100 Côn đồ bẻ nát Thánh giá ở Đan viện Thiên An - Huế

Monday, 10 April 2017

Những chuyện có lẽ chỉ có ở Việt Nam



Những người coi tiền như rác
Theo cảnh sát cho biết, Nguyễn Thanh Bình đã từng phạm tội trộm cắp tài sản và ở tù. Hết thời hạn, được thả, hắn trở về địa phương tại phường Trường Thi thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, lấy vợ nhưng không có nghề nghiệp ổn định. Gần đây hắn xin làm lơ xe cho công ty Tuấn Thủy, chuyên chạy tuyến Vinh – Hà Nội (khoảng 280 km).
Đã nhiều lần gã lơ xe Nguyễn Thanh Bình nhận gói hàng từ vị khách ở thành phố Vinh nhờ nhà xe đưa tới một tiệm vàng ở Hà Nội, Bình nghi bên trong có tiền nên chờ cơ hội ăn trộm.
Biết thông lệ, đến ngày 15/2 người ở Vinh sẽ gửi gói hàng, Bình lập mưu trộm cắp bằng cách rủ thêm Cao Ngọc Dương (28 tuổi, ngụ tại TP Vinh) tham gia. Ngày 14/2, hắn vờ trình bày với chủ xe rằng gia đình mình có việc riêng, xin nghỉ phép vài ngày.
Khoảng 19h ngày 15/2, khi xe khách Tuấn Thủy chạy tới chỗ cây xăng ở đường Lệ Ninh (TP Vinh) thì bà Phạm Thị Miên (48 tuổi) ở Vinh đem bọc hàng tới gửi chủ xe là chị Trần Thị Hải Yến. Việc giao nhận diễn ra rất đơn giản vì là khách quen, gói hàng được chị Yến bỏ vào chiếc thùng sắt phía sau ghế của tài xế ngồi.
Khoảng 21h, xe rời cây xăng, tới khu vực trước cổng Nhà ga Vinh để đón khách. Trong đám đông hàng chục hành khách chen lấn nhau lên xe, có Nguyễn Thanh Bình đóng giả làm người mới bị tai nạn giao thông. Hắn đeo khẩu trang, băng bó khắp trán, đeo kính và đội mũ lưỡi trai, luôn vờ rên rỉ kêu đau và được Dương đóng giả người thân, dìu lên xe.
Dương nói với chị Yến rằng “người nhà” của y quê ở Thanh Hóa, vào Nghệ An chơi thì gặp tai nạn giao thông, hiện đã được băng bó tạm thời, vết thương đang đau đớn nên muốn được ưu tiên ngồi ghế đằng trước gần tài xế, xe chạy cho êm. Được chủ xe đồng ý, Bình lúc này chỉ chờ cơ hội để bật nắp chiếc thùng sắt mà hàng ngày hắn đã quá thành thạo, lấy đi bọc hàng.
Dăm phút sau khi cuỗm thành công gói hàng, Bình kêu chóng mặt, nói không thể ngồi xe nên “người thân” dìu xuống xe, nói rằng sẽ đưa tới cơ sở y tế gần đấy để nhờ băng bó lại.
Khoảng 6 tiếng đồng hồ sau, xe tới bến Mỹ Đình, Hà Nội, chị Yến mở nắp thùng sắt lấy bọc hàng giao cho người thân của bà Miên đang chờ ở đấy thì phát hiện gói hàng không còn nữa. Lúc này chị Yến mới biết bọc hàng có giá trị tới 6,1 tỷ đồng, gồm: 220.000 đôla Mỹ; 600.000 Baht Thái Lan; 921.000 Yên Nhật; 669.300 đôla Đài Loan.
Công an thành phố Vinh, kể: Việc tìm thủ phạm lấy bọc tiền trong vụ án này rất khó, vì xe không có camera, chiếc thùng sắt nơi để bọc tiền không có khóa và ở ngay phía bên trên rất gần cửa xe.
Các điều tra viên nghi ngờ thủ phạm “phải là người quen với nhà xe và biết trước về bọc tiền” chứ không phải kẻ gian tình cờ vớ bẫm. Nếu là kẻ gian thì nó lấy cái gói bằng giấy dầu bỏ trong chiếc thùng sắt cũ kỹ không có khóa dùng để đựng ba thứ kìm, mỏ lết làm gì? Đối chiếu với thông tin nhà xe cung cấp, rằng hôm xảy ra vụ mất trộm thì người lơ xe tên Nguyễn Thanh Bình nghỉ làm, trinh sát bắt đầu “quan tâm” đến Bình. Câu chuyện về người đàn ông bị tai nạn giao thông lên xe rồi bất ngờ xuống xe trước lúc khởi hành cũng được coi là tin tức quan trọng và cảnh sát tình nghi thủ phạm chính là Bình và bạn của y.
Một ngày cấp tập truy tìm manh mối thì ngay đêm hôm ấy, cảnh sát hình sự thành phố Vinh nhận được tin báo có hai băng nhóm côn đồ mang súng và hung khí, hẹn nhau tại cây cầu ở phường Vinh Tân để sẽ “huyết chiến” với nhau. Cảnh sát bèn tổ chức lực lượng bao vây từ hai đầu, bắt trọn cả hai nhóm để ngăn chặn sự việc, đem về đồn. Trong số những kẻ bị bắt có Dương cùng các hung khí thu được là hai khẩu súng AK cưa báng, một khẩu súng tự chế, các hung khí khác như dao, mã tấu, ống tuýp sắt cùng nhiều viên đạn.
Sau 15 giờ đồng hồ tên Dương “đấu trí” hết sức cứng rắn với nhân viên điều tra, cuối cùng hắn đành thừa nhận đã cùng Bình gây ra vụ trộm gói tiền trên chiếc xe khách Tuấn Thủy đêm 15/2/2017. Thu thập thêm chứng cớ, ngày hôm sau, cảnh sát bao vây, bắt Bình tại Vinh khi anh ta đang gói tiền để chuẩn bị đón xe ra Hà Nội bỏ trốn. Khám xét nhà riêng của hai nghi can, cảnh sát thu lại được toàn bộ số ngoại tệ tang vật nói trên.
“Bình tự tin với kịch bản hoàn hảo của mình nên ung dung cất tiền tại nhà, không cần tẩu tán. Còn tên Dương thì quen thói côn đồ, mới đêm hôm trước ăn cắp, ngay tối hôm sau đã đi đánh lộn, “huyết chiến” với bọn du đãng”. Công an điều tra nói trong đời làm công việc điều tra, họ chưa từng thấy ai đem gửi xe đò cái bọc hơn 6 tỷ đồng không cần có người đi theo mà chính chủ xe cũng không biết đó là bọc gì, bỏ đại vào chiếc thùng sắt đựng đồ, coi như chẳng đáng gì cả.
“Kim bài miễn tử”
Tháng 4/2016, Đào Thị Thu Thảo, giám đốc chi nhánh của một công ty lớn ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bị khởi tố vì đã thuê người mua máu của người bị nhiễm HIV để truyền cho con riêng của tình địch. Tuy nhiên, Viện Kiểm sát Nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, có kết luận của Hội đồng giám định là bà Thảo bị tâm thần nên Viện Kiểm sát đã đình chỉ điều tra theo luật định.
Vụ này gây xôn xao trong dân chúng rằng, bây giờ hình như cái giấy chứng nhậrở thành loại giấy “miễn tử” cứ hễ phạm tội là dùng, nhẹ hay nặng đều được… ngưng điều tra do tâm thần nếu có tiền. Hội đồng giám định, Viện Kiểm sát Nhân dân, rồi Tòa án, tất cả đều bắt tay nhau “theo luật định” như vậy thì công lý ở đâu?
Đầu năm 2014, Đào Thị Thu Thảo nhận được tin cho biết “bạn trai” của mình có quan hệ tình cảm với một phụ nữ tên NTL ở TP Vũng Tàu, người này có một đứa con gái riêng tên là H.
Khoảng một tháng sau, liên tiếp nhận được các tin nhắn như vậy, Thảo thân hành từ Bà Rịa-Vũng Tàu vào Sài Gòn gặp hai tay anh chị đã từng ra tù vào khám tên Nguyễn Văn Linh và Huỳnh Văn Thế (do Linh rủ) để bàn định kế hoạch mua máu của người nhiễm HIV chích vào mình cháu H.
Thảo cho hai tay anh chị nói trên biết Ngày thiếu nhi 1-6, công ty nơi chị NTL làm việc sẽ tổ chức tiệc cho trẻ em và con cháu các nhân viên. Theo kế hoạch của Thảo, bà ta đưa trước một số tiền để hai gã này sắm quần áo lịch sự để ăn mặc cho khác đi, đồng thời mua mấy con thú nhồi bông, làm như khách tới dự, tiếp cận rồi tìm cách chích máu nhiễm HIV vào người cháu bé.
Làm theo kế hoạch, sáng 1-6 Thế sang Quận 4 thật sớm mua một xi-lanh máu của người nhiễm HIV với giá 1 triệu đồng, rồi cùng Linh chạy xe máy ra Vũng Tàu. Tuy nhiên, hôm đó không hiểu vì lý do gì, cháu H. không đến.
Hôm sau, chị NTL trước khi đi làm, dùng xe Honda đưa cháu H. đi học. Hai tên này áp sát lại, tên Linh giữ chặt chị L. và cháu H., còn tên Thế ngồi phía sau thì chích thật mau máu có HIV vào chân cháu H. Cháu H. kinh hoảng khóc thét. Gây án xong, hai tên phóng xe tẩu thoát.
Về đến nhà nghỉ, Linh gọi điện thoại báo cáo, Thảo yêu cầu đem ống chích kèm theo kim tiêm đến cho mình xem xét. Kiểm tra xong, Thảo trao cho Linh 120 triệu đồng như đã giao kèo và giục hai tên này mau chóng trở về Sài Gòn để sự việc khỏi bị bại lộ.
Cháu H. được gia đình đưa ngay đến bệnh viện tiêm thuốc chống phơi nhiễm HIV và điều trị kịp thời nên may mắn không mắc bệnh. Chị NTL nghi ngờ Đào Thị Thu Thảo là kẻ chủ mưu nên tố cáo với công an. Từ Đào Thị Thu Thảo, công an điều tra ra hai tên Linh, Thế. Hai tên này bị bắt và cả ba bị truy tố ra tòa.
Tuy nhiên, ông Vũ Xuân Rồng, phó Viện trưởng VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (người ký cáo trạng và ký quyết định đình chỉ bị can đối với Thảo), cho biết Thảo có kết luận của Hội đồng giám định tâm thần nên VKS đình chỉ điều tra theo pháp luật.
Thảo được đình chỉ không bị điều tra, vụ án không còn đầu mối, như vậy hai tên Linh và Thế coi như cũng trắng án. Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là, thuê hai tên anh chị chích máu nhiễm HIV cho một đứa trẻ, “bà giám đốc” giàu có Đào Thị Thu Thảo sẵn sàng bỏ ra 120 triệu đồng, vậy thì “chạy” cái giấy tâm thần để vụ án được xóa sạch, “bà” sẵn sàng bỏ ra bao nhiêu tiền… theo luật định? Con kiến mà kiện củ khoai. Đặt ra cơ quan này cơ quan nọ kêu đôm đốp cho vui vậy thôi chứ thực tình, làm quan tòa “ngon” hết chỗ nói!
Người đàn ông có tính “gia trưởng”
Lấy phải người chồng ẩu tả, làm đâu bỏ đấy là một cái khổ. Nhưng lấy phải người chồng quá kỹ cũng không sung sướng gì. Bởi vì người quá kỹ, quá cẩn thận thường hay có tính “gia trưởng”, ít khi bằng lòng với người khác. Khổng Tử nói cứ trung dung là tốt hơn cả.
Bà Tư người Sài Gòn rất hài lòng về ôngThành. Cách ông nấu phở khiến bà hết sức yên tâm. Nồi nước dùng gồm xương bò và xương heo đã cạo thật sạch thịt hoặc mỡ bám, ông đun vừa sôi thì đổ hết nước đi, sau đó cho nước lã vào đun lại cùng với vài cánh hoa hồi và một củ gừng nướng. Làm như thế nồi nước dùng sẽ trong và thơm chứ không hôi mùi mỡ. Bốn giờ sáng ông dậy nướng vàng 10 con sá sùng khô. Sá sùng là gọi theo tiếng Tàu, tiếng Việt là “sa trùng”, một loại trùng giống như con giun nhưng sống trong cát ướt ở bãi biển, rất quý, ngày trước thường dùng để tiến vua, bây giờ cũng có khá nhiều trong các bãi biển từ Nha Trang ngoài Trung ra tới Quảng Ninh ngoài Bắc, nhưng giá tương đối mắc, tới hơn 3 triệu đồng/1 kg khô. Nấu phở theo kiểu Hà Nội người ta thường cho sá sùng hoặc nếu không có thì tôm tươi bóc nõn – cho vào cái túi vải mỏng, bỏ vào nồi nước phở. Con sá sùng độ đạm rất cao, nó làm ngọt nước dùng bằng đạm tự nhiên chứ không phải bằng bột ngọt.
Trên bàn ăn của khách luôn có 7 thứ gia vị: chanh, giấm, tương ớt, ớt tươi, đường, bột ngọt và bột nêm. Ông nói đó là tính “dân chủ” về gia vị, ai muốn ăn thứ gì thì ăn chứ nhà hàng không áp đặt. Đặc biệt, ông rất chú ý đến vệ sinh. Cuối ngày, cái thớt và con dao thái thịt tuy đã rửa sạch nhưng ông vẫn phủ một lớp muối dày để con gián, con chuột không mò vào. Ông nói nhiều khi khách ăn bị đau bụng không phải do cái nồi nấu phở hoặc bát đũa không sạch mà do dao thớt không được tiệt trùng.
Trên bếp lò ông luôn đặt một nồi nước sôi lớn để nhúng bát chén. Bát sau khi rửa được bỏ vào nồi nước sôi rồi mới vớt ra đựng phở cho khách. Như thế là bát đó được tiệt trùng và còn rất nóng. Ông nói phở có thật nóng thì mới ngon và mới dậy mùi. Tiệm phở của bà Tư “xài sang”, dùng toàn loại đũa ăn một lần rồi bỏ, đấy cũng là theo ý kiến của ông Thành.
Ngoài phở bò, nhiều khi khách muốn ăn phở gà. Cách làm thịt gà của ông Thành cũng rất cẩn thận. Làm lông, mổ moi dưới bụng gà và rửa sạch xong, ông Thành xát muối vào da gà, để 1 giờ rồi rửa lại, đem luộc bằng cái nồi riêng chứ không bỏ chung vào nồi nước dùng. Ông nói làm như thế mới giữ được hương vị riêng của thịt gà.
Chính nhờ sự kỹ lưỡng và rất chuyên nghiệp của ông Thành mà tiệm phở của bà Tư hết sức đông khách. Càng ngày bà càng nhận thấy không thể sống thiếu người đàn ông này được. Là người miền Nam, quen với lối sống thực tế nên bà Tư không quá kỹ tính. Trong chuyện gian díu, bà chỉ cần hai người cảm thấy thoải mái là được chứ không câu nệ bất cứ điều gì. Chính vì thế, ngoài mặt thì ông Thành và bà Tư giống như người làm thuê và bà chủ tiệm, nhưng trên thực tế, họ đã sống với nhau như vợ chồng từ khá lâu rồi.
Một hôm, bà Tư nói với ông Thành: “Anh với em sống chung như thế này mãi thì kỳ quá. Em tính chúng mình nên ra phường đăng ký kết hôn cho danh chính ngôn thuận”. Ông Thành đồng ý: “Bà cu ky, tôi cũng cu ky mặc dầu ai cũng có con cái đã lớn. Chẳng ai ngăn cản chúng ta ra phường làm giấy hôn thú, vậy thì ta đến làm cho tiện mọi đằng”.
Thế là ông Thành từ địa vị một nguời làm thuê ăn công, chính thức trở thành chồng của bà Tư, tức thành ông chủ của một tiệm phở khá nổi tiếng tại Sài Gòn này.
Tuy nhiên, mọi việc rắc rối có lẽ cũng bắt đầu từ chuyện thay đổi vị trí nói trên. Nếu như trước đây bà Tư có điều gì khiến ông Thành không vừa ý, ông chỉ bực bội ngầm trong bụng rồi dần quên đi. Bây giờ thì khác, ông la mắng, quát nạt đúng theo “tôn chỉ” của một người chồng khó tính đối với người vợ hiền lành.
Cuối ngày, ông sắp xếp dụng cụ làm bếp rất cẩn thận, dao thớt để ở đâu, muôi lớn (trong Nam gọi là cái vá), muôi nhỏ để ở đâu, các lọ gia vị để ở đâu…, tất cả đều được sắp đặt rất ngăn nắp và cố định. Làm như thế khi cần dùng thì không phải mất công tìm kiếm.
Còn bà Tư thì không như thế. Dụng cụ nhà bếp dùng xong bà tiện đâu bỏ đó, nhiều khi dùng phải đi tìm rất mất công. Ông Thành thường la: “Bà ăn gì mà khó nói thế? Đồ làm bếp tôi sắp đặt chỗ nào thì phải để đúng chỗ đó. Bà cứ tiện đâu vứt đấy, lúc cần, tìm hụt cả hơi! Chỉ một việc đơn giản như vậy mà bà cũng không biết nghe theo”. Bà Tư đã bị la nhiều lần nên đâm bực, vặc lại: “Tui lỡ bỏ quên thì ông cất đi giùm chớ đâu có sao? Ông cứ la tui “ăn gì, ăn gì” làm như tui là con chó không bằng”. “Nhưng bà bừa bãi quá tôi chịu không nổi. Dạy mãi, dạy mãi mà vẫn cứ ngu”. “Có ngu thì tui mới lấy ông chớ nếu không tui sống với hai đứa con tui cho khỏe!”. “Đó, bà sống với con bà đi! Tôi không cần!…”. “Chính ông phải ra khỏi nhà mới đúng, tiệm phở này tên tui, đâu có tên ông!…”. Đến đấy thì ông Thành im miệng, bởi vì hộ khẩu của ông ở ngoài Bắc, ông không nêu được lý do xin chuyển vào trong Nam nên chỉ mới có giấy xác nhận di trú tạm thời KT3, nếu ông có lỗi, CAND phường có thể trục xuất bất cứ lúc nào cũng được.
Một điều ông Thành ớn nhất là bà Tư rất quý mèo. Bà có một con mèo trắng rất đẹp, ngày nào cũng cho nó ăn thật ngon, lúc rảnh thì vuốt ve, nựng nịu nó như nựng đứa con nít. Con mèo cũng quý chủ, nó thường lim dim mắt, cựa đầu cánh tay chủ để được bà chủ cưng.
Những lúc ấy ông Thành rất bực, ông la: “Bà làm như thế khách họ tưởng tiệm này ai cũng mất vệ sinh như bà thì còn ai dám đến ăn nữa? Đem nó vào trong nhà, không được cho nó ra ngoài này”. Riết rồi ông Thành trở thành ông chủ còn bà Tư trở thành người hầu. Bà sợ ông như cọp.
Một hôm, ở trong bếp, ông Thành mới nghỉ tay, pha được phin cà phê định uống thì con mèo nhảy nhót bắt gián thế nào làm đổ hết ráo. Ông bực, vớ được chiếc chày đập nước đá bèn đập lên đầu cho nó một cái. Con mèo còn nhỏ, kêu “oéo” một tiếng rồi lăn ra giãy giụa, chết ngắc. Bà Tư kinh hoảng, vừa thương xót vừa tiếc con mèo nhưng không dám nói gì, chỉ chậm nước mắt khóc. Bà kiếm một chiếc hộp đẹp, bỏ xác con mèo vào trong đó rồi thuê mấy đứa nhỏ đem đi kiếm chỗ chôn.
Từ hôm ấy, ban đêm ngủ trên lầu một mình bà Tư thường mơ thấy ông Thành cầm chiếc chày nện vào đầu mình giống như ông đập con mèo, lăn ra chết ngắc y hệt con mèo. Bà hoảng sợ, ngồi dậy bật đèn, mồ hôi toát ra như tắm, không sao ngủ lại được nữa.
Từ đấy bà Tư sinh chứng mất ngủ. Ban đêm nằm nghĩ lẩn thẩn, bà thấy sống với ông Thành như vậy không được, lúc bực lên ổng có thể đập chết mình như chơi. Bà bèn lẳng lặng dọn đến ở nhà người con gái, chơi với các cháu ngoại.
Đối với ông Thành, mỗi lần bà Tư giận đến ở nhà người con gái ông coi là chuyện bình thường. Mọi công việc trong tiệm phở vẫn diễn ra đều đều vì có bà người làm và mấy người giúp việc, bưng phở, rửa bát chén. Ông chỉ ngán có thằng con trai của bà Tư thôi. Trông nó có vẻ du đãng, cao lớn, khỏe mạnh, ngoài 30 tuổi rồi mà chẳng có vợ con gì cả. Không biết nó làm nghề gì nhưng có vẻ có tiền, ông chưa thấy nó xin hoặc mượn tiền bà Tư bao giờ cả.
Một hôm, ông Thành thấy con trai bà Tư kéo một lũ bạn cỡ bốn năm đứa đến tiệm phở. Thằng nào trông cũng có vẻ cô hồn, áo banh ngực, xâm trổ đầy mình. Chúng để một chai có lẽ rượu tây lên bàn cái cộp rồi kêu một con gà luộc, một dĩa bò tái nhúng giấm, một dĩa vè, một dĩa nạm, một tô xí-quách…
  • “Thiếu gì tiền mà phải ăn xí-goách, tụi bay! Đây là tiệm nhà tao. Tao bao, trả tiền đàng hoàng, coi như mời tụi bay lần cuối trước khi tao giết thằng cha đó rồi sẽ vào tù”.
Cứ hễ thằng con trai bà Tư đến nhậu hay ăn phở là ông Thành tránh mặt, ở luôn trong bếp chứ không dám ra ngoài. Bữa nay thấy nó nói một câu hơi lạ, ông để ý nghe. Hơn nữa tụi nó lại ngồi ở hai cái bàn kê sát lại với nhau gần ngay lối vô trong bếp và chúng chuyện trò lớn tiếng nên ông nghe rất rõ.
Hình như một thằng can ngăn:
– Thôi anh Ba, anh không cần phải ra tay, để đấy tụi em “xử” thằng chả. Tụi em lụi cho thằng chả một dao vào buổi tối không ai biết đâu. Nếu bị bắt, em khai tại tụi em say rượu…
Hình như thằng Ba vỗ tay xuống bàn:
– Anh giận lắm, phải chính anh giết thằng chả anh mới vừa lòng. Thằng chả làm công, đi nấu phở mướn chớ có là cái gì đâu. Tại má anh thương chả, lấy thằng chả làm chồng. Hai chị em anh đã không nói gì, bây giờ thằng chả làm phách, quát nạt má anh, đuổi má anh đi thì anh phải giết thằng chả mới đã nư giận, rồi anh vô tù cũng cam lòng.
Hình như bọn chúng thì thầm bàn tính kế hoạch. Ông Thành kinh hoàng. Một thân một mình nơi cái đất Sài Gòn này, nếu bị chúng đâm chết như lời chúng nói thì ai biết đấy là đâu.
Ngay tối hôm ấy ông Thành gọi điện thoại cho bà Tư, giọng rất sợ hãi, giục bà về ngay lập tức có việc cần. Bà Tư về, ông kể cho bà nghe từ đầu đến cuối chuyện thằng con trai bà bàn tính với mấy đứa bạn du đãng định giết ông, rồi kết luận: “Tôi phải đi thôi, không thể ở đây được nữa, tụi nó đang âm mưu định giết tôi…”. Bà Tư đấm ngực kêu trời: “Mèng ơi, sao thằng con tui quá tệ vậy kìa? Từ trước tới nay nó hiền lắm mà, đâu có đụng tới ai bao giờ…”. “Hiền cái gì, đến lúc nó giết tôi chết, nó vô tù bà mới sáng mắt ra biết nó không hiền”. Bà nhìn ông, thương hại: “Rồi ông tính sao bây giờ?”. “Tôi đi ngay, không dám ở đây một ngay nào nữa”. “Nhưng tui với ông có giấy hôn thú…”. “Thì xé giấy hôn thú đi. Tôi với bà không còn duyên nợ, có tờ hôn thú nào đem đốt hết đi rồi làm giấy cam kết không làm phiền gì nhau nữa. Tôi sẽ về Bắc chứ đợi xin tòa án cho ly hôn thì lâu lắm, tôi sợ lắm”.
Và ông Thành đã làm như vậy.
Sau khi ông về Bắc, anh chàng con trai bà Tư mời lũ bạn đến tiệm nhà mình… ăn mừng. Lần này chúng cũng banh ngực áo nhưng không còn các hình xâm nữa:
– Tụi mày thấy phở tao nấu có ngon như thằng chả nấu không?.
– Ngon, giống y chang. Sao mày làm được như vậy?.
– Tại tao bắt chước thằng chả chứ còn gì nữa. Khách đâu có biết là thằng chả đã bỏ đi. Tao nấu một hồi, khi nào kiếm được người thay thế sẽ truyền nghề cho họ rồi về chung cư lo tiếp chuyện lớp dạy võ của tao.
– Mày thích dạy võ hơn nấu phở?
– Tất nhiên, “nghề của chàng” mà. Nhưng đừng đứa nào tiết lộ chuyện tụi mình “đóng kịch” với má tao kẻo má tao lại tội nghiệp thằng chả.
Đoàn Dự

0 comments:

Post a Comment

Bài Xem Nhiều

Bài Lưu Trữ

Quốc Kỳ-Quốc Ca Việt Nam



Còn Một Ngày Được Sống St: Trần Huân