Saturday, 10 June 2017

 Image may contain: 1 person, smiling, close-up

Đầu tháng 8, 2014, bạn tôi, nhà văn Trần Việt Hải VietHai Tran email bảo tôi viết một bài văn ngắn cho tuyển tập “Minh Đức Hoài Trinh: Chính Khi Của Người Cầm Bút” và sẽ giới thiệu nhân dịp sinh nhật 85 tuổi của bà. Bạn tôi sức khỏe rất yếu nhưng có lẽ là một trong số ít văn nghệ sĩ ở hải ngoại lo lắng cho đời sống văn học của giới văn nghệ sĩ đàn anh, đàn chị nhiều nhất như Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, Nhạc sĩ Anh Bằng, Giáo sư Lưu Trung Khảo, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh v.v... Thật buồn khi nhìn lại, những vị đó, hôm nay, đều đã ra đi. Rất dễ dàng nói về sinh lão bệnh tử, rất dễ dàng nói về có sanh có diệt, nhưng không dễ dàng nhìn những người mình quý trọng lần lượt ra đi. Xin đăng bài viết ngắn đó như một nén hương thành kính tiễn biệt nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh:
THƠ VỀ MẸ CỦA MINH ĐỨC HOÀI TRINH
Tôi bay qua cuộc đời này như chiếc lá. Mẹ tôi qua đời khi tôi còn rất nhỏ. Tôi không biết gì nhiều về mẹ ngoài những chuyện do cha tôi kể lại. Tôi không biết gì nhiều về mảnh đất miền núi cao của quê hương Quảng Nam nghèo khổ, mảnh đất đã từng chôn khúc nhau tôi.
Mười ba tuổi, tôi từ giã ngôi làng nhỏ bên dòng sông Thu Bồn ra đi. Từ đó đến nay, hơn 40 năm trong sa mạc cuộc đời đầy gian lao vất vả, tôi viết nhiều về mẹ. Me là những vì sao. Mẹ là dòng suốt mát. Mẹ là ngọn gió heo may. Tất cả rất gần gũi, thân thương nhưng cũng vô cùng xa cách.
Và như một lẽ tự nhiên tôi cũng rất quý những nhà văn, nhà thơ có những tác phẩm dành riêng để ca ngợi tình yêu thiêng liêng của mẹ, trong đó có nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh.
Mẹ ở phương nào chiều hôm qua
Trăng thương nhòa nhạt giải Ngân Hà
Mùa thu lá đỏ như mầu lửa
Ai có nghe tình ai thiết tha
(Hỏi mẹ, Minh Đức Hoài Trinh)
Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh là một trong những nhà thơ lớn của văn học Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20. Tên tuổi của bà không chỉ giới hạn trong lãnh vực thi ca nhưng gắn liền với cả một giai đoạn dài thăng trầm của đất nước.
Bà ôm ấp một ước mơ và khát vọng tự do cho dân tộc và lấy đó làm hành trang trên mọi ngã đường tranh đấu cho văn nghệ sĩ bị CS cầm tù sau 1975.
Có những ước vọng đã hoàn thành và cũng có nhiều dự tính bà chưa làm xong hết nhưng dù hoàn thành hay dang dở bà đã mở ra một con đường cho các thế hệ mai sau.
Nhắc đến thơ Minh Đức Hoài Trinh, độc giả thường liên tưởng đến "Kiếp nào có yêu nhau" hay "Đừng bỏ em một mình" nhưng với tôi, nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh là tác giả của những bài thơ về mẹ mà tôi vô cùng yêu quý. Đọc thơ bà tôi thấy mình vô cùng gần gũi, thân thương như tình cảm dành cho người chị cả trong gia đình.
Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ
Khi hoàng hôn đang chầm chậm bước chân
Đừng ngước mắt theo lũ chim về tổ
Khi trăng tàn nhẹ trải lối quanh sân.
(Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ, Minh Đức Hoài Trinh)
Hình ảnh một người con ở bên kia trái đất đang hình dung ngày tang của mẹ. Mẹ có biết chăng, đứa con thân yêu của mẹ đang ngồi tưởng tượng ra bàn tay của mẹ, tưởng tượng ra áng mây trời che mát cuộc đời từ nay bất hạnh, tưởng tượng ra khuôn mặt dịu hiền của mẹ đang nhìn xuống trần gian đầy lửa đỏ mà con đang ngụp lặn. Tiếng khóc của con như tiếng gào của con nai tơ vọng lại giữa mùa đông quạnh vắng ở quê người:
Dưới mộ sâu lạnh lắm
Một mình mẹ cô đơn
Ngày me chết con xa me muôn dặm
Ngày đưa me gió bấc rít từng cơn
(Khóc mẹ, Minh Đức Hoài Trinh)
Hay trong tận cùng đau nhức tưởng tượng những chiếc đinh đang ghim sâu vào quan tài của mẹ:
Hồn thân yêu ơi,
Trong quan tài chật chội
Có đau chăng khi búa nện đinh vang
Có nghe chăng đây lời kinh sám hối
Giọng ai buồn cắt đoạn nẻo trần gian.
(Khóc mẹ, Minh Đức Hoài Trinh)
Đọc thơ về mẹ của Minh Đức Hoài Trinh để thấy thương mẹ hơn và gần gũi với mẹ hơn:
Không, con chẳng muốn mẹ sầu,
Núi sông ai nỡ nhuộm màu nhớ thương,
Mái quê hương,
Chìm trong sương trắng lạnh
Cánh chim trời cô quạnh bơ vơ,
Mẹ ơi, biết đến bao giờ,
Gió đưa thuyền ngược lại bờ sông xưa?
Mái nhà ai còn rả rich tiếng đàn mưa . . .
(Gữi mẹ, Minh Đức Hoài Trinh)
Tất cả chúng ta ai cũng có mẹ dù mẹ còn hay mẹ mất nhưng mẹ trong thơ Minh Đức Hoài Trinh như Khóc mẹ, Hỏi mẹ, Gửi mẹ, Gục đầu bên mộ mẹ, Mẹ bảo ta đừng nhìn qua cửa sổ chuyên chở cả một đại dương mênh mông và sâu thẳm của tình yêu mẹ dành cho con và con dành cho mẹ:
Bình xác khô cằn cỗi
Cắm bông linh hồn tươi
Thượng Đế ơi, đường xuống mồ u tối
Xác còn đây, hồn đã tận muôn nơi
(Khóc mẹ, Minh Đức Hoài Trinh)
Với lòng ngưỡng mộ của thi sĩ đàn chị đi trước, kính chúc sinh nhật 85 thượng thọ của bà tràn đầy hạnh phúc và buổi giới thiệu tác phẩm Minh Đức Hoài Trinh: Chính Khí Của Người Cầm Bút gặt hái nhiều thành công.
Trần Trung Đạo
------------


Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh, một khuôn mặt lớn trong nền văn học Việt Nam trong và ngoài nước từ trước năm 1975 đến nay, là người thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, vừa qua đời tại Quận Cam, Miền Nam California, Hoa Kỳ, vào lúc 2 giờ chiều ngày 9 tháng 6 năm 2017, hưởng thọ 87 tuổi.

Theo trang https://minhduchoaitrinh.wordpress.com/, tiểu sử của nhà thơ như sau.

Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982.

Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học. Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam... Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.

Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de janeiro, Ba Tây vào năm 1979.

Bà đã dùng ngoài bút và khả năng của mình thường xuyên tranh đấu cho các văn nghệ sĩ bị cộng sản giam cầm phải được trả tự do, ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…

Nhà Văn Nguyễn Quang đã thực hiện 1 tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp Và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.” Nhà Văn Nguyễn Quang có đoạn viết: “Sau khi đọc quyển sách nầy người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam... Bà đã đi trên khắp 5 lục địa, bà đã vào những vùng chiến tranh lửa đạn...” Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.

Các tác phẩm của bà đã xuất bản gồm có:

Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

0 comments:

Post a Comment

Bài Xem Nhiều

Bài Lưu Trữ

Quốc Kỳ-Quốc Ca Việt Nam



Còn Một Ngày Được Sống St: Trần Huân