Dinh

Động đất mạnh tại Nhật Bản 8.9 độ và gây ra sóng thần lớn đe dọa khắp Thái Bình Dương, California cảnh giác sóng thần

http://www.baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1094:ng-t-mnh-ti-nht-bn-88-va-gay-ra-song-thn-ln-e-da-khp-thai-binh-dng&catid=23:front-page

Hình ảnh, thông tin mới nhất về vụ công an phường Thịnh Liệt đánh chết người



LTCG (10.03.2011)

Sau hơn một tuần nhập viện trong tình trạng bị chấn thương cổ do bị công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội đánh, ông Trịnh Xuân Tùng đã qua đời vào ngày hôm qua tại bệnh viện Việt Đức.

Nguyên nhân tử vong được xác định là do chấn thương cột sống gây ra liệt tứ chi dẫn đến liệt hô hấp.

Theo thông tin từ người dân, vụ xô xát giữa công an và ông Tùng xảy ra vào trưa ngày 28/2, do ông Tùng bị công an chặn phạt vì đã gỡ mũ bảo hiểm ra để gọi điện thoại trong khi đi xe ôm.

Khánh An hỏi chuyện chị Trịnh Kim Tiến, con gái của ông Trịnh Xuân Tùng, và được chị kể lại sự việc:

Đánh dân tàn bạo xong xích vào gốc cây

Chị Kim Tiến: Bố em chết oan, chị ạ! Oan không biết tỏ cùng ai. Chỉ vì là hôm đó bố em đi xem ôm ra bến xe Giáp Bát để đi vào Nam. Bố em bảo ông xe ôm dừng xe lại để bố em lấy điện thoại gọi cho một người bạn. Bố em vừa gỡ mũ bảo hiểm ra để gọi điện thoại cho bạn thì ông trung tá công an tên Nguyễn Văn Ninh ở phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, đã ra bắt giữ xe và hẹn chiều quay lại.

Buổi chiều, bố em và ông xe ôm quay lại để nộp phạt thì ông xe ôm cãi là ông ấy đúng chứ không sai, ông không có trách nhiệm nộp phạt như vậy, nhưng bên công an không chịu. Thế là hai bên xảy ra cãi vã. Ông công an lao vào bóp cổ ông xe ôm. Khi ông ấy bóp cổ ông xe ôm như vậy thì bố em có gỡ tay ông ấy ra và bảo: “Ông là công an mà ông lại bắt dân, đánh người như thế à?”, rồi bố em cũng chấp nhận sai và xin nộp phạt 100.000 đồng, nhưng ông ấy không chịu và đòi 150.000 đồng.

Sau đó hai bên giằng co và chẳng may tay bố em vung phải mặt ông ấy, thế là ông ấy dùng dùi cui và đồ vật cứng đập bố em. Ông đánh vào đầu, vào gáy và bố em ngã xuống. Khi bố em ngã xuống, ông ấy tiếp tục hô hào thêm 5, 6 dân phòng nữa lao vào đấm đá bố em túi bụi. Sau khi đấm đá xong thì xích bố em vào một gốc cây rồi sau đó gọi xe đưa về phường.

Khánh An: Vậy đến khi nào thì gia đình chị biết chuyện?

Em xuống dưới đó 3 lần, nhưng (công an phường) đều không cho đi khám. Em xin vào để đút phở cho bố em ăn, cũng không cho em vào đút phở cho bố em ăn. Đến bây giờ bố em chết, bố em trở thành con ma đói…Chị Trịnh Kim Tiến

Chị Kim Tiến: Bị vào khoảng 3 giờ, tầm 4:30 – 5 giờ gia đình em biết chuyện xuống đấy để xin cho bố em được đi khám và hỏi tình hình, nguyên nhân sự việc. Khi gia đình em đến, em có vào và xin cho bố em đi khám, nhưng công an phường Thịnh Liệt nhất định không cho bố em đi khám. Mãi đến tận 9:30, khi tình hình của bố em trở quá nặng, người ta mới cho bố em đi khám. Em xuống dưới đó 3 lần, nhưng (công an phường) đều không cho đi khám. Em xin vào để đút phở cho bố em ăn, cũng không cho em vào đút phở cho bố em ăn. Đến bây giờ bố em chết, bố em trở thành con ma đói…

Van xin cũng không được

Khánh An: Khi gia đình chị xuống gặp bác ở công an phường, chị thấy dấu hiệu bên ngoài của bác như thế nào?

Chị Kim Tiến: Bố em lúc đấy vẫn bị còng. Hai chân hai tay buông xuống, ngồi ở ghế, trong tình trạng rất đau đớn. Bố em kêu lên là “Con ơi, cho bố đi khám. Bố đau lắm rồi, bố muốn đi khám con ơi. Bố liệt hết hai chân hai tay rồi”. Mà em đã van xin các anh là cho bố em được đi khám vì tình hình bố em rất nguy cấp rồi, nhưng các anh đều không cho đi.
Em xuống dưới đó 3 lần, lần nào em cũng xin cho bố em đi. Đến lần thứ 3, em và cô em xuống mang phở cho bố em ăn nhưng các anh ấy nhất định không cho em mang phở vào cho bố em ăn. Khi gia đình xin cho bố em đi khám thì các anh ấy trả lời thế này: “Bây giờ phường đang rất đang có rất nhiều chuyện để giải quyết, không có thời gian để giải quyết vụ việc này. Cái gì cũng phải có trật tự theo thời gian. Đến khi nào phường giải quyết xong việc, gia đình có nhu cầu thì sẽ cho đi”.

Gia đình em còn yêu cầu là có thể cho người của phường đưa đi cùng cấp cứu nhưng mà các anh ấy nhất định không cho đưa đi cấp cứu.

Bố em lúc đấy vẫn bị còng. Hai chân hai tay buông xuống, ngồi ở ghế, trong tình trạng rất đau đớn. Bố em kêu lên là “Con ơi, cho bố đi khám. Bố đau lắm rồi, bố muốn đi khám con ơi. Bố liệt hết hai chân hai tay rồi”. Mà em đã van xin các anh là cho bố em được đi khám vì tình hình bố em rất nguy cấp rồi, nhưng các anh đều không cho đi. Chị Trịnh Kim Tiến

Cô em và em có nói là: “Bây giờ anh tôi, bố tôi đang trong tình trạng hết sức nguy kịch như thế này, nếu như các anh không cho bố tôi đi cấp cứu, bố tôi có vấn đề gì các anh thì các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, nhưng các anh ấy vẫn không cho đi.

Trước khi em đi, em có hỏi bố em rất to là “Bố ơi, bố có đau không?”, bố em trả lời “Có, bố đau lắm”. “Bố có muốn đi viện để khám không?”, bố bảo “Bố liệt hết rồi, cho bố đi khám đi”, nhưng các anh ấy vẫn làm ngơ không cho bố em đi. Khi bố em đau quá, bố em khát nước, lúc đấy là bố em ngã ra và người ta phải đỡ bố em nằm lên ghế, thì lần thứ hai, bố em bảo là “Đỡ tôi dậy đi, cho tôi uống ngụm nước”, thì cái người đánh bố em – ông trung tá Nguyễn Văn Ninh – bảo rằng “Đỡ vài cái vả ấy!”.

Bị đánh gẫy cổ đến chết

Khánh An: Rồi sau khi đi bệnh viện thì tình hình sức khỏe bố chị ra sao?

Chị Kim Tiến: Tình hình bố em ngày càng trở nặng, đến 9:30 mới được đưa đi cấp cứu. Bệnh viện Bạch Mai chụp chiếu và cho biết là xương có vấn đề ở cổ. Đến ngày mùng 1 thì bệnh tình của bố em càng ngày càng nặng, bụng cứ trướng lên dần và đau đớn. Gia đình em phải chuyển bố em vào bệnh viện Việt Đức.

Người ta báo với gia đình em là tình hình bố em hết sức nguy cấp, có thể đi bất cứ lúc nào vì bây giờ liệt hết tứ chi rồi, gây ra liệt hô hấp, gây suy hô hấp và có thể bị sốc tủy, sẽ đi bất cứ lúc nào. Gia đình hoảng loạn làm đơn đi khắp nơi để cấp cứu nhưng chưa nhận được quyết định gì.

Tình hình bố em ngày càng trở nặng, đến 9:30 mới được đưa đi cấp cứu. Bệnh viện Bạch Mai chụp chiếu và cho biết là xương có vấn đề ở cổ. Đến ngày mùng 1 thì bệnh tình của bố em càng ngày càng nặng, bụng cứ trướng lên dần và đau đớn. Chị Trịnh Kim Tiến

Sau đó, ông phó công an có xuống trực tiếp làm việc và nhờ giáo sư Thạch mổ cho bố em. Nhưng trước và sau khi mổ, giáo sư và các bác sĩ đều khẳng định là bố em có nguy cơ tử vong rất cao, sẽ đi bất cứ lúc nào. Gia đình em đang đợi phía bên nhà chức trách phải có câu trả lời với gia đình em.

Khánh An: Xin chị cho biết sau khi vụ việc xảy ra, chính xác là gia đình chị đã gửi đơn kiện vào ngày nào?

Chị Kim Tiến: Chính xác là gia đình em gửi đơn vào ngày mùng 2.

Khánh An: Vụ việc xảy ra vào ngày 28 phải không?

Chị Kim Tiến: Ngày 28. Bị bắt đánh từ trưa, đến 5 giờ, 9 giờ người nhà xin không cho đi. Mãi đến 9:30 – 10 giờ, khi bệnh tình quá nặng mới cho đi. Và thêm một vấn đề nữa là khi người ta không có sức phản kháng, liệt hết rồi mà khi đưa vào viện vẫn còng số 8.

Khánh An: Và trong thời gian ông Tùng nằm viện thì có ai đến thăm không, phía cơ quan công an đấy?

Chị Kim Tiến: Khi người ta chết đi rồi thì phía cơ quan mới có 1, 2 người xuống, chứ trước đấy thì không một ai hỏi thăm gì ạ.

Khánh An: Như vậy, sau khi gia đình chị gửi đơn kiện vụ việc công an đánh người thì đã có trả lời gì từ phía các cơ quan chức năng chưa?

Chị Kim Tiến: Từ ngày 28 đến hôm nay là 9 ngày, thì đến tận ngày hôm kia, trước ngày bố em hấp hối thì chiều tối ngày hôm ấy, 8 giờ tối, cơ quan công an mới có quyết định khởi tố vụ án. Vụ việc hết sức nghiêm trọng nhưng đến 8 giờ tối cơ quan công an mới quyết định khởi tố vụ án và không có quyết định khởi tố bị can. Bây giờ thì đã có quyết định khởi tố bị can nhưng không báo rõ ngày giờ là bao giờ mới khởi tố bị can ra tòa được, mà phải đợi tước danh hiệu của Nguyễn Văn Ninh rồi mới có lệnh bắt giữ.

Sự việc rành rành, nhân chứng có, bằng chứng có, tất cả mọi việc đầu rõ ràng, tại sao bây giờ không khởi tố được bị cáo mà phải đợi tước các thứ thì rất lâu. Không biết ngày nào, tháng nào bố em mới được giải oan. Bây giờ bố em đã nằm đấy rồi, mổ xẻ các thứ để khám nghiệm tử thi rồi, không hiểu ngày nào bố em mới được yên mồ? Bây giờ đang chờ đợi phía bên công an giải quyết cho gia đình em. Gia đình em oan quá mà không biết kêu ai!

Khánh An: Vâng, cảm ơn chị đã dành chút thời gian để trả lời Đài Á Châu Tự Do. Một lần nữa, xin thành kính chia buồn cùng gia đình chị.

Theo RFA

Một số hình chụp lúc gần 11h trưa nay, (10-3-2011) trên blog Người Buôn Gió,

“Mình nghĩ ra đường giờ không khác gì ra trận. Những chiếc quan tài bay chất lượng tỷ lệ thuận với số khói phun đằng đít. Những chiếc hố tử thần bất kỳ lúc nào cũng có thể sụp ngay dưới chân. Những sợi dây thòng lọng không ngày nào không chơi trò “ai là nạn nhân”. Và những thần chết mặc áo công lý cầm gậy công quyền nấp sau gốc cây, cột điện. Đến việc không đút điện thoại vào nồi cơm điện cũng bị coi là trọng tội, bị đánh chết không cần ra toà, thì quả thực phố phường giờ man dợ quá”. Đào Tuấn

------------

Người tố cáo Trung tá công an đánh gẫy cổ đã tử vong

Ông Trịnh Xuân Tùng (SN 1958, ở 525 Trần Khát Chân, quận Hai Bà Trưng), người tố cáo bị công an và dân phòng phường Thịnh Liệt (quận Hoàng Mai) đánh gẫy cổ, đã tử vong sáng nay, 8/3, tại Bệnh viện Việt Đức.

Bị đánh gẫy 2 đốt sương cột sống vùng cổ ông Trịnh Xuân Tùng đã mất sau gần bảy ngày cầm cự

Con rùa cháu tiên

MADE IN VIETNAM



Vụ « cụ rùa » Hồ Gươm bị bệnh đã và đang làm chấn động Hà Nội (và lan ra đến cả thế giới !). Nhà nước đang huy động một đội ngũ nhân sự đông đảo để « rước cụ » lên bờ chửa bệnh. Báo chí trong nước liên tục tuần nay giật tin tám cột trang nhất nói về sức khỏe của « cụ rùa ». Hiện có một số trang web cũng đi tin « hot », treo bảng truyền tin trực tiếp tại Hồ Gươm nhằm câu khách, báo cáo công việc « rước » cụ lên bờ chửa bệnh, với hình ảnh cập nhật từng giờ một. Người Hà Nội liên tục mấy ngày bu kín Hồ Gươm, có người còn leo lên cây, chờ đôi lúc cả ngày để chực « cụ rùa » nổi lên. Ngày hôm nay thì đặc biệt, người đi đông như xem hội. Không biết bao nhiêu cặp mắt (và ống hình camera) đổ vào theo dõi việc cứu « cụ rùa ». Trong giờ làm việc mà bờ Hồ Gươm đen kín. Có lẽ dân Hà Nội lo lắng cho sức khỏe của « cụ » hơn cả công ăn việc làm.

Báo chí nước ngoài cũng ghé vào ăn có. Dĩ nhiên, chỗ nào tanh máu là chỗ đó có ruồi ! Nhiều tờ báo lớn đăng tải tin nhà nước VN đang ra sức cứu con rùa sắp tuyệt chủng. Nhưng nhà mấy nhà báo nước ngoài này chỉ « ăn theo », viết chưa đúng đến 1/2 sự thật. Nhà nước ở đây không hề cứu « cụ rùa » như là một giống vật sắp tuyệt chủng. Biết bao nhiêu con thú ở Việt Nam lần hồi tuyệt giống, không vì bắt bán sang Tàu để làm thuốc thì cũng tiêu thụ trong nội địa, đa phần là trên bàn nhậu. Đố mà tìm được một con cọp, voi, gấu… tại Việt Nam. Tê giác thì tuyệt chủng từ lâu. Nào thấy nhà nước lo lắng bảo vệ. Đảng và nhà nước quyết tâm cứu « cụ rùa » vì « cụ » là linh vật của đất nước. Thử so sánh đến việc cứu lụt, nhân sự cứu lụt làm sao đông đảo bằng việc cứu « cụ rùa » ? còn phần tài chánh thì chắc cũng vậy thôi.

Nhưng cũng phải có lời cám ơn. Hồ Gươm nhân dịp này cũng được chỉnh trang môi trường, rác rưới hôi thối lâu nay dưới hồ được vét, hốt lên. Các loài cỏ có tác dụng làm sạch nước cũng được ghép thành bè thả xuống hồ để lọc nước. Nếu không có « cụ » bị bệnh thì làm sao có việc làm sạch hồ Gươm ? Cám ơn « cụ rùa » ! Chỉ cần mỗi năm « cụ » bệnh một lần thôi thì hồ Gươm cũng ngày càng sạch, đẹp. Nhưng mà, nếu vấn đề ống cống thông nước cho mùa mưa tại Hà Nội cũng được nhà nước nhanh nhẩu như việc này thì đở khổ cho dân biết mấy !

Nhìn qua bên blog Trương Duy Nhất, có lẽ tay này nói đúng mất thôi. Nhìn công tác cứu « cụ rùa » của nhà nước sốt sắng như thế thì nay mai « cụ » sẽ lên hàng « quốc thú ». Xong vụ hoa sen là « quốc hoa » thì sẽ tới vụ « quốc thú ». Ai vào đây nếu không phải « cụ rùa » ?

(Nhắc đến « quốc hoa », không thể không nhắc cái vụ “tam thốn kim liên”, tức « ba tất sen vàng » của người Tàu . Người Tàu ví hoa sen như gót chân phụ nữ (bó chân), tức « gót sen, nhưng họ cũng ví hoa sen là bộ phận sinh dục của phái nữ. Thật là lãnh đạo nhà mình khéo chọn)

Trở lại chuyện « quốc thú », thực ra nói như Trương Duy Nhất thì cũng hơi kỳ. Trên thế giới mặc dầu nhiều dân tộc đã lấy những con thú làm biển tượng (l’emblème de la nation) nhưng cũng có nhiều dân tộc lại không lấy con thú mà lấy những thứ khác làm biểu tượng. Như nước Pháp thì lấy Marianne, một phụ nữ rất đẹp để làm biểu tượng. Nước Thổ thì lấy con trăng lưởi liềm và ngôi sao, biểu hiệu cho đạo Hồi giáo. Một số nước (cộng sản thì lấy ngôi sao), ngụ ý ta là « siêu sao », chỉ đường cho thế giới v.v… Nhưng phần đông các nước còn lại thì lấy con thú làm biểu tượng cho dân tộc của họ. Nếu gọi những con vật này là… « quốc thú » thì Trương Duy Nhất cũng… đúng thôi.

« Quốc thú » của phần lớn các nước là con chim đại bàng. Đặc biệt quốc thú của Hoa Kỳ là con chim ưng trắng. Của Đức là chim ưng đen. Ít hơn chim đại bàng là sư tử. Phần nhiều các nước có nền tảng quân chủ lập hiến thì lấy sư tử làm biểu tượng. Quốc thú của Anh là con sư tử. Điểm chung của chim ưng và sư tử là chúa tể của muôn thú. Con chim ưng là chúa tể các loài chim (chúa tể không gian). Con sư tử là chúa tể các loài thú (chúa tể sơn lâm).

Việt Nam thì truyền thống « con rồng cháu tiên ». Biểu tượng của dân tộc ta do đó là con rồng. Dân Tàu cũng lấy con rồng làm biểu tượng nhưng rồng của dân tộc này khác hẵn rồng của dân tộc Việt Nam. Rồng Việt Nam là rồng nước, có màu xanh, là « Đông Hải Thần Long », tức con rồng thần ở biển Đông. Rồng của dân Tàu là rồng lửa, có màu đỏ, tức xích long. Rồng ta màu xanh phun nước, rồng Tàu màu đỏ phun lửa. (Nước chế lửa, chưa đánh đã biết rồng nào thắng !)

Rồng là con thú linh. Rồng Việt Nam là chúa tể các loài thú trên biển. So với con chim ưng, con sư tử – biểu tượng của Hoa Kỳ, Anh và nhiều nước khác – con thì chúa tể không trung, con thì chúa tể sơn lâm. Rồng của Việt Nam cũng oai phong lẫm liệt không kém : chúa tể muôn loài dưới biển !

Nhưng quan sát hiện tượng đang « thánh hóa » con cua đinh (hay con giải, con vít… chi chi đó) đang sống trong Hồ Gươm mà mọi người gọi là « cụ rùa », tôi hết sức lo ngại nếu vật biểu tượng cho Việt Nam là « con rùa đen ».

Những con thú linh, biểu tượng của những dân tộc kia là những con thú kiêu dũng, chỉ một tiếng thét của nó cũng đủ làm muôn loài khiếp đảm. Đó là những con thú không cần phải săn mồi mà muôn thú phải tới nộp mạng cho nó. Cái oai dũng của nó được người ta tôn vinh là chúa tể muôn loài. Khi người ta lấy những con vật này làm biểu tượng cho nòi giống thì người ta mong muốn rằng nòi giông này cũng oai dũng như vậy.

Con rùa ở Hồ Gươm thực ra người Việt Nam không gọi nó là rùa, mà là con giải, cua đinh hay vít chi chi đó… Con thủy quái này không tự mình đi săn mồi mà đi ăn xác của những con vật đã chết. Đây là một loài động vật hạ tiện, thuộc loại « charognard – ăn xác chết » như con kênh kênh, con quạ, hay một loại chó hoang dã.

Dân tộc Việt Nam, được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới công nhận, là một giống dân có tính rất siêng năng và bản chất kiêu hùng. Dân tộc này đã dựng được nước bằng những anh hùng sống trên lưng ngựa, trên đầu voi. Lẽ nào con thú biển hiện cho dân tộc này lại là một loài thú « thời cơ chủ nghĩa », lười biếng không biết săn mồi, là một loài « ăn xác chết » ?
Ai đã đem con thủy quái này thả vào Hồ Gươm để hôm nay nhiều người gọi nó là « cụ », là rùa Lê Lợi, sau đó phát động phong trào « cứu cụ rùa » ? Nay mai con rùa này sẽ được phong thánh mà thôi. Và không bao lâu sẽ lên làm biểu tượng của dân tộc. Từ nay sẽ không còn câu « con rồng cháu tiên » mà là « con rùa cháu tiên ». Không còn nòi giống « tiên rồng » mà là « tiên rùa ». Đúng là hiện tượng mang bàn thờ tổ tiên xuống đường để mà lăng nhục, rủa xả.

Như trên đã nói về « ba tấc sen vàng ». Bên Tàu họ ví là cái chân nhưng cũng là cái ấy của người phụ nữ. Như vậy cái ấy của phụ nữ Tàu là « quốc hoa » của Việt Nam. Lãnh đạo VN chọn « hoa sen » làm quốc hoa sao mà khéo thế ! Biểu tượng bó lúa đang trổ bông từ lâu là biểu tượng về hoa của Việt Nam. Nên biết dân Việt Nam là dân từ thời lập quốc đã sống với cây lúa. Tại sao không lấy nó làm « quốc hoa » ?

Thì bây giờ người Tàu chửi « đồ con rùa », một mặt là chửi một người hèn nhát, nhưng mặt khác là chửi bọn Việt Nam là bọn con rùa rụt cổ. Khi họ chửi « đồ rùa đen » thì cũng chửi bọn VN là bọn hạ tiện, lưu manh, cướp cạn. Ai chọn con rùa làm « quốc thú » thì cũng thật là khéo biết bao nhiêu !

Một ý kiến của một blogueur nổi tiếng khác, Mr Đỗ, vừa đưa lên. Chỉ gói ghém trong hai chữ: « khiếp nhược ». Bia kỹ niệm chiến thắng quân xâm lăng mà cũng bôi đi, không còn thấy hàng chữ có đề tên « nước lạ ». Cả nước rụt đầu khiếp nhưọc thì « quốc thú » là rùa cũng đúng thôi!
Thật là bực mình cho sái đám lãnh đạo ngu dốt, « đầu rùa » ! Cái đảng cộng sản này ngày càng giống với con rùa đen Hồ Gươm. Là một loài « charognard » được phong thánh.

Nguồn : Facebook Nhân Tuấn Trương

HÀ GIANG

Ai lần đầu đến Hà Giang, vùng đất cực bắc của Việt Nam, đều cảm nhận một điều: bước đến cao nguyên đá này như bước vào một thế giới khác.

Những căn nhà hoang sơ, đầm ấm huyền ảo nép mình bên những rặng thông.

Và du khách có thể gặp đó đây những bản nhỏ của người H’Mong, người Dao; cheo leo bên vách đá, mờ ảo trong mây

Cuộc sống không mấy sung túc nhưng con người ở đây luôn sống hồn nhiên và cần cù

Và trẻ thơ thì ở đâu cũng vậy, lem luốc và đáng yêu

Chợ phiên là nét đặc trưng ở đây, lúc nào cũng tấp nập và đầy mầu sắc

Vào dịp cuối năm, khắp Hà Giang lại bừng lên sắc hoa Tam Giác mạch, một loại hoa tiêu biểu của Hà Giang. Vừa đẹp lại có thể dùng như cây lương thực

Ở bất cứ đâu ta đều có thể bắt gặp những thiếu nữ H’Mong, Dao

Mùa lúa chín, khắp nơi được phủ một mầu vàng rực. Lúc này là lúc Hà Giang đẹp nhất

Trên luống cầy

Du khách lui tới nơi đây như để bước đến một thế giới khác, hư mà thực, để tận hưởng và để chiêm nghiệm

Và thời gian này đến Hà Giang như lạc vào cõi mơ. Khắp rừng núi hoa mận phủ mầu trắng xoá.

Thật đúng là vùng đất mê hoặc.

Chuyện nước Mỹ

KÍNH MỜI QUÝ ANH CHỊ ĐỌC.

KHÔNG NÊN VÓI CAO, KHÔNG NÊN KHIÊNG, XÁCH VẬT NẶNG.

TÔI NGHĨ RĂNG VỚI MẮT CÓ LIÊN HỆ VỚI NHAU, NHỨT LÀ RĂNG HÀM TRÊN, LIÊN HỆ TỚI NERF OPTIQUE. NHIỀU KHI NHỨC ĐẦU VÌ ĐAU RĂNG, RĂNG TỐT. MẮT TÓT.

Tác giả Hồ Phi, cư trú tại California, khi chuyển bài cho giải thưởng Viết Về Nước Mỹ bằng điện thư, không cho biết tiểu sử. Bài viết đầu tiên của ông, tuy chỉ giới hạn trong bệnh về mắt nhưng chứa nhiều chi tiết tỉ mỉ, hữu ích.

Tục ngữ ta có câu "Bảy mươi chưa què, Chớ khoe rằng lành". Thực vậy, một người bình thường khoẻ mạnh, đẹp đẽ, rủi ro có thể thình lình đến làm trở nên tàn phế. Bịnh hoạn xảy ra bất chợt, không biết đâu tiên liệu, đề phòng.


Mới đây, tôi được tin một người quen cũ ở Việt Nam, khoẻ đẹp một thời, nay hoàn toàn mù loà tàn tật từ hôm bà ấy đi nhổ răng cách nay 10 năm. Ngay khi răng được lôi ra, bà thấy tối tăm mặt mày, và sau đó chỉ toàn một màu đen tối, bà không còn thấy gì nữa. Tuy rằng đôi mắt bà vẫn mở, nhắm, người chung quanh nhìn vào vẫn tưởng đôi mắt khoẻ mạnh như bình thường. Nghe kể lại, vài bác sĩ quen ở đây cho là không phải vậy, vì mắt và răng đâu có liên hệ gì. Nhưng có ai đã học, biết, hoặc kinh nghiệm hết mọi chuyện vì những điều, những kiến thức chúng ta chưa biết tới, chưa khám phá ra mênh mông như vũ trụ.
Nhân chuyện nầy, ông Tuấn, một người bạn già của người viết, đem chuyện tối mắt của ông ấy ở Mỹ ra kể lại.
* * * * *
Cách đây 7 năm, lúc ông Tuấn vào tuổi 60, tốt lão khoẻ mạnh, đi đứng nhanh nhẹn không kém một trai trẻ. Tuy có đông con, nhưng tất cả đều đã ra riêng. Từ lúc chúng 17, 18 tuổi vào đại học, và sau khi ra trường, không đứa nào quay lại, nên chuyện gì nặng nhẹ ông cũng lụi hụi một mình. Một sáng Thứ Bảy mùa Hè, ông sắp xếp lại garage.
Bưng lên bợ xuống một số đồ đạc thường thường, nhưng với tuổi Tuấn lúc nầy kể là nặng và có phần căng gân cốt.
Sau một hồi hì hục, ông vào phòng nằm nghỉ. Bật TV lên xem, ông thấy màn ảnh TV có hai nấc, một nửa giống như ngoài nắng, một nửa như trong bóng râm, và như có vài tia chớp trong mắt. Cảm thấy trong mắt có sự bất thường, tuy không có gì đau nhức đáng kể, ông đến bác sĩ gia đình, không khám biết được gì, nhưng ông được giới thiệu đến bác sĩ chuyên khoa bịnh mắt ở Bolsa.
* * * * *
Lần đầu tiên đến bác sĩ chuyên khoa giải phẫu mắt, ô. Tuấn không ngờ rằng người ta bị bệnh mắt cũng khá đông. Chờ một hồi lâu, ô. Tuấn được đưa ngồi vào ghế để đọc các chữ E to nhỏ. Ban đầu mắt trái được che kín, để đọc bằng mắt phải. Cô y tá thử tới thử lui một lát, ô. Tuấn chẳng thấy gì cả, chỉ một màu đen mà thôi. Che mắt phải, mắt trái vẫn còn thấy rõ, ô.Tuấn rất ngỡ ngàng sao lại có chuyện khác thường như vậy, vì cả hai mắt lối giờ vẫn tốt đều.
Sau một lát nhỏ thuốc mở rộng con ngươi, bác sĩ soi đèn vào xem xét, và cho ô Tuấn biết : Võng mô mắt phải bị rời rách (Retina Detachment, OD).
Lo sợ, Tuấn hỏi có thuốc hay cách gì chữa trị không, Bác sĩ bảo ở đây không chữa được và sẽ giới thiệu đi nơi khác để mổ. Nghe phải mổ mắt, Tuấn hoảng hốt hỏi : " Mổ mắt rủi làm tôi đui sao",
Bác sĩ bảo : "Mắt phải đã đui rồi, còn đui gì nữa".
Tuấn nhận giấy giới thiệu để đến phòng mạch tư có tên là OC Retina Group ở Santa Ana. Lúc đó đã quá 5 giờ chiều thứ bảy, các văn phòng bác sĩ đều đóng cửa, nên phải chờ đến sáng thứ hai. Về nhà, ô. Tuấn rất hoang mang lo sợ, cả đêm nghĩ buồn không ngủ được. Một mắt thình lình vô cớ đã bị mù, và nếu mắt kia cũng có thể theo đà như vậy, thì sống dở chết dở mà thôi. Tuổi già ở đây buồn cô quạnh. Niềm vui là xem TV và hay lái xe dạo chơi ngắm thiên hạ giàu sang và trời mây phong cảnh ngoạn mục. Nếu mù không thấy gì nữa, thì kể như chết rồi, cuộc sống chỉ là đau khổ trong tăm tối mà thôi.
* * * * *
Trưa Chủ Nhật hôm sau, nơi nhà người con trưởng có party sinh nhật cho đứa cháu. Nằm nhà một mình buồn, Tuấn cũng mò đến tham dự để khuây khoả. Sẵn gặp người con thứ làm MD cũng đến đó. Nghĩ những người trong cùng một nghề, thường biết chuyên môn tài giỏi của nhau hơn, Tuấn đem trường hợp mắt mình ra kể và hỏi : “Con làm cho mấy bịnh viện lớn đã lâu, con có biết bác sĩ chuyên khoa nào giỏi về bịnh nầy, chỉ cho bố đến chữa trị". Ô Tuấn liền được đáp : “Mắt bố đã tốt năm mươi năm rồi, mà còn đòi gì nữa chứ". (Thằng con này thế nào cũng bị trời đánh)
Tuấn nghe, tiu nghỉu, thẹn thùng cảm thấy mình có phần nài nỉ tham đời, nên thôi không nói gì thêm nữa. Sự cách ngăn thế hệ (generation gap) và xáo trộn văn hoá (cultural turbulence) đã làm cho người ta không hiểu nhau hoặc thông cảm để giúp nhau. Học thuyết Dương Chu từ Trung Hoa xưa và chủ nghĩa cá nhân vật chất nay ở Hoa Kỳ được kết hợp rất chặt chẽ nơi giới trẻ thịnh thời và đắc địa. Đúng ra mắt Tuấn đã tốt cả 60 năm rồi, bỗng nhiên thình lình mới bị mù, nhưng mấy ai không tham đời, còn sống thì người ta vẫn còn cố tránh bị tật nguyền. Tuấn buồn nhiều hơn, thấy đen tối hơn. Không biết nói gì thêm, Tuấn yên lặng cho đến lúc ai về nhà nấy. Chi tiết nầy được kể như một nét nhỏ mà cũng có thể là đề tài lớn viết về nước Mỹ.
* * * * *
Sáng sớm thứ hai, theo giấy giới thiệu, Tuấn đến phòng nhãn khoa tư có bảng hiệu OC RG ở Santa Ana, bệnh nhân chờ khá đông. Nơi đây có ba bác sĩ gồm hai bác sĩ Mỹ trắng đã đứng tuổi và một bác sĩ người Hoa họ Chen mới ra trường chưa bao lâu. Nơi phòng đợi, các bằng cấp, ghi nơi và thời gian huấn luyện của mỗi bác sĩ đều có treo trên tường. Những bác sĩ này đều có bằng chuyên chữa bịnh võng mô (retina). Thật ra từ nhỏ đến giờ đã hơn 60 tuổi, lần đầu tiên Tuấn mới nghe biết về bịnh mù mắt thình lình nầy.
Lúc nhỏ, ở tỉnh quê, đã ba bốn lần Tuấn bị bệnh mắt đỏ, hai mí mắt sưng húp bị ghèn mủ khô làm dính cứng vào nhau. Sáng dậy, phải dùng bông gòn thấm nước muối hồi lâu cho ghèn mũ tan rã mới mở mắt được. Bệnh có khi kéo dài cả tháng mới khỏi. Đến hơn 20 tuổi, nhìn xa không rõ, Tuấn mới đến optometrist đo độ và đeo kính.
Tuấn cũng đã thấy người ta bị bệnh mắt hột, bên trong mí mắt có những mụt trắng và mí mắt sưng. Có người bị thuỷ tinh thể của mắt dần dần trắng đục, khiến mắt dần dần không trông rõ, nhưng vẫn còn thấy ánh sáng và nhìn cảnh vật lờ mờ. Có người bị cận thị, bị viễn thị có thể chữa bằng cách mang kiến cận hay viễn (trường hợp mắt người già). Có người mắt bị kéo mây phía trước thành mù loà. Có người mắt bị lớn lồi ra. Nhưng trường hợp mắt của Tuấn, người ta nhìn vào vẫn thấy tốt đẹp bình thường không sao cả, nhưng lại mất ánh sáng.
Mắt phải mất ánh sáng xảy ra thình lình và nhanh chóng như vậy như vậy là do Võng Mô (retina), mạng lưới thần kinh toả ra trong đáy mắt nối liền với thần kinh thị giác trong hốc mắt tiếp liền với trung khu thị giác trong não bộ bị tổn thương. Võng mô tiếp nhận ánh sáng, hình ảnh và màu sắc truyền vào não khiến ta thấy được. Võng mô bị tróc ra hay thương tổn cũng như miếng film trong máy chụp hình bị hư hỏng hay sút ra, dù máy ảnh, ống kính còn tốt cũng không thâu được hình. Từ trước không nghe ai nói tới bịnh mắt nầy.
Bác sĩ trẻ, họ Chen được sắp xếp chữa trị cho Tuấn. Chen khám lại và giải thích từ trước đã có phương pháp giải phẩu để gắn lại võng mô bên trong mắt (Vitrectomy and Scleral Buckling). Gần đây có phương pháp mới, giản dị hơn đã đuợc áp dụng. Nếu theo phương pháp mới sẽ tránh được việc mổ mắt, vừa đỡ thương tổn, đỡ tốn kém, mà cũng có kết quả tốt. Đó là phương pháp bơm hơi thuốc vào bên trong mắt và dùng kim đông lạnh để gắn lại võng mô (Pneumatic Retinopexy and Retinal Cryotherapy). Nghe phương pháp mới nầy cũng kết quả tốt, Tuấn yêu cầu Bác sĩ Chen áp dụng cho mình.
Tuấn được đặt ngồi trên ghế bên cạnh ghế bác sĩ, một bên là một ống gang như ống acetylen của thợ hàn, nối liền với một vòi kim bơm hơi và một bàn đạp điều khiển cho lượng hơi ra vào nhiều ít. Tuấn ngồi ngửa mặt, mở rộng mắt. Bác sĩ cầm kim đâm vào mắt, bơm hơi thuốc vào, và xả ra nhiều lần, khoảng vài chục phút. Tuấn nghe tiếng hơi bơm vào, rút ra leo pheo, như ngươi ta bơm và xả hơi bong bóng. Đau không thể nói được, nhưng phải cắn răng, hít hà, ráng chịu để may ra thị giác được vãn hồi. Bác sĩ làm xong băng kín mắt phải lại. Tuấn ra về.
* * * * *
Hai hôm sau theo hẹn trở lại, mắt phải được mở ra, Tuấn thấy lại ánh sáng lờ mờ và nhìn vật thấy 2 hình, một hình mờ và một hình rõ, và thấy một bong bóng hơi hình thuẩn trong mắt lao chao ở miù dưới.
Bác Sĩ Chen cũng bơm hơi như vậy một lần nữa. Đau lắm, Tuấn vẫn rán chịu.
Ba ngày sau khám lại, đo áp suất mắt, mắt phải đã thấy ánh sáng tốt hơn và đọc được những chữ lờ mờ ở cuối miếng card. Bác sĩ bảo đã tốt rồi và chuyển qua một phòng khác có trang bị một máy có một đầu kim nhỏ như mỏ hàn nối liền vói bộ phận chứa và truyền độ lạnh (có thể là nitrogen lỏng, Tuấn chắc là vậy).
Đây là lần thứ ba Tuấn không thấy bác sĩ chích thuốc tê mê, và Tuấn cũng ngại hỏi tại sao. Có thể bác sĩ có lý do, hay vì đã quên. Tuấn cứ phó thác cho bác sĩ Chen, và ráng chịu đựng. Tuấn vẫn ngồi trên ghế ngửa mặt và bác sĩ ngồi bên. Chen không có phụ tá nào cả. Ông dùng kim lạnh xăm vào bên trong vào tận đáy mắt không biết bao nhiêu phát xăm, như người ta chậm rãi xăm củ gừng làm mứt. Thao tác nầy cũng tương tự như người ta xăm để gắn một miếng vải mui xe bị rời xuống cho dính trở lại vào mui. Tuấn đau lắm, không thể kể được vì thần kinh mắt cảm ứng mạnh và ngay sát vào não. Tuấn nghĩ ngày xưa người ta đã quá khen Quan Vân Trường can đảm giỏi chịu đau, ngồi điềm nhiên đánh cờ để cho Hoa Đà mổ vết thương mũi tên trên cánh tay. Cái đau đó so với cái đau trong mắt Tuấn lúc châm kim nầy thì chẳng đáng chút gì. Tuấn cắn răng chịu đựng, hai lần bơm hơi trước đã làm cho Tuấn chịu đau hơi quen rồi. Nhưng lần nầy đau gấp trăm lần hơn, Tuấn nghiến rắng giữ yên cho bác sĩ làm việc và nhớ đến câu Seul le silent est grand (chỉ có yên lặng là lớn lao mà thôi), tuy rằng có những co rút, nẩy, uốn cả thân thể theo phản xạ tự nhiên không kiểm soát được. Khoảng chừng 40 phút thì việc ép bằng kim lạnh (Cryotherapy) đã xong. Tuấn ra về.
* * * * *
Một tuần sau tái khám, bác sĩ bảo là tốt rồi, khỏi châm nữa, và giới thiệu trở lại bác sĩ nhãn khoa gốc ở Bolsa săn sóc tiếp. Vài tuần sau, Tuấn trở lại bác sĩ ở Bolsa khám lại, cho như vậy là được rồi và không cần thuốc men gì cả.
Lúc ban đầu Tuấn thấy trong mắt có một bong bóng hơi chiếm 1/3 thị trường mắt phải nơi miù dưới, thật ra bong bong hơi nằm ở phía mí trên, nhưng mắt cũng như máy hình thâu hình ảnh ngược. Bong bóng nầy ngày càng nhỏ dần và hơn tháng sau thì biến mất. Mắt Tuấn nhìn thấy hình mọi hình thể đều méo mó và thấy những vệt đen lảng vảng trước mắt, nhìn người nào cũng thấy xấu xí như ma. Nhìn TV thấy hai màn hình méo mó cách nhau. Sau vài năm khi mắt trở lại bình thường, Tuấn đổi kính cận.
Sau sáu năm, mắt phải Tuấn đã phục hồi lại được khoảng 70 %, vì dù sao cũng thấy mờ hơn mắt trái. Thỉnh thoảng khi nào làm việc gì hơi nặng nề,
thấy mắt hơi bị căng căng, Tuấn liền ngưng lại và đưa tay che một mắt để xem mắt kia còn thấy được không.
Đến nay 6 năm đã qua, nếu che mắt phải, nhìn bằng mắt trái không thôi, Tuấn thấy sáng rõ nhất. Nếu đổi lại, nhìn với mắt phải, Tuấn thấy hình ảnh lu mờ hơn nhưng vẫn có thể còn thấy đường lái xe trong lúc ban ngày. Nếu nhìn bằng cả hai mắt, thì thấy hình ảnh rõ trung bình giữa hai lối trên vừa kể, cỡ khoảng 80 %. Nếu nhìn vào TV lâu cũng có thể nhìn thấy 2 màn hình, một rõ và một mờ nhưng hình ảnh không còn méo mó và đường nét không còn dợn sóng như trước.
* * * * *
Tuấn có hỏi bác sĩ Chen nguyên nhân vì sao võng mô bị tách ra như vậy. Ông không nói rõ nguyên nhân vì sao, nhưng theo tỷ lệ cứ khoảng 10,000 người thì có một người bị như vậy. Nên phòng mạch nhãn khoa chuyên về retina nầy có công việc làm đều đều. Bác sĩ Chen khuyên Tuấn không nên làm việc gì quá nặng. Rất may là Tuấn mới bị vài hôm và được chữa trị kịp thời. Nếu để lâu hơn, võng mô đã rách có thể sẽ thoái hoá, không biết có thể chữa lành và phục hồi ánh sáng không.
Vì bệnh nầy xảy ra lần đầu tiên và đột ngột, Tuấn chưa từng nghe biết, nên tò mò tìm hiểu và được biết có người thình lình đang đi đường bỗng bị hai mắt một lúc. Quá ráng sức, hay bị tai nạn, đầu bị va chạm mạnh, hay bị đấm mạnh vào mặt cũng có thể bị. Khi xưa cụ Nguyễn Đình Chiểu, đang trên đường đi thi, giữa đường hay tin mẹ mất, cụ bỏ cuộc trở về, thương mẹ, khóc đến mù mắt. Có thể thần kinh bị quá khích động làm thương tổn võng mô nên mù chăng, Từ đó Tuấn thường nghiệm rằng khi làm việc gì nặng thì thấy hơi nhức mắt và thường hay kiểm soát lại mắt mình bằng cách che một mắt và nhìn bằng mắt kia. Khi người ta bị mù một mắt, mắt kia vẫn còn thấy, nên rất dễ không biết để kịp thời chữa trị.
* * * * *
Nhờ kỹ thuật và y khoa tân tiến của nước Mỹ, mắt phải củaTuấn đã bị mù tối, được thấy lại ánh sáng. Bệnh thình lình đui mắt nầy ít khi xảy ra, nên phần đông chúng ta không biết đến, nhưng biết đâu cũng có thể bất chợt xảy đến cho bất cứ ai. Có bệnh còn dễ hơn trúng số. Vậy chuyện nầy được kể như một kinh nghiệm hoặc thông tin. Thiển nghĩ, nên tôi viết bài nầy cho chúng ta cùng biết qua, cũng là chuyện nước Mỹ, và thay ông Tuấn ghi ơn y khoa Mỹ.

Hồ Phi

Lãnh tụ tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma rời bỏ vai trò chính trị

Lãnh tụ tinh thần Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma rời bỏ vai trò chính trị
Đức Đạt Lai Lạt Ma
REUTERS
Thanh Phương

Trong một bài diễn văn đọc tại Dharamsala, miền Bắc Ấn Độ, nơi đặt chính phủ lưu vong của người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma hôm nay (10/03/11) đã chính thức loan báo ý định từ bỏ vai trò chính trị, để nhường chỗ cho một lãnh đạo mới « được bầu lên một cách tự do ».

Đức Đại Lai Lạt Ma thông báo là vào phiên họp của Quốc hội Tây Tạng vào tuần tới, Ngài sẽ đệ trình một sửa đổi theo hướng nói trên, nhưng nói rõ : việc chuyển giao quyền hành không có nghĩa là Ngài từ bỏ trách nhiệm.

Đã nhiều lần Đức Đạt Lai Lạt Ma, năm nay đã 75 tuổi, nhắc đến việc rời khỏi cương vị lãnh đạo chính phủ Tây Tạng lưu vong, nhưng vẫn không từ bỏ vai trò lãnh đạo tinh thần.

Khi được chọn làm « quốc trưởng » vào năm 1950, sau khi quân cộng sản Trung Quốc chiếm Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ vừa tròn 15 tuổi. Ngài đã buộc phải chạy khỏi Trung Quốc sang tỵ nạn ở Dharamsala, Ấn Độ, sau thất bại của cuộc nổi dậy năm 1959 chống ách đô hộ Trung Quốc. Ngày 10/3 chính là ngày kỷ niệm cuộc nổi dậy bất thành này.

Hôm nay, Đức Lạt Lai Lạt Ma nhắc lại rằng : « Ngay từ những năm 1960, tôi vẫn luôn nói rằng Tây Tạng cần phải có một lãnh đạo do nhân dân bầu lên một cách tự do, để tôi có thể chuyển giao quyền hành. Nay đã đến lúc thực hiện điều này. ». Nhưng Ngài nhấn mạnh là sẽ không rút khỏi cuộc đấu tranh chính trị và sẽ vẫn tiếp tục đảm nhận vai trò của Ngài « vì chính nghĩa của Tây Tạng ».

Được dân Tây Tạng tôn thờ, được phương Tây ngưỡng mộ, từ lâu Đức Lạt Lai Lạt Ma được cả thế giới xem như là biểu tượng của cuộc đấu tranh giành độc lập cho Tây Tạng và biểu tượng của các giá trị Phật giáo. Dù tuổi cao sức yếu, Ngài vẫn chu du khắp thế giới để vận động cho chính nghĩa Tây Tạng.

Chủ thuyết đấu tranh bất bạo động cũng như những giáo huấn Phật giáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đưa Ngài trở thành một nhân vật có tầm cỡ ngang hàng với Mahatma Ghandi hay Martin Luther King. Chính nhờ ánh hào quang luôn tỏa sáng của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà quốc tế tiếp tục chú ý đến số phận của dân tộc Tây Tạng, nhất là kể từ khi Ngài được trao giải Nobel Hòa bình năm 1989.

Nhưng về phía Bắc Kinh thì xem Ngài như là một một kẻ ly khai nguy hiểm, cho dù Đức Đại Lạt Ma vẫn nói rõ là bây giờ Ngài chỉ mong cho Tây Tạng được tự trị về văn hóa, chứ không hoàn toàn độc lập với Trung Quốc. Vài giờ sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma loan báo ý định rời bỏ vai trò chính trị, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm nay tuyên bố đây chỉ là một « mưu mẹo » để « đánh lừa cộng đồng quốc tế ».

Người ta vẫn sợ rằng, nếu chẳng may Đức Đạt Lạt Ma qua đời, người Tây Tạng sẽ không còn đoàn kết đấu tranh như hiện nay, mà sẽ bị phân hóa. Nên nhớ rằng trong cộng đồng Tây Tạng lưu vong, đặc biệt là trong giới trẻ, vẫn tồn tại một xu hướng cực đoan hơn nhiều so với đường lối trung dung của Ngài.

Theo truyền thống, việc tìm một Đạt Lai Lạt Ma mới là do các vị Lạt Ma cao cấp nhất trong hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng tiến hành, nhưng chính phủ Bắc Kinh gần đây nói rõ chính họ sẽ nắm quyền quyết định cuối cùng về việc chọn người tái sinh Đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên, sinh ra vào năm 1391.

Hết Thời Rồi

Nhà độc tài 42 năm, từ thiếu úy đảo chánh tự xưng lên Đại tá Gadhafi đang dùng lính đánh thuê, phản lực cơ, trực thăng võ trang dìm người dân nổi dậy trong biển máu, giành lại các mỏ dầu, hải cảng. Nhưng đó là tàn lực như ngọn đèn phực trước khi tắt. Hết thời rồi, tận số rồi, phải xuống thôi, những nhà độc tài, những chế độ độc tài thâm căn cố đế, quá lỗi thời, liệt lão không thể hồi dương nữa.
Thực vậy, sau các cuộc biểu tình lật đổ chế độ độc tài của người dân Tunisia, rồi kế đến Ai cập, người dân trên thế giới hay hỏi nhau sẽ tới chế độ độc tài ở nước nào. Có hai thì phải có ba, vậy tới Libya, Algéria, Yémén, Bahrain, phải không.
Sau cuộc lật đổ độc tài một số nước trong thế giới Á rập, người ta không hỏi có hay không mà chừng nào cuộc biểu tình lật đổ độc tài đến Trung Cộng và Việt Cộng.
Từ Trung Đông đến Bắc Phi, từ Vịnh Ba tư đến Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và đã manh nha ở Trung Quốc và Việt Nam ở đông Thái Bình Dương. Người dân không chịu nổi đã và đang tìm cách đánh đổ cái thứ quyền hành tuyệt đối của một người, một gia đình, hay một đảng. Người dân không chịu nổi cái quyền cảnh sát trị của nhà nước dưới chiêu bài, bánh vẽ của các định chế dân chủ hữu danh vô thực nữa.
Đã phá sản rồi, đã đến lúc mũi thuốc hồi sinh cứu độc tài kéo dài sự sống bằng chánh sách mở rộng kinh tế nhưng khoá chặt chánh trị hết hiệu lực. Những di chứng, tác dụng phụ của chính sách đầy nghịch lý này đã tạo quá nhiều quốc nạn vô phương cứu chữa: tham nhũng, bất bình đẳng, nghèo giàu, thành thị nông thôn chia rẽ quá trầm trọng, nhà cầm quyền vì quyền lợi riêng nhơn danh qui hoạch đã tịch thu đất đai của dân, tăng gia kinh tế với bất cứ giá nào đã làm môi trường sinh thái ô nhiễm, vệ sinh an toàn thực phẩm và hàng hoá tồi tệ.
Như các nước Bắc Phi và Trung Đông sau khi giành lại được độc lập cho kinh tế tự do để phục hồi hoàn cảnh lạc hậu vì bị thực dân khai thác cạn kiệt. Nhưng một số nhà cầm quyền lợi dụng nhu cầu ổn định đi đến độc tài.
Như các nước CS sau thời kỳ các nước CS ở Đông Âu và Liên xô đột quị, sụp đổ. Trung Cộng, Việt Cộng do chính sách cộng sản, do bị mất viện trợ sau khi Liên xô sụp đổ, kinh tế quá suy đồi phải như con tắc kè đổi màu để thích nghi tồn tại. Chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tức mở rộng kinh tế mà khoá chặt chánh trị. Tức vẫn độc tài đảng trị toàn diện. Một nghịch lý từ hình thức đến nội dung, từ học lý đến thực tế vì kinh tế chánh trị là môi với răng. Một cưỡng lý như bắt con nòng nọc không rụng đuôi để lên cạn thành ếch nhái, trái với qui trình chuyển hoá của nó.
Đã hết rồi cái thời những nhà độc tài Hồi giáo như Mubarak, Gadhafi, CS Bắc Kinh và CS Hà nội lợi dụng công cuộc chống khủng bố của thế giới để khủng bố những sắc tộc thiểu số, tổ chức tôn giáo, chánh trị, văn hoá và thành phần ưu tú trong nhân dân đứng lên đòi tự do, dân chủ, nhân quyền.
Đã đến lúc người dân hết chịu nổi độc tài, đứng lên, cùng liên kết thành cuộc cách mạng quốc gia, lật đổ độc tài, xây dựng một chánh quyền vì dân, do dân, của dân. Có đổ máu, nước mắt, mồ hôi, hy sinh tánh mạng, tài sản cũng phải làm. Trong lịch sử loài người có cuộc cách mạng nào không thiệt hại, không hiểm nguy, gian khổ.
Những cái bịnh của tất cả các thứ độc tài, của độc tài dưới mọi hình thức đều giống nhau. Những tai hoạ của nó gây ra cho quốc gia dân tộc đều giống nhau. Chúng làm nước nghèo, dân mạc. Còn kẻ độc tài thì giàu nứt đố đổ vách, tiền cướp của nước và dân gởi dấu ngoại quốc đơn vị là tỷ tỷ Đô la. Chúng làm nhục người dân trong nỗi sợ và bất động. Chúng làm người dân nghèo về vật chất và mất danh dự bằng tham nhũng, khủng bố. Chúng có làm kinh tế tăng gia mà không phát triển, không thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội, không tái phân phối lợi tức tạo an sinh xã hội, mà chỉ làm giàu cho giai cấp thống trị có chức có quyền. Chúng làm nghèo đất nước bằng tàn phá môi sinh, rút tài nguyên đem bán đổ bán tháo cho ngoại quốc, vay nợ ngập đầu người dân ba đời đóng thuế trả không nổi vốn lời. Chúng tha hoá lớp trẻ, cào bằng văn hoá dân tộc. Chúng làm nhiều công trình du lịch, ăn chơi, đường cao tốc, xa lộ, phi trường, hải cảng không cần thiết để “rút ruột” làm giàu, để chúng hưởng hơn là phát triễn hạ tầng cơ sở quốc gia. Chúng làm nhục quân đội, ngành thi hành công lực bằng chia rẽ, mua chuộc, lịnh lạc lợi cho độc tài mà hại dân chúng. Chúng chia rẽ các tầng lớp lương dân, phân hoá xã hội, tạo hố ngăn cách nghèo giàu, thành thị nông thôn sâu rộng không thể san lấp được. Chúng cướp nhà, cướp đất của lương dân bằng qui hoạch, bồi thường cho dân rẻ như giựt để “hoá giá” cho cán bộ, để lấy làm vốn nhà nước đầu tư với ngoại nhân.
Đừng tưởng CS Bắc Kinh và CS Hà nội không biết. Họ biết rất rõ nỗi bất mãn, oán than, thù hận của người dân. Nhưng họ là kẻ gian ác bản chất nên không làm điều thiện được. Trong bụng họ lo quính quáng. Bên ngoài miệng họ ve vuốt, xoa dịu. Trong hành động họ chống đối, đánh phá, ngăn chận.
Như Thủ tướng TC Ôn Gia Bảo mới đây ngày 5-3, trước 3 ngàn đại biểu nhân dân, nhơn khi khai mạc Quốc Hội, nói lên những quan tâm của chánh phủ về “nhiều oán trách” của nhân dân như liệt kê ở trên. Ông xoa dịu bằng lời hứa tăng lợi tức, lương bổng, miển thuế má, cải thiện y tế, giáo dục cho người dân nghèo. Đông thời đề cao cảnh giác những “náo loạn”.
Còn CS Hà nội cũng rất lo. Bắt bớ, trấn áp những nhà dân chủ như Bs Nguyễn đan Quế, cô lập LM Nguyễn văn Lý, đánh phá các webs và blogs thông tin nghị luận và kêu gọi, vận dộng, tập họp hưởng ứng cuộc cách mạng.
Nhưng tiến bộ là định luật của sự sống. Không ai có thể cản được xu thế thời đại, bánh xe lịch sử, đà tiến hoá của Con Người. Phong trào nhân dân đang nổi lên lật đổ độc tài trong thế giới Á rập này là phong trào kế tiếp của người dân trong khối CS các nước Đông Âu và Nga cùng các nước bị CS gộp vào Liên bang sô viết đứng lên lật đổ độc tài CS. Phong trào mà các nhà chánh trị học gọi là cách mạng màu sắc, nhung, cam, hồng, v.v..
Nhiệm vụ của Nhân Loại là giúp biến giấc mơ của những dân tộc, những bộ phận của Nhân Loại hoàn thành sự nghiệp chống độc tài. Bây giờ đã khá trể rồi đó.
Nhưng trễ còn hơn không. Không lý do gì ở đầu thế kỷ 21 và thiên niên kỷ thứ 3 mà để cho một vài người ngồi xổm trên đầu trên cổ một quốc gia dân tộc. Bậy nhứt, hư nhứt, tệ nhứt là làm tắt niềm hy vọng hướng thiện, vươn lên tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân bị độc tài áp bức bóc lột.
Phải giúp chống độc tài với tinh thần liên đới giữa con người với con người trong tương quan không gian và thời gian như cùng chống bịnh thế kỷ Aids hay chống khủng bố vậy. Phải khơi động cảm hứng, nuôi dưỡng hy vọng, nguyện vọng thay cũ đổi mới, ý hướng hướng thượng tự do, dân chủ của người dân.
Làn gió cách mạng đang thổi như Cách mạng dân quyền 1789 của Pháp. Cách mạng là một khối như một danh nhân Pháp Clemenceau nói. Nó vận hành ở nhiều nơi, tiếp hơi sức bằng quyền tự do căn bản của con người, chống lại cái ác, sự ngu dốt tối tăm và độc tài chuyên chính vốn là những phản động lực, phản tiến hoá. Độc tài không sửa chữa được, phải lật đổ nó, vứt bỏ nó. Và thay đổi bằng tự do, dân chủ./.
( Vi Anh)

Phỏng vấn cụ Rùa

MADE IN VIETNAM

Phỏng vấn con Rùa.

Thưa cụ, cảm nghĩ của cụ khi được nhân dân Việt Nam kính trọng gọi bằng cụ?

CỤ RÙA: Sướng. Rất sướng. Cực kỳ sướng.

Nếu tính theo phả hệ thì cụ là thế nào với các bác, các chú và bố mẹ con ạ?

CỤ RÙA: À, cái này thì phải hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Xin mạo muội thưa cụ, nếu chẳng may cái vụ lở mồm long móng này không xong thì di chúc của cụ thế nào ạ?

CỤ RÙA: Cái này thì chờ tôi xin ý kiến lãnh đạo.

Thưa, lãnh đạo cụ là ai ạ?

CỤ RÙA: Còn phải hỏi.

Thưa, cụ có thể cho biết bí mật cái vụ thương tích, hay bảo tồn này là thế nào không ạ?

CỤ RÙA: Tôi cũng hỏi thật cậu nhé. Đứa nào vất mấy cái con rùa cái giang mai, lậu mủ, mồng gà, hoa khế xuống hồ vậy?

Thật tình con không biết.

CỤ RÙA: Cái gì cũng không biết mà đòi làm báo à?

Biết hay không biết không phải là vấn đề của con ạ.

CỤ RÙA: Thế thì nó là vấn đề của ai?

Dạ, để con xin ý kiến lãnh đạo rồi trả lời cụ.

CỤ RÙA: Thế lãnh đạo của cậu là ai?

Cụ cứ đùa.

CỤ RÙA: Này, tôi tiết lộ tí bí mật lịch sử cho cậu biết nhé. Cái con rùa mà nhân dân các cậu nghĩ là thần Kim Qui, Rùa Vàng hay con tiều nào đó trong lịch sử các cậu nó ngủm từ khuya rồi. Tớ là rùa sản xuất tại Quảng Đông “Made in China” đấy. Vận nước của các cậu nằm trên mu tớ. Không tin cứ hỏi mấy thằng thày bói hay Hồ Cẩm Đào xem.


Nguyễn Viện:

Hong Kong - Tình người bất tận !

In Hong Kong, relations between protesters and police have remained cordial, since riot police withdrew

Khi trời đổ mưa nặng hạt, một viên cảnh sát HK chống bạo loạn đứng ngoài trời... Dầm mưa... Lập tức, một em trẻ sinh viên liền cầm dù bước ra, đi đến gần anh cảnh sát và trao cho anh cây dù che mưa .... khiến anh chàng cảnh sát quay mặt đi che giấu ánh mắt đỏ hoe vì cảm động... Em sinh viên cũng không quên nói rằng... Nhiệm vụ đấu tranh của tuổi trẻ chúng em vẫn làm, và các anh cũng như vậy... Nhưng dù sao đi nữa... thì nhiệm vụ vẫn làm. Nhưng tình người thì bất tận .... Chúng tôi không muốn anh bị cảm bệnh... Anh cảnh sát liền đáp lại... Chúng tôi làm theo lệnh, nhưng tuyệt đối không đánh đập dã man sinh viên, học sinh... Vì các em là người dân HK giống như tôi....

Liệu cảnh sát Cơ Động của lũ đảng CSVN có tình người như những người cảnh sát của HK không ??? Câu hỏi làm toàn dân Việt Nam đắng lòng như muối xát vào tim !!! Khi gia đình, bạn bè là nạn nhân của CSCĐ... CSND... CSGT... CAND... Cướp đi mạng sống người thân của họ !!!!

Fb-LisaPham

-----------------------------
Last Days in Vietnam

 
Design by Hận Ly Hương |FreePolitic - |
Site Meter