Friday, 30 December 2016



Lần này bà V.H. Dương thong dong về nước, không vướng mắc bất kể một công chuyện lớn nhỏ, công tư gì hết, chỉ cốt thư thái được " Tôi như chìm trong tiếng Việt như rừng ", được " Mỗi sáng dậy nghe bốn bề thân thiết. Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi. Như vị muối chung lòng biển mặn.Như dòng song than thiết chảy muôn đời " thế thôi. Bù cho số phận xui xẻo ".. phiêu bạt nơi chân trời góc biển " chỉ được "... gọi thầm tiếng Việt mỗi đêm khuya ".
Lưu vong, bà có gì mang theo, ngoài kí ức và tiếng mẹ đẻ thân thương gắn bó từ thuở còn nằm nôi : "Nằm trong tiếng nói yêu thương Nằm trong tiếng Việt vấn vương một đời – Huy Cận " Cái mang theo lửa hương ấy, nguyện thâm nhiễm vẹn kiếp Còn giữ được tiếng nói, còn thiết tha thơ ca là còn bản ngã cháu con Lạc Hồng.
Bà luôn mặc cảm tội lỗi lưu lạc xa xứ - rặt nói tiếng của người ta trúc trắc cấu trúc ngôn ngữ Ấn-Âu, toàn suy nghĩ duy lí bằng ngôn từ phương Tây mà nữ sĩ Elsa Triolet lưu vong sang Pháp tự do, cùng châu lục đã ai oán rằng đàn bà " song ngữ " cứ như cái kiếp " song hôn " hai chồng cùng lúc, ôm ấp, ve vuốt một cái xác không hồn lạnh tanh ! Với bà, chỉ một "Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim "
Như bao người phiêu bạt, bà không sao hội nhập được hẳn vào cái xã hội bà đã cống hiến gần trọn đời trí thức, làm tròn nghĩa vụ công dân văn minh, nhưng xử sự vẫn không khác gì kẻ ngoại lai, bới vẫn cứ là " Tiếng trong trẻo hồn dân tộc Việt. " Bà cứ lơ lửng như con cá vàng ở giữa vùng đất khách xa lạ và quê hương yêu dấu chôn chặt trong tâm khảm , giữa thực tại tù túng, ngột ngạt và quá khứ mênh mang, đau đáu ,giữa hiện thực xô bồ và hoài niệm lãng đãng . ngăn cách bới một lằn ranh vô hình kí ức cực kì rạch ròi Cái kí ức không thể nào dứt ra được ấy chính là quê hương, ngoài nó ra chẳng còn gì khác nữa, là chống không. Những ai bạc phận phiêu bạt lại càng tha thiết với kí ức : " Tôi làm sao sống được, nếu xa Người. Như giọt nước đậu vào bụi cỏ, Như châu chấu ôm ghì bông lua. Người đẩy ra tôi lại bám lấy người. " "

Khác với lịch sử chinh qui đại tự sự, kí ức cứ mãi mãi nguyên dạng tiểu tự sự, chìm trong vô thức, bàng bạc trong đời sống, nhưng lại gắn bó với văn hóa .Nhớ, cho dù chỉ một kỷ niệm xa xôi, nhỏ nhoi, rất riêng tư, nhưng vẫn cứ dây chằng rễ má với những gương mặt mờ ảo, bàng bạc sự này việc kía trong không gian, thời gian ... Thế là thành mối nối kết bản ngã môi trường, quá khứ và hiện tại, cá nhân và cộng đồng, cái riêng và cái chung. Kí ức cá nhân lấp lánh ánh hồi quang cộng đồng là thế. Chiêm nghiệm vậy, bà đau đáu " Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mang nợ ", nhưng phận bạc đành cảm thán theo Lưu Quang Vũ : " Tiếng Việt ơi, tiếng Việt xót xa tình "
Xa quê hương, để giải tỏa nỗi khao khát được nghe tiếng mẹ đẻ thân thương " Nói muôn điều bằng ríu rít âm thanh " bà lần tới hầu hết các trung tâm âm nhạc của người Việt ở hải ngoại. Bà khoe là sưu tập gần như đủ các đĩa hát Ngọc Hạ.

Không diễn trò , không rống kĩ thuật thanh nhạc, Ngọc Hạ hát thật tự nhiên bằng hết biên độ âm vực rộng trong trẻo, quãng lớn mượt mà mà đưa người nghe trở về những giai điệu quê hương uyển chuyễn ngũ cung đậm sắc ca trù Mái đình làng biển của Nguyễn Cường, chầu văn Trên đỉnh Phù Vân của Phó Đức Phương, biến tấu hiện đại chất liệu dân gian Con cò mày đi ăn đêm của Lưu Hà An.
Năm đầu của thế kỉ , vừa tròn tuổi hai mươi nghị lực và hoài bão. Ngọc Hạ vượt đại dương với mơ ước ca hát trong lòng đồng bào hải ngoại khát khao một khúc dân ca quan họ, một câu hò Nam Ai, một điệu lí Có con ngựa ô. Nào ngờ, bị dội ngay nước lạnh tan tác ước mơ. Nhà văn đầy đủ tên, đệm và họ cùng một vần điệu phụ âm đôi Ng êm ái, vô cùng sành sỏi, tinh vi công nghệ ca nhạc hải ngoại, đã hết mực can gián. Cô gái mảnh mai Hội An, nặng giọng Quảng, không nhan sắc chim sa cá lặn, nhưng thông minh hiểu ra thâm ý lời khuyên bảo sâu sắc văn chương mà ra sức luyện tiếng
Tiếng ta đặc sắc sáu thanh âm trầm bổng, phong phú cách thức luyến láy, ghép vần nhịp nhàng , đụng vào là bật ngay ra khuôn âm đẹp Nhưng đấy cũng là cái tinh tế vô cùng, rất khó nắm bắt trong tiếng Việt với các vùng miền đàng trong :" Như nước gió không thể nào nắm bắt " Chuyên cần khổ luyện miết, Ngọc Hà đã cất lên được giọng hát xao xuyến " Dấu huyền trầm. dẫu ngã chênh vênh. Dấu hỏi dựng suốt muôn đời lửa cháy... " Song, để tạo nên thi tứ, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc : "Tiếng heo may gợi nhớ những con đường " , Ngọc Hạ phải luyện vần điệu truyền âm, thanh điệu tạo âm hưởng mà điều chỉnh âm lượng, ngắt hơi, chẻ nhịp qua các nhịp điệu bước thơ ca từ để biến những đặc sắc của tiếng nói thường ngày thành những âm giai chất ngất cấu tứ, ý tình, cảm xúc cho lời thơ tiếng hát truyền cảm, xao xuyến.

Đâu phải ngẫu nhiên Lê Đạt tự hào nhà thơ, có lẽ, là người yêu nước nhất, Họ sống chết với tiếng mẹ đẻ. Họ chăm chút thổi hồn vào từng tiếng thơ, làm cho nó biến hóa phi thường về âm sắc, ngữ điệu, hình tượng.. Mỗi khám phá nhà thơ biến tiếng nói thành khuôn âm ăm ắp tiết tấu, nhạc điệu bước thơ sắc nét dân tộc.
Tiếng nói là chất liệu chính, có trọng lượng nhất của thơ ca. Với thanh âm, vần điêu độc đáo, tiếng Việt tự tạo cho mình thể thơ yêu vận có một không hai cho riêng mình – lục bát. Thơ lục bát ưa bước thơ chẵn nhịp đôi đồng điệu tâm hồn dân tộc hiền hoá, chất phác, hướng nội. Chế thêm hai câu bảy chữ tạo dáng sang trọng, song thất lục bát của ta vẫn cứ giữ cái chủ đạo ngắt hơi chẵn nhịp đôi. Chinh phụ ngâm khúc Đoàn Thị Điểm chuyển ngữ ra tiếng ta song thất lục bát uyển chuyển, khiến nguyên bản chữ nho của Đặng Trần Côn không còn được mấy ai nhớ, nhắc tới. Trong thơ ngũ ngôn, tất phải một bước thơ chẵn, một nhịp lẻ. Nhưng khác hẳn Đường thi ngắt hơi chẵn trước, lẻ sau, thơ năm chữ của ta lại đưa bước thơ lẻ lên trước, lưu nhịp đôi lại sau, giữ cho âm hưởng bước thơ thư thái, lưu loát, quân bình, in như tâm hồn người Việt .
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã thuần hóa tuyệt vời bài thơ Đường tuyệt cú Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu ra lục bát. Cái tài thơ tiếng Việt của Tản Đà làm tiêu tan cái hàn lâm phách lối Đường thi trong nỗi bơ vơ, lạc lõng thân phận con người hiu quạnh giữa chốn nhân gian, lái nó vào dòng chảy theo lẽ tự nhiên nhẹ nhàng lục bát nhịp chẵn đôi thanh thoát : Hạc vàng/ đi mất/ từ xưa. Ngàn năm/ mây trắng / bây giờ/ còn bay/

Nhà thơ say Lý Bạch cùng thời cậy tài thi phú coi trời bằng vung không dám họa lại, chỉ vì Thôi Hiệu xuất chúng phá niêm luật nghiệt ngã Đường thi, sử dụng sáu thanh trắc liên hoàn trong một câu thất ngôn thần sấu : Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản. Nhưng câu kế tiếp. Bạch vân thiên tải không du du lại bình thường, làm hụt hẫng. Vũ Hoàng Chương ngang nhiên phóng bút nhịp lẻ trước, bước thơ chắn sau, giữ được cái sang thất ngôn, nhưng lại mềm mại, mượt mà câu thơ tiếng Việt : Vàng tung cánh/ hạc đi/ đi mãi. Sang câu sau, vụt đảo phách toàn nhịp lẻ : Trắng/ một màu mây/ vạn vạn đời. để nhấn rõ cái ý hạc trắng - " Hai con hạc trắng bay về bồng lai – Thế Lữ ". Hoàng hôn nhuôm vàng chim hạc làm Thôi Hiệu lại ngỡ hạc vàng. Vũ Hoàng Chương lấy khung cảnh nắng vàng hoàng hôn xuống để nâng tầm thi tứ : Nắng vàng nâng cánh chim hạc trắng bay đi. Nhưng mây lưu lại màu trắng chim hạc mãi mãi...với người làm thơ. Thế nên, Thôi HIệu kết bằng một nỗi mòn mỏi đâu đâu : Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Tản Đà phải theo ý cho êm câu thơ : Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai, Còn Vũ Hoàng Chương mạnh mẽ nhât quyết nhịp điệu diệu kì bước thơ Việt : Đừng giục/ cơn sầu/ nữa/ sóng ơi

Hàng rong , có thể nơi nào trên thế giới cũng có. Nhưng tiếng rao thì chưa chắc, nhất là lối rao tiếng Việt ăm ắp các âm giai. Từ Huy cất giọng hát Tiếng quê hương ( không chỉ ) là câu ca dao ngọt ngào, là khúc dân ca dạt dào, là lời Bình Ngô đại cáo ( hào sảng ), ( mà còn ) là " tiéng rao đêm rao suốt tháng năm dài.
Thập niên 30 thế kỉ trước, từ Pháp sang, nghệ sĩ tạo hình F. Fenis không biết tiếng Việt, nhưng nghe tiéng rao đêm lại cảm nhận ra màu sắc hương vị toát lên từ những giai điệu kì diệu. Ông liền yêu cầu các học viên khóa đầu Trường mĩ thuật Đông Dương, trong số này có Tô Ngọc Vân sau trở thành danh họa, phác thảo bằng mực nho trầm mặc phương Đông, màu nước tươi tắn phương Tây những người bán hang rong cùng đồ lề, hàng họ, gánh gồng , thúng mủng đội đầu, cắp nách. F. Fenis tự tay ghi lời chú giải tỉ mỉ theo cảm xúc nghệ sĩ để đồng bào minh tường tận thanh âm những tiếng rao trên đường phố, theo kí âm trên khuông nhạc chi tiết cao độ, trường độ và cả cường độ, lột tả trung thực đầy đủ " tiếng rao trên đường phố Hà nội của người bán hàng rong "
Bà V.H. Dương cất công tới Trường viễn đông bác cổ của Pháp nài xin được làm phiên bản phi lợi nhuận, trưng trong tủ kiếng phòng khách. Khách tới chơi, bà mang ra khoe tiếng Việt quê hương bà như thế đó.

Yêu tiếng mẹ đẻ bao nhiêu, bà ghét cay ghét đắng cái đài truyền hình trong nước làm bẩn tiếng Việt bây nhiêu. Đến cái tên cúng cơm mà cũng vặn vẹo thành " Vê tê vê " cho ra cái vẻ " Việt Nam đồng " bắt quàng US dollard làm họ. Càng khua môi múa mép truyền truyền, càng lộ cái đuôi cáo dốt nát,
láo lếu với âm vị, từ vựng, câu cú. Tức khí , bà lẩy thơ cô giáo Trần Thị Lam: " Tiếng nước mình " sẽ đi về đâu, anh. Anh không biết làm sao em biết được Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau người trước Trả lời giùm " tiếng nước mình ‘ đi về đâu.
 Lê Lành
____________________
(*) thơ Lưu Quang Vũ

0 comments:

Post a Comment

Bài Xem Nhiều

Bài Lưu Trữ

Quốc Kỳ-Quốc Ca Việt Nam



Còn Một Ngày Được Sống St: Trần Huân