Wednesday, 10 August 2016


Đường Lưỡi Bò, Đường Chữ U, Đường 9 Đoạn… là tên gọi dùng để chỉ khu vực lãnh hải trên Biển Đông manh nha từ trước nhưng còn mập mờ rồi khi Trung Hoa Dân Quốc (thời kỳ Tưởng Giới Thạch) công bố ranh giới chín đoạn vào năm 1947 và CS Trung Cộng sau khi thống lĩnh Hoa Lục từ năm 1949. Trong suốt thời gian dài, mặc dù cho xuất bản đồ có thể hiện "đường lưỡi bò" như trên, nhưng Trung Cộng và Đài Loan chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về "đường lưỡi bò" đó.
Theo Kiwipedia: “Công hàm Trung Cộng gửi lên Liên Hiệp Quốc vào tháng 5 năm 2009 đã làm căng thêm tranh chấp. Trung Cộng tuyên bố chủ quyền đối với "các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận", tuy nhiên, ý nghĩa của 9 đoạn trên bản đồ là không rõ ràng. Ngoài ra, bản đồ này chứa một số lỗi như sau: Tỉ lệ xích thì đúng nhưng thước tỉ lệ thì vẽ sai: 1 km được thể hiện bằng 635 mét. Như vậy nếu dùng thước tỷ lệ này vào việc đo 200 hải lý (370 km) trên bản đồ, chỉ bằng 127 hải lý (235 km) trên thực địa. Hơn nữa, áp thước tỷ lệ này trên các bản đồ của Mỹ thì hóa ra 1 km chỉ có 630 m. Đảo Lý Sơn được thể hiện gần như vô hình trong khi các đảo khác có kích thước tương tự, ví dụ đảo Cù Lao Chàm, được thể hiện rất rõ. Đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, chỉ nằm cách mũi Ba Làng An thuộc đất liền Việt Nam 135 hải lý, lại không có trên bản đồ…”.
Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982) được xem như hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông.
Sau hơn 4 năm chuẩn bị và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công Ước Luật Biển 1982), United Nations Convention on the Law of the Sea, tắt là UNCLOS, được 107 quốc gia ký tại Montego Bay, Jamaica (sau đó có 157quốc gia). Công Ước nầy có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Đây là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công Ước Luật Biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.
Công Ước Luật Biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công Ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công Ước Luật Biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công Ước nầy đòi hỏi các quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản. Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công Ước Luật Biển 1982.
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fdata.vietinfo.eu%2FNews%2F2016%2F07%2F10%2F240325%2F500_thumb.jpg&t=1470836543&sig=sia2k6ZyVAr7Thdz5zPiTQ--~C
Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công Ước Luật Biển 1982 chủ yếu:
1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền này không phải là tuyệt đối vì tàu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tàu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.
2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..
3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tàu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.
4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.
5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.
6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công Ước Luật Biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.
7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.
8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.
9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “công bằng và hợp lý” đầy đủ những lợi ích hợp pháp.
10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công Ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà Án Quốc Tế Về Luật Biển. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.
Sau khi Công Ước Luật Biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công Ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển. Toà án Luật Biển Quốc Tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công Ước.
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fwww.vietnamhumanrightsdefenders.net%2Fwp-content%2Fuploads%2F2016%2F01%2FHoi_dong_bao_an.jpg&t=1470836543&sig=QKalDw2YwPnFAA6ym0BoNQ--~C
công ước 1982 -LHQ
Tham gia Công Ước Luật Biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.
Thế nhưng Trung Cộng lại không thi hành Công Ước Luật Biển năm 1982. Đường Lưỡi Bò 9 Đoạn bao trọn bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên Biển Đông là quần đảo Hoàng Sa, Quần đảo Trường Sa, quần đảo Đông Sa và bãi Macclesfield với khoảng 75% diện tích mặt nước của biển Đông, chỉ còn lại khoảng 25% cho tất cả các nước Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, và Việt Nam, tức mỗi nước được trung bình 5%.
Trong năm 2012, bãi cạn Scarborough, một bãi đá nằm cách bờ biển Philippines tầm 124 hải lý và hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này đã trở thành mục tiêu tranh chấp căng thẳng và kéo dài giữa Trung Cộng và Philippines. Bãi cạn Scarborough nằm trong vùng biển mà đường chín đoạn đã vẽ.
Trong năm 2014, sau một thời gian TC kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam. Tháng 5 năm 2014, Trung Cộng đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực Biển Đông gần đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, nhưng CSVN chỉ phản đối cầm chừng cho có lệ. Ngày 25 tháng 6 năm 2014, báo chí Trung Cộng đã công bố bản đồ dọc có Đường Lưỡi Bò nhưng lần này bổ sung thêm một đoạn thành Đường Mười Đoạn.
Theo phân tích của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ 5 Tháng 12, 2014 thì Đường Lưỡi Bò của Hoa Lục có nhiều vấn đề không hợp lệ theo công pháp quốc tế nên không có cơ sở pháp lý.
 https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fstatic.new.tuoitre.vn%2Ftto%2Fi%2Fs626%2F2016%2F07%2F13%2Fson-tung-thu-minh-jpg-1468402938.jpg&t=1470836543&sig=dwD_GbCj0sLdtrwfUaVSqQ--~C
Chiếu theo công pháp quốc tế thì hải đảo là ụ đất phải nhô lên khỏi mặt biển khi thủy triều ở mực nước cao nhất. Nếu đạt đúng nghĩa là đảo thì những địa thể này chỉ có lãnh hải 12 hải lý mà thôi; trong khi đó vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của quốc gia duyên hải bao phủ 200 hải lý. Những mỏm đá ngầm, rạn san hô, bãi cạn, vào đảo nhân tạo mà Hoa lục đòi sở hữu đều không đạt tiêu chuẩn hải đảo thì không có quyền thiết lập lãnh hải.
Cùng chiếu theo công pháp quốc tế thì nếu thiết lập ranh giới quốc tế thì phải có đồng thuận với các nước trong khu vực.
Lưỡi Bò do Trung Cộng dựng lên như tảng băng khổng lồ trên Biển Đông bao trùm cả bờ biển Việt Nam. Khi tảng băng khổng lồ nầy chỉ lắc mạnh thì thủy triều sẽ nhận chìm lãnh thổ VN, xóa sạch trên bản đồ thế giới.
Hiểm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào, người dân trong nước và cả thế giới thấy nguy cơ đang rình rập! Thế mà bọn lãnh đạo CSVN có mắt như mù, có miệng ăn mà không có miệng nói, lặp đi lặp lại như con vẹt “hòa bình, hữu nghị”.
Ngày 5 tháng 4 năm 2011, Philippines gửi thư lên Liên Hiệp Quốc phản đối yêu sách Đường Lưỡi Bò của Trung Cộng ở Biển Đông, theo đó tuyên bố chủ quyền Biển Đông của Trung Cộng là "không có căn cứ theo luật quốc tế". Trung Cộng ngoan cố, không thi hành Công Ước Luật Biển 1982.
Ngày 22/2/2013, Philippines đã đệ đơn kiện Trung Cộng, theo đó yêu cầu Tòa Trọng Tài Thường Trực Quốc Tế (Permanent Court of Arbitration "PCA") xác định rằng yêu sách chủ quyền về "đường 9 đoạn" của Bắc Kinh là vô hiệu và vi phạm Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS).
Ngày 12 tháng 7 năm 2016, tại Tòa PCA ở The Hague, Hà Lan, đã chính thức tuyên bố bác bỏ Đường 9 Đoạn của Trung Cộng, yêu cầu rút lại chính sách này ngay lập tức.
Thẩm Phán tại The Hague tuyên bố những điều được ghi nhận trong bản phán quyết dày 497 trang được ghi nhận:
Trung Cộng không có "quyền lịch sử" đối với Biển Đông. Đường 9 Đoạn do Trung Cộng tự vẽ ra không phù hợp với Công Ước Liên Hợp Quốc Về Luật Biển.
Không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Trung Cộng. Trung Cộng không có quyền can thiệp vào quyền đánh bắt cá của ngư dân Philippines, đặc biệt là ở bãi cạn Scarborough. Trung Cộng gây thiệt hại đến hệ sinh thái quần đảo Trường Sa bằng các hoạt động như khai thác quá mức, xây đảo nhân tạo.
Trong bản phán quyết dài 497 trang, Tòa PCA cũng kết luận không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể mang lại vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Trung Cộng.
Theo bản tin của BBC: “Phán quyết của tòa PCA có hai điều quan trọng: thứ nhất, tòa bác bỏ yêu sách "chủ quyền về đường 9 đoạn trên Biển Đông" của Trung Cộng dựa theo "quyền lịch sử" và thứ hai, tòa xem xét "tư cách pháp lý" đối với những thực thể như "bãi đá ngầm, bãi đá và đảo" trong vùng biển nói trên.
Tòa kết luận rằng không một "thực thể" nào do Trung Cộng tuyên bố chủ quyền có đủ điều kiện xác lập "vùng đặc quyền kinh tế" theo Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982. Và theo quan điểm của tòa, những "thực thể" này phải được xem xét, đánh giá dựa trên "nguyên trạng tự nhiên" bằng "những chứng cứ lịch sử", chứ không phải dựa trên "hiện trạng".
Rõ ràng với phán quyết này, Biển Đông sẽ trở lại nguyên trạng như trước ngày Philippines kiện Trung Cộng ra tòa năm 2013…”.
Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra tuyên bố "Phán quyết của tòa PCA là đóng góp quan trọng cho mục tiêu chung nhằm giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng biện pháp hòa bình". Theo phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao John Kirby, "Phán quyết có tính ràng buộc pháp lý với cả hai phía và, Mỹ hy vọng Trung Cộng và Philippines tuân thủ các nghĩa vụ của mình."
Trong khi đó, Tập Cận Bình đã ngoan cố với cái Lưỡi Bò "Chủ quyền của Trung Cộng ở Biển Đông không bị ảnh hưởng bởi phán quyết của tòa PCA."
Người dân Philippines xuống đường ủng hộ phán quyết của tòa PCA và giới truyền thông phổ biến rộng rãi trước công luận.
Trong khi đó, như đã đề cập ở trên, trước hiểm họa của Đường Lưỡi Bò của Trung Cộng với đất nước, Việt Nam phải kết hợp cùng Philippines nhưng bọn lãnh đạo lại quá hèn, không dám đứng ra kiện!
Trước kết quả với phán quyết của Tòa Trọng Tài Thường Trực Quốc Tế, người dân trong nước biểu tình ủng hộ thì bị công an, mật vụ và tay sai côn đồ CS ra tay đàn áp dã man!
Tại Hà Nội, Sài Gòn và vài nơi khác, người dân biểu tình ôn hòa với các biễu ngữ: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”, “Yêu nước là phải khởi kiện Trung Cộng”, “Việt Nam xấu hổ với Philippines”, “Ủng hộ phán quyết của Tòa Án Quốc Tế”... những biểu ngữ ngữ nầy nói lên tinh thần dân tộc trước âm mưu thôn tính Biển Đông của Trung Cộng.
Cấm quyền CSVN không dực vào tinh thần dân tộc tự quyết của người dân để dấy lên phong trào cắt ách Lưỡi Bò lại vô cảm quay ngược lại “cắt lưỡi người dân yêu nước”.
Theo nhận định của Nguyễn Thị Cỏ May kết luận trong bài viết Luật Pháp & Lý Lẽ Của Du Côn: “Bản chất của Cộng Sản là bạo lực và dối trá. Quyền lực phát xuất từ khẩu súng. Mà ngày nay, Trung Cộng chẳng những đã mạnh về súng đạn, mà còn có nhiều tiền, là cường quốc thứ nhì thế giới thì có gì họ không dám làm?
Tử tế lắm, họ sẽ dịu lại để tỏ bộ mặt ôn hòa, rồi từng bước nhỏ tiến hành tiếp tục thực hiện dự tính của họ thôn tính trọn Đông Nam Á, tránh những xung đột không cần thiết, để sau cùng làm chủ thế giới. Theo chiến thuật cố hữu “đánh đánh, đàm đàm”.
Về phía Việt Nam, tình hình có thuận lợi nhưng Hà Nội vẫn không thể chọn con đường nào khác hơn chủ nghĩa xã hội và bám sát đít Bắc Kinh. Sẵn sàng đàn áp nhân dân để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa hơn là bảo vệ quyền lợi đất nước dân tộc. Cộng Sản xưa nay không có riêng Tổ Quốc.
Mọi việc chắc chắn sẽ không có gì khác hơn nếu không có ai tuân hành phán quyết của Tòa Án Thường Trực Trọng Tài một cách cụ thể hơn. Công pháp quốc tế chỉ hợp thức hóa những hành động du côn”.
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fsongmoi.vn%2Fsites%2Fdefault%2Ffiles%2F550x308xanchinh_phil.jpg%2Cq1400259863.pagespeed.ic.HHDIhCnGFb.jpg&t=1470836543&sig=CWjRn404glDVyiu0qLtuKQ--~C
Dương Khiết Trì (Yang Jiechi), cựu bộ trưởng Ngoại Giao Trung Cộng (2007-2013) đã viết một bài về vấn đề này, tựa đề: “Không cần phải đánh Việt Nam chúng nó!” mà theo nhận xét của Ký Thiệt thì “Lời sẽ sống sượng và đểu cáng như một tên thảo khấu. Tuy nhiên, hình như những gì hắn nói là sự thật. Một sự thật không ai có thể chối cãi. Một sự thật bàng hoàng. Một sự thật như lưỡi dao nhọn đâm vào tim mỗi người Việt Nam yêu nước…”.
Vũ Đông Hà dịch và đăng trên blog của Dân Làm Báo ngày 28.6.2016.
Trích vài điểm chính
“Tại sao phải đánh chúng khi hơn 700 km2 vùng biên giới phía nam của ta đã được chúng dâng cho ta, một nửa Thác Bản Giốc đã được ta cắm cờ 5 sao, Ải Nam Quan đã trở thành Hữu Nghị Quan mà chúng vẫn cực kỳ coi trọng đại cục hữu nghị giữa hai đảng và nâng niu gìn giữ để trao lại cho những thế hệ mai sau của chúng…
Súng đạn nào mãnh liệt bằng phong bì tống vào miệng chúng để sau đó Đại Hán ta ngồi ngay trên nóc nhà Tây Nguyên, đào mồ xới mả đất Mẹ của chúng, thải chất độc vào môi trường của chúng và Bộ chính trị của chúng vẫn khăng khăng đấy là chiến lược đã quyết, là chính sách công nghiệp hóa hiện đại đất nước không thể ngừng…
Tại sao phải đánh chúng khi chỉ cần đóng đường biên giới là dân của chúng không đủ tiền mua quần áo mặc, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, xe dream và giấc mơ thấp hèn của chúng không còn chạy đầy đường, cắt xăng dầu là cả nước chúng tối đen và chỉ cần một cú nổ là Tây Nguyên của chúng sẽ nhuộm bùn đỏ.
Chúng ta không phải đánh, không phải bắn một viên đạn nào mà vẫn có thể làm sụp đổ thị trường chứng khoán của chúng, làm tán gia bại sản những tên đồng chí tư bản đỏ mà tài sản vốn liếng có được là nhờ vào và đang lệ thuộc vào nền kinh tế Trung Hoa made in Vietnam.
Cần gì phải đánh khi cả vùng biển mà chúng gọi là Biển Đông đã, đang và sẽ là sân nhà của chúng ta; khi ngư dân của chúng đi đánh cá trên vùng biển của tổ tiên chúng mà lấm lét như đi ăn trộm; khi hải quân của chúng không dám lai vãng trong suốt thời gian giàn khoan khủng của ta chậm chậm tiến vào và khoan vào lòng biển của chúng nó; khi sự chống trả của chúng là những lời tuyên bố đã trở thành trò hề trên sân khấu ngoại giao; khi phản đối của chúng là những cú điện đàm với lãnh đạo ta bằng cái điện thoại không cắm dây; và chúng ta chỉ cần đuổi chúng ra khỏi nhà của chúng bằng vòi rồng phun nước.
Cần gì phải đánh để chúng ta trở thành đạo quân xâm lăng và mang tiếng dưới mắt nhìn của thế giới, làm xấu đi hình ảnh yêu chuộng hòa bình của Đại Hán. Trong khi chúng ta đã từng bước trong hòa bình thành công thu tóm từng tấc đất, tấc biển, từng vùng đất, vùng biển của chúng bằng văn kiện do chính chúng ký kết. Trong khi chúng ta vô cùng hiệu quả trong tiến trình biến chủ quyền của chúng thành vùng tranh chấp, biến vùng tranh chấp thành vùng khai thác của ta và chúng chỉ dám vừa lên tiếng như chó sủa người qua đường vừa cúi đầu cam kết tất cả vì đại cục Việt-Trung.
Còn đối với dân của chúng
Cần gì phải đánh khi chúng thay thế ta ngăn chặn, trấn áp, bắt giam, bỏ tù dân của chúng đứng lên phản đối Đại Hán. Đánh chúng sẽ khơi dậy lòng yêu nước của dân tộc chúng vốn đã là sức mạnh vô biên từng đánh bại chúng ta hàng ngàn năm qua. Đảng của chúng đã tích cực giúp chúng ta tiêu diệt lòng yêu nước của dân tộc chúng trong suốt bao năm qua, đã biến đa phần dân của chúng thành những đàn cừu chỉ muốn sống trong hòa bình của một cuộc đời nô lệ. Chúng đang làm tốt!
Chưa bao giờ trong lịch sử bành trướng, chúng ta có được một đám thái thú địa phương làm tay sai đắc lực và hiệu quả như chúng. Khi chúng ta có mặt ở biển Đông ngay trước cửa nhà chúng, chúng đã ra lệnh hải quân của chúng không được bén mảng sợ làm phiền lòng ta. Khi cần đốt phá, cướp của, giết người để bôi đen những tên biểu tình yêu nước, công an mật vụ của chúng ngoan ngoãn nghe lời ta tạm lánh. Khi cần cấm ngặt từng tên yêu nước năng nỗ xuống đường phản đối chúng ta, chúng đã nhiệt tình như những con chó Tứ Xuyên quên ăn quên ngủ canh gác ngày đêm. Tại sao chúng ta phải đánh chúng và sau đó phải cai trị dân của chúng? Tại sao ta phải làm công việc đối phó với 90 triệu dân của chúng trong khi giống cẩu phương nam này làm giỏi hơn chúng ta?
https://ec.yimg.com/ec?url=http%3A%2F%2Fmedia.doisongphapluat.com%2F2014%2F06%2F17%2Fduong_khiet_tri.jpg&t=1470836543&sig=jIuJQp_4dR_fHcGQot1P6A--~C
Dương Khiết Trì
Chúng ta không cần đánh bởi chúng đã đánh dân của chúng thế chúng ta
Chúng ta cũng không cần phải cướp vì chúng đã tự cướp nước của chúng để dâng để bán và sẽ tiếp tục dâng, tiếp tục bán cho chúng ta. 
Khi cần chúng ta sẽ chuyển quân, kéo đại pháo, xe tăng chạy vòng quanh biên giới để giúp đảng của chúng nhân danh hòa bình, ngăn chặn hiểm họa chiến tranh mà trị đám dân muốn vọng động của chúng…
Người đứng đầu nhà nước ra lệnh cho dân của chúng rằng: “Đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống và góp phần cùng cả nước bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc theo đúng luật pháp của nước ta và luật pháp quốc tế….”
Chúng đã làm đúng bổn phận của một chư hầu trung thành với chính sách trị dân thuộc địa: hãy lo làm giàu và sống yên ổn. Dân của chúng chỉ được làm giàu và đó là phương thức duy nhất được cho phép để bảo vệ tổ quốc của chúng.
Không cần phải đánh
Cờ Đại Hán của chúng ta sẽ từ 5 sao thành 6 sao phất phới trên toàn cõi lãnh thổ của chúng. Không bằng súng đạn mà sẽ bằng những văn kiện ký kết từng phần giao nhượng. Văn kiện sau cùng là văn kiện chúng ta viết sẵn cho chúng để chúng xin ký kết được làm một vùng tự trị trong Đại Hán vĩ đại của chúng ta. (ngưng trích).
Thật là miệng lưỡi của kẻ lưu manh, mất dạy của bọn đầu trâu mặt ngựa cỡi trên Lưỡi Bò. Bọn cầm quyền CSVN nếu biết nhục mới là chuyện khó tin nhưng có thật!
Lão Trượng

0 comments:

Post a Comment

Bài Xem Nhiều

Bài Lưu Trữ

Quốc Kỳ-Quốc Ca Việt Nam



Còn Một Ngày Được Sống St: Trần Huân